J. E. Cirlot – Con người

Con người coi chính mình như một biểu tượng trong chừng mực y ý thức về sự hiện hữu của y. Nghệ thuật Hallstatt, ở Áo, cho thấy những ví dụ tinh tế về những cái đầu loài vật với hình dáng con người hiện ra phía trên. Ở Ấn-độ, ở New Guinea, cũng như ở phương Tây, đầu bò đực hay đầu bò đực thiến với một hình thể con người được vẽ giữa các sừng là một mẫu hình rất thông thường. Vì bò đực là một biểu tượng cho cha-trời, nên con người từ đó được coi như con trai của cả ngài và trần thế (22), cũng như một khả thể thứ ba, con trai của mặt trời và mặt trăng (49). Những ngụ ý trong các bình luận của Origen: ‘Hãy hiểu rằng bạn là một thế giới khác trong bức hoạ vi tế và rằng trong bạn là mặt trời, mặt trăng và luôn cả những vì sao’, được tìm thấy trong tất cả những truyền thống biểu tượng. Trong tư tưởng bí truyền của người Moslem, con người là biểu tượng của sự tồn tại phổ quát (29), một ý tưởng đã tìm được cách đi vào triết học đương thời trong sự định nghĩa về con người như ‘sứ giả của hiện hữu’; tuy nhiên, trong lí thuyết biểu tượng, con người không được định nghĩa chỉ bởi chức năng (vốn dành riêng cho ý thức của vũ trụ), mà đúng hơn bởi sự tương đồng, do đó y được coi là một hình ảnh của vũ trụ. Mối quan hệ tương đồng này đôi khi được biểu lộ một cách rõ ràng, như trong một số tiết đoạn cổ hơn của UpanishadsBrihadaranyakaChandogya chẳng hạn – nơi sự tương đồng giữa cơ thể con người và đại vũ trụ [macrocosmos] được mô tả từng bước một bằng những phương tiện tương ứng với các cơ quan của cơ thể và các giác quan (7). Vậy, ví dụ, các thành phần của hệ thần kinh bắt nguồn từ vật chất bừng cháy, và máu bắt nguồn từ vật chất loãng (26). Những khái niệm đông phương này lần đầu tiên xuất hiện ở phương Tây trong thời kì Lãng mạn: Honorius xứ Autun, trong Elucidarium (thế kỉ 12) của mình đã tuyên bố rằng thịt (và xương) của con người bắt nguồn từ đất, máu bắt nguồn từ nước, hơi thở y bắt nguồn từ khí, và thân nhiệt bắt nguồn từ lửa. Mỗi phần cơ thể liên quan đến một phần tương ứng của vũ trụ: đầu tương ứng với những cõi trời, hơi thở tương ứng với khí, bụng tương ứng với biển, tứ chi tương ứng với đất. Năm giác quan có những tương đồng phù hợp với một hệ thống đã đến được châu Âu, có lẽ, từ những người Do-thái cổ và những người Hi-lạp (14). Do đó, Hildegard xứ Bingen, sống cùng thời kì ấy, đã tuyên bố rằng con người được sắp đặt theo con số năm: y gồm năm phần đồng đẳng theo chiều cao và năm theo vòng ngực; y có năm giác quan, và năm chi, vọng lại trong bàn tay thành năm ngón tay. Do đó sao năm cánh là một biểu tượng của tiểu vũ trụ [microcosmos]. Agrippa xứ Nettesheim đã mô tả điều này một cách sinh động, phỏng theo Valeriano, người đã rút ra sự tương đồng giữa ngôi sao năm cánh và năm vết thương của Đấng Christ. Cũng có một mối quan hệ giữa các luật cơ bản của Con người với đền thờ Cistercian (14). Fabre d’Olivet, theo chân phái Cabala, duy trì ý tưởng có một con số khác kết nối gần gũi với con người là số chín – tam nguyên gấp ba. Ông chia những tiềm lực con người ra ba bình diện: những gì của cơ thể, những gì của tâm hồn hay sự sống và những gì của tinh thần. Mỗi bình diện này được đặc định bởi ba thức: thức chủ động, thức bị động và thức trung tính (43). Ở Viễn Đông, cũng vậy, sự suy xét về hệ biểu tượng của con người đã bắt đầu từ rất sớm. Dạng tổ chức tam nguyên gấp ba tương tự được tìm thấy trong những lời dạy cổ xưa của các Đạo nhân (13). Cũng rất thú vị khi ghi nhận rằng có một mối quan hệ giữa con người và những linh thú hay thú cổ mẫu (long [dragon], lân [unicorn], quy [turtle], phụng [phoenix]) vốn xuất hiện để mang cùng mối tương quan với con người – kẻ ở trung tâm – như những bộ tứ [tetramorph] đối với Pantokrator. Giờ đây, giữa con người như một cá thể cụ thể và vũ trụ có một thuật ngữ trung gian – một trung vũ trụ [mesocosmos]. Và trung vũ trụ này chính là ‘Con người Phổ quát [Universal Man]’, vị Vua (Vương) trong truyền thống Viễn Đông, và Adam Kadmon của phái Cabala. Y tượng trưng cho toàn bộ khuôn mẫu của thế giới biểu hiện, đó là, phạm vi toàn vẹn của những khả thể mở ra cho nhân loại. Trong một chừng mực, khái niệm trên tương ứng với ‘vô thức tập thể’ của Jung. Theo Guénon, Leibniz – có lẽ bị ảnh hưởng bởi Raymond Lull – đã thừa nhận rằng mỗi ‘vật chất riêng lẻ [individual substance]’ phải chứa đựng trong mình một sự sinh sôi toàn vẹn của vũ trụ, dù chỉ như một hình ảnh, như hạt giống chứa đựng cái toàn bộ của hiện hữu vào trong cái mà nó sẽ lớn lên (25). Trong hệ biểu tượng Ấn-độ, Vaishvânara, hay ‘Con người Phổ quát’, được chia thành bảy phần chính: (1) phần thượng đẳng, những khối cầu toả sáng như một toàn thể, hay những trạng thái tối cao của hiện hữu; (2) mặt trời và mặt trăng – hay đúng hơn là, những nguyên lí để chúng gắn kết với – như đã được biểu lộ trong mắt phải và mắt trái theo thứ tự; (3) nguyên lí lửa – miệng; (4) các hướng của không gian – tai; (5) khí quyển – phổi; (6) vùng trung gian giữa đất và trời – dạ dày; (7) trái đất – các chức năng tự nhiên hay phần dưới của cơ thể. Trái tim không được đề cập, vì, đó là ‘trung tâm’ hay trú xứ của Phạm thiên [Brahma], nó được coi là vượt quá ‘bánh xe [wheel]’ của sự vật (26). Giờ đây, khái niệm về ‘Con người Phổ quát’ này ngụ ý tính lưỡng tính, dù không hề chính xác. Cụ thể là, con người hiện hữu, trong chừng mực y là một người nam hay một người nữ, đại diện cho toàn thể ‘con người’ bị chia cắt, không chỉ theo nghĩa vật chất mà còn theo nghĩa tinh thần. Do đó, trích Upanishads: ‘Sự thực, y to lớn như một người nam và một người nữ đang ôm nhau. Y chia atman [hơi] này thành hai phần; từ đó nảy ra chồng và vợ.’ Trong đồ tượng học Tây phương đôi khi người ta tìm thấy những hình ảnh dường như là những tiếng vọng của khái niệm này (32). Một cặp con người, do bản năng rất tự nhiên, hẳn luôn tượng trưng cho nỗi thôi thúc hợp nhất những gì thực ra là riêng rẽ. Những hình dáng đang bày tỏ cái ôm một hình dáng khác, hay đang kết tay vào nhau, hay đang vươn khỏi những cội rễ buộc chúng với nhau, và cứ thế, tượng trưng cho ‘sự kết hợp [conjunction]’, đó là, coincidentia oppositorum [trùng hợp đối nghịch]. Có một hình ảnh Hindu đại diện cho ‘sự kết hợp của cái không thể kết hợp’ (tương đồng với cuộc hôn phối của lửa và nước) bằng mối kết nối bên trong của Người nam và Người nữ, vốn có thể tượng trưng cho sự kết hợp của tất cả những cái đối nghịch: tốt và xấu, cao và thấp, lạnh và nóng, ẩm và khô, và cứ thế (32). Trong khoa luyện đan, Người nam và Người nữ tượng trưng cho lưu huỳnh và thuỷ ngân. Trong tâm lí học, biểu tượng cấp độ thường ảnh hưởng lên những phần cơ thể, do đó bên phải tương ứng với cấp ý thức và bên trái tương ứng với cấp vô thức. Hình dạng các phần cơ thể, phụ thuộc vào việc chúng dương hay âm – chúng là những u lồi hay là những hốc khoang – không chỉ nên được coi như những biểu tượng tính dục mà còn nên xem xét trong ánh sáng biểu tượng của những cấp độ. Cái đầu được coi là một biểu tượng của nam tính một cách gần như phổ quát (56). Các tư thế mà cơ thể tạo ra có giá trị biểu tượng rất lớn, vì chúng vừa là phương tiện vừa là sự biểu lộ xu hướng con người hướng đến uy thế và sự tiến hoá. Một tư thế với hai cánh tay mở rộng gắn liền với tính biểu tượng của thập tự giá. Và một tư thế trong hình dạng của kí tự ‘X’ ám chỉ sự liên hội của hai thế giới, một biểu tượng có liên quan đến đồng hồ cát, ‘X’ và tất cả những biểu tượng khác của sự giao nhau (50). Một tư thế quan trọng khác là tư thế của Đức Phật trong đồ tượng học truyền thống phương Đông, một tư thế cũng đặc trưng là tư thế của một số vị thần Celt như vị thần gọi là ‘thần Bouray’ hay hình nhân Roquepertuse nổi tiếng. Tư thế ngồi xổm này biểu lộ sự từ bỏ ‘phần chân’ và hoạt động đi lại và tượng trưng cho sự đồng nhất với trung tâm huyền bí.

Con người tiểu vũ trụ (theo Agrippa xứ Nettesheim)

Con người tiểu vũ trụ (theo Agrippa xứ Nettesheim)

K.H. dịch
2015.08.11

Nguyên chú của tác giả:
(7) BERTHELOT, René. La pensée de l’Asie et l’astrobiologie. Paris, 1949
(13) CHOCHOD, Louis. Occultisme et magie en Extrême-Orient. Paris, 1945
(14) DAVY, M.-M. Essai sur la Symbolique Romane. Paris, 1955
(22) FROBENIUS, Leo. Histoire de la civilisation africaine. Paris, 1952
(25) GUÉNON, René. Le Symbolisme de la croix. Paris, 1931
(26) GUÉNON, René. Man and his Becoming according to the Vedanta. London, 1945
(29) GUÉNON, René. Aperçu sur l’Initiation. Paris
(32) JUNG, C. G. Psychology and Alchemy (Collected Works, 12). London, 1953
(43) PAPUS. Traité méthodique de science occulte. Paris, 1891
(49) SAUNIER, Marc. La Légende des symboles, philosophiques, religieux et maçonniques. 2nd edn. Paris, 1911
(50) SCHNEIDER, Marius. El origen musical de los animales-símbolos en la mitología y la escultura antiguas. Barcelona, 1946
(56) TEILLARD, Ania. Il Simbolismo dei Sogni. Milan, 1951

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Man” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s