John Gray – Một Karl Marx đời thực

John Gray

Một Karl Marx đời thực

Duy Đoàn chuyển ngữ

Bài điểm sách cho cuốn Karl Marx: A Nineteenth-Century Life, của , Liveright, 648 trang, $35.00

Bằng nhiều cách thức, Jonathan Sperber đề xuất, Marx là “một khuôn mặt thủ cựu” với cái nhìn về tương lai được định khuôn theo những hoàn cảnh khác hoàn toàn so với bất kì hoàn cảnh nào phổ biến ngày nay:

“Quan điểm về Marx như một người đương thời có những ý tưởng định hình nên thế giới hiện đại là một quan điểm đã xong xuôi cả rồi và đến lúc cần một hiểu biết mới về ông như một khuôn mặt của một thời kì lịch sử trong quá khứ, một thời kì càng lúc càng cách xa chúng ta: thời đại của Cách mạng Pháp, của triết học Hegel, của những năm tháng đầu tiên của quá trình công nghiệp hoá tại Anh và của nền kinh tế chính trị bắt nguồn từ đó.”

Mục tiêu của Sperber là trình bày Marx theo đúng con người thực sự của ông – một nhà tư tưởng thế kỉ 19 để hết tâm trí mình vào những ý tưởng và sự kiện của thời mình. Nếu bạn thấy Marx theo cách này, nhiều cuộc tranh cãi vốn đã tạo sóng gió quanh di sản của ông hồi thế kỉ trước dường như không lợi ích gì, thậm chí không liên quan gì. Nếu khẳng định Marx phần nào “chịu trách nhiệm về mặt trí thức” cho chủ nghĩa cộng sản thế kỉ 20, thì khẳng định đó có vẻ hết sức lầm lạc; nhưng chuyện tương tự cũng xảy ra đối với phe biện hộ Marx như một người theo dân chủ cấp tiến, bởi vì cả hai quan điểm đều “phóng chiếu ngược vào những tranh luận về thế kỉ 19 của những thời đại sau đó”.

(Ảnh: Bundesarchiv Berlin-Lichterfelde) Karl Marx và cô con gái Jenny, một kí giả cánh tả và thư kí của cha cô, vào năm 1869. 'Chiếc thập giá mà cô ta đeo', Jonathan Sperber viết, 'không phải là dấu hiệu của sự liên kết tông giáo mà là biểu tượng của sự nổi dậy của dân Ba-lan vào năm 1863.'

(Ảnh: Bundesarchiv Berlin-Lichterfelde)
Karl Marx và cô con gái Jenny, một kí giả cánh tả và thư kí của cha cô, vào năm 1869. ‘Chiếc thập giá mà cô ta đeo’, Jonathan Sperber viết, ‘không phải là dấu hiệu của sự liên kết tông giáo mà là biểu tượng của sự nổi dậy của dân Ba-lan vào năm 1863.’

Chắc chắn Marx hiểu những đặc tính cốt yếu của chủ nghĩa tư bản; nhưng đó là “những đặc tính của chủ nghĩa tư bản hiện hữu hồi những thập niên đầu của thế kỉ 19”, chứ không phải chủ nghĩa tư bản rất khác biệt hiện hữu hồi đầu thế kỉ 21. Một lần nữa, mặc dù ông nhìn hướng đến một dạng xã hội mới cho loài người vốn sẽ xuất hiện sau khi chủ nghĩa tư bản sụp đổ, nhưng Marx lại không có một khái niệm ổn thoả nào về hình hài của một xã hội như vậy. Quay hướng về ông để có cái nhìn về tương lai của chúng ta, đối với Sperber, là một cách sai lầm giống như việc đổ lỗi cho ông về những việc ở quá khứ của chúng ta.

Bằng cách dùng ấn bản mới công bố về những bản văn của Marx và Engels, thường được biết với tên viết tắt MEGA trong tiếng Đức, làm một trong những nguồn chính của mình, Sperber đã xây dựng nên một bức tranh về chính kiến của Marx vốn có những khác biệt giúp mở mang nhiều điều so với cái được giữ lại trong những bản mô tả thông thường. Những lập trường mà Marx đi theo hiếm khi bị chi phối từ những cam kết lí thuyết sẵn có từ trước vốn liên quan đến chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa cộng sản. Thường thì chúng phản ánh thái độ của ông đối với giới quyền lực đang cai trị châu Âu và những xung đột của giới này, cũng như phản ánh những mưu đồ và những cuộc đụng độ trong đó ông liên can đến ở vai trò một người hoạt động chính trị.

Đôi khi thái độ thù địch của Marx dành cho các chế độ phản động của châu Âu đã xui khiến ông đến những cực độ lạ kì. Là một kẻ chống đối sôi nổi của chế độ chuyên quyền nước Nga, người tham gia chiến dịch ủng hộ cuộc chiến cách mạng chống lại nước Nga hồi năm 1848-1849, ông trở nên nhụt chí trước cách xử lí thiếu quyết đoán của người Anh về Cuộc chiến Crimea. Khi chỉ trích việc chống cuộc chiến của giới cấp tiến hàng đầu Anh quốc, Marx tiếp tục khẳng định rằng những chính sách ngoại giao loạng choạng là do thực tế rằng thủ tướng Lord Palmerston là một điệp viên ăn tiền của Sa hoàng, một trong nhiều kẻ phản bội tiếp nối nhau chiếm lĩnh các vị trí quyền lực ở Anh quốc trong hơn một thế kỉ – một lời buộc tội mà ông đáo lại trong nhiều năm bằng một loạt những bài báo liên tiếp nhau mà được cô con gái Eleanor in lại thành cuốn The Secret Diplomatic History of the Eighteenth Century.

Tương tự, cuộc tranh đấu của ông chống lại kình địch người Nga Mikhail Bakunin trong việc kiểm soát Hiệp hội Công nhân Quốc tế (International Working Men’s Association – IWMA) đã phản ánh mối thù hằn của Marx đối với chế độ quân chủ Phổ và mối nghi ngờ của ông rằng Bakunin là một tay ủng hộ thống nhất khối Slav với những liên kết bí mật với Sa hoàng, hơn là phản ánh thái độ thù địch của ông dành cho cái nhãn mác vô chính phủ theo kiểu chuyên chế của Bakunin. Cái định hình nên đời sống chính trị của Marx chính là những xúc cảm mạnh mẽ và lòng hận thù của thế kỉ 19 chứ không phải những xung đột về ý thức hệ theo kiểu cách quen thuộc của thời kì chiến tranh lạnh.

Quan điểm xét lại tinh tế của Sperber đã mở rộng đến cái thường được cho là những cam kết ý thức hệ tối hậu của Marx. Ngày nay cũng như xuyên suốt thế kỉ 20, Marx là nhân tố không thể tách rời khỏi ý tưởng về chủ nghĩa cộng sản, nhưng ông không phải lúc nào cũng gắn bó với ý đó. Khi viết cho tờ Rhineland News vào năm 1842 trong chính bài viết đầu tiên của mình sau khi đảm chức biên tập, Marx đã khởi xướng một cuộc luận chiến sắc bén chống lại tờ báo hàng đầu nước Đức, tờ Augsburg General News, do đã xuất bản những bài viết cổ xuý chủ nghĩa cộng sản. Ông không đặt lời công kích của mình dựa trên bất kì luận cứ nào về tính chất không thực tế của chủ nghĩa cộng sản: chính ngay cái ý cộng sản là thứ ông tấn công vào. Khi than vãn rằng “những thành phố thương mại một thời phồn vinh đã không còn hưng thịnh nữa”, ông tuyên bố rằng sự lan truyền của của ý tưởng Cộng sản chủ nghĩa sẽ “hạ bệ trí năng của chúng ta, chế ngự tình cảm của chúng ta”, một tiến trình âm ỉ mà không có phương thuốc chữa trị rõ ràng. Ngược lại, bất kì nỗ lực nào để hiện thực hoá chủ nghĩa cộng sản sẽ dễ dàng bị chặn đứng ngay bằng lực lượng vũ trang: “những nỗ lực thực tế [nhằm du nhập chủ nghĩa cộng sản], thậm chí nhiều nỗ lực cùng lúc, có thể được đáp lại bằng những khẩu đại bác”. Như Sperber viết, “Người mà sẽ viết Tuyên ngôn Cộng sản chỉ 5 năm sau đó lại cổ xuý việc dùng quân đội để đàn áp cuộc nổi dậy của giới công nhân theo cộng sản chủ nghĩa!”

Đây cũng không phải là một chuyện bất thường đơn lẻ. Trong bài nói chuyện cho Hội Dân chủ Köln (Köln Demokratische Gesellschaft – Cologne Democratic Society) vào tháng Tám năm 1848, Marx đã bác bỏ chế độ độc tài cách mạng do một tầng lớp duy nhất cầm quyền và gọi đó là “vô nghĩa” – một ý mâu thuẫn đến mức sửng sốt đối với quan điểm mà Marx đã phát biểu chỉ 6 tháng trước đó trong Tuyên ngôn Cộng sản mà những tay biên tập theo chủ nghĩa Marx-Lenin sau này lúc làm việc với những bài diễn từ của ông đã phạm sai lầm khi từ chối chấp nhận tính chân xác của nó – và hơn 20 năm sau, lúc nổ ra cuộc chiến Pháp-Phổ, Marx còn gạt bỏ đi mọi ý niệm về Công xã Paris và xem đó là “vô nghĩa”.

Marx kẻ chống Cộng sản là một khuôn mặt lạ lẫm; nhưng rõ ràng có những thời điểm mà ông chia sẻ cùng quan điểm với những người tự do thời bấy giờ và sau này, mà theo đó chủ nghĩa cộng sản (cho là bất kì điều gì giống vậy có thể đạt đến) sẽ gây hại cho bước tiến của nhân loại. Đây chỉ là một ví dụ về một sự thật tổng quát hơn. Mặc cho khát vọng của chính ông và những nỗ lực của hàng bao thế hệ môn đồ của ông từ Engel trở đi, nhưng các ý tưởng của Marx chưa bao giờ hình thành một hệ thống duy nhất. Một nguyên do cho điều này là cuộc đời làm việc của Marx thường bị ngắt quãng. Mặc dù chúng ta nghĩ đến Marx là một lí thuyết gia náu mình trong thư viện của Viện bảo tàng Anh quốc, nhưng việc lập thuyết chỉ là một trong những tiêu khiển của ông và hiếm khi trở thành một việc làm chính yếu:

“Theo như thường lệ, những theo đuổi về lí thuyết của Marx phải được nhét vào bên cạnh những hoạt động tốn thời giờ hơn nhiều: hoạt động chính trị của kẻ lưu vong, làm báo, IWMA, trốn tránh mấy tay chủ nợ, và những căn bệnh nghiêm trọng hay chí tử vốn đang gây khổ sở cho con cái và vợ ông, và cho chính bản thân ông sau khi bắt đầu mắc bệnh về da vào năm 1863. Những lao động về lí thuyết của Marx thường xuyên bị gián đoạn mỗi lần nhiều tháng trời hoặc được dành riêng cho những buổi đêm khuya.”

Nhưng nếu hoàn cảnh cuộc đời của Marx khó lòng thích hợp cho việc lao động liên tục vốn cần thiết để xây dựng hệ thống, thì tính chất chiết trung trong lối tư duy của ông lại đưa ra một trở ngại lớn hơn. Việc ông vay mượn ý tưởng từ nhiều nguồn là chuyện quen thuộc với giới học giả. Sperber còn thêm vào phần mô tả thông thường về tính chiết trung của Marx, ở chỗ dò xét mối xung đột giữa việc Marx duy trì lòng trung thành với niềm tin của Hegel cho rằng lịch sử có một logic cố hữu về sự phát triển, với việc gắn kết với khoa học mà Marx thụ đắc được từ phong trào thực chứng [thời bấy giờ, với ngọn cờ đầu là Auguste Comte].

Bằng cách chỉ ra vai trò trí thức có tính chất định hình của chủ nghĩa thực chứng vào giữa thế kỉ 19, Sperber tự chứng tỏ bản thân là một kẻ dẫn đường vững bước cho cái thế giới ý tưởng nơi diễn ra hành trạng của Marx. Một phần hiển nhiên vì giờ đây trong một số khía cạnh nó dường như là một lĩnh vực phản động đáng xấu hổ, nên chủ nghĩa thực chứng đã bị giới sử gia trí thức lơ là. Tuy vậy nó lại sản sinh được một bầu ý tưởng gây ảnh hưởng ghê gớm. Bắt nguồn với nhà xã hội chủ nghĩa Pháp Henri de Saint-Simon (1760-1825) nhưng được phát triển hoàn chỉnh bởi Auguste Comte (1798-1857), một trong những người khai sáng xã hội học, chủ nghĩa thực chứng đề xướng một cái nhìn về tương lai vốn vẫn còn phổ biến và có tiếng nói mạnh mẽ ngày nay. Khi khẳng quyết rằng khoa học là mô hình cho mọi loại hình tri thức đích thực, Comte hướng đến một thời đại mà các tông giáo truyền thống đã mất dạng, những tầng lớp xã hội của quá khứ đã bị thay thế, và chế độ công nghiệp (industrialism, một thuật ngữ do Saint-Simon nặn ra) được tổ chức lại dựa trên cơ sở lí tính và hài hoà – một sự biến đổi sẽ xảy ra trong một chuỗi các giai đoạn tiến hoá tương tự với các giai đoạn mà giới khoa học tìm thấy trong thế giới tự nhiên.

Sperber bảo chúng ta rằng Marx mô tả những hệ thống triết lí của Comte là “thứ cứt mang mùi thực chứng chủ nghĩa”; nhưng lại có nhiều điểm tương đồng giữa quan điểm của Marx về xã hội và lịch sử với những quan điểm của giới thực chứng:

Dẫu cho Marx giữ cách biệt với những học thuyết [thực chứng] này, nhưng các yếu tố thực chứng lại nằm hiển hiện trong chính hình dung của ông về sự tiến bộ thông qua những giai đoạn khác nhau của sự phát triển lịch sử và sự phân chia hai mặt đối với lịch sử nhân loại thành một kỉ nguyên phi lí tính thuở ban đầu và một kỉ nguyên công nghiệp và khoa học thuở sau.

Bằng vẻ láu lỉnh, Sperber thấy được hai nét tương đồng căn bản giữa mô tả của Marx về sự phát triển nhân loại với mô tả của Herbert Spencer (1820-1903), người này (chứ không phải Darwin) đã sáng chế ra lối diễn đạt “sự sống sót của loài thích nghi nhất” và dùng nó để biện hộ cho chủ nghĩa tư bản laissez-faire [tự vận hành]. Chịu ảnh hưởng từ Comte, Spencer chia xã hội loài người thành hai loại, “loại ‘hiếu chiến’ và loại ‘công nghiệp’, với loại đầu tiên định rõ toàn bộ phần quá khứ tiền công nghiệp, tiền khoa học, và loại thứ nhì đánh dấu một thời đại mới trong lịch sử thế giới”.

Thế giới mới của Spencer là một phiên bản lí tưởng hoá của chủ nghĩa tư bản thời Victoria thuở ban đầu, trong khi thế giới của Marx được cho là sẽ xuất hiện chỉ khi nào chủ nghĩa tư bản bị lật đổ; nhưng hai nhà tư tưởng này cùng gặp nhau tại một điểm khi cùng kì vọng “một kỉ nguyên mới thiên khoa học, một kỉ nguyên khác về căn bản so với quá khứ của loài người”. Như Sperber đã kết luận: “Ngày nay, khách viếng thăm Nghĩa trang Highgate tại Bắc London có thể thấy ngôi mộ của Karl Marx và Herbert Spencer nằm đối diện nhau – mặc cho những khác biệt về trí thức giữa hai người này, sự kề cạnh này không hẳn là một sắp đặt không thích hợp”.

Marx tiếp thu từ giới thực chứng không chỉ quan điểm về lịch sử như một quá trình tiến hoá mà điểm đến là một nền văn minh khoa học. Ông còn hấp thụ một thứ trong số lí thuyết của họ về các loại chủng tộc. Có thể gây ngạc nhiên khi biết thực tế rằng Marx xem xét nghiêm túc những lí thuyết như thế; nhưng ta phải nhớ rằng nhiều nhà tư tưởng hàng đầu của thế kỉ 19 – nhất là Herbert Spencer – đều là những người tận hiến cho lĩnh vực tướng sọ  học (phrenology), và các nhà thực chứng từ lâu đã tin rằng để có tính chất khoa học hoàn toàn, thì tư tưởng về xã hội kì cùng phải dựa trên sinh lí học.

Comte đã xác định chủng tộc (cùng với môi trường) là một trong những yếu tố tự nhiên quyết định cho cuộc sống xã hội, và Essay on the Inequality of the Human Races [Tiểu luận về sự bất bình đẳng của những chủng tộc con người] (1853-1855) của Arthur de Gobineau, một bản biện hộ đầy ảnh hưởng cho cái tôn ti thiên bẩm về chủng tộc, là tác phẩm vốn được gợi hứng phần nào từ triết lí của Comte. Marx phản ứng với cuốn sách của Gobineau bằng sự khinh bỉ, và không cho thấy dấu hiệu tin tưởng vào tính ưu việt chủng tộc trong những mối quan hệ của ông với người con rể Paul Lafargue, vốn là người gốc Phi châu. (Phản đối chính của ông trước cuộc hôn nhân này là Lafargue không có nguồn thu nhập đáng tin cậy.) Đồng thời Marx không miễn nhiễm trước các nguyên mẫu về chủng tộc thời bấy giờ. Minh họa cho ảnh hưởng này là bản mô tả của ông về nhà xã hội chủ nghĩa người Đức gốc Do-thái Ferdinand Lassalle, vốn được Sperber mô tả là “một cơn bùng nổ xấu xí, cho dù xét theo các chuẩn mực của thế kỉ 19”:

“Giờ thì tôi hoàn toàn rõ, rằng, như được chứng minh theo hình dạng của đầu ông ta và sự tăng trưởng của tóc ông ta, thì ông ta [Lassalle] bắt nguồn từ bọn Da đen [Negro] vốn đã gia nhập vào đoàn người của Moses thoát khỏi Ai-cập (nếu mẹ hay bà nội ông ta không giao cấu với một tên mọi đen). Giờ thì sự kết hợp này giữa kiểu Do-thái và kiểu Đức với cái chất căn bản của bọn da đen hẳn phải sinh ra một sản phẩm quái dị. Cái sự huênh hoang của gã này cũng giống kiểu mọi đen.”

Sperber bình luận rằng đoạn văn này chứng tỏ “nhận thức phi chủng tộc [của Marx] về người Do-thái. Sự ‘kết hợp của kiểu Do-thái và kiểu Đức’ mà Marx thấy ở Lassalle mang tính chất văn hóa và chính trị”, chứ không mang tính sinh học. Tuy nhiên, khi Sperber tiếp tục trưng ra, Marx cũng chỉ đến các loại chủng tộc theo những cách thức cho rằng những loại này có cơ sở nằm trong dòng giống sinh học. Khi tán tụng tác phẩm của nhà dân tộc học và địa chất học người Pháp Pierre Trémaux (1818-1895), người có cuốn Origin of Transformation of Man and Other Beings [Nguồn gốc sự chuyển hóa của loài người và các sinh thể khác] mà ông đọc được vào năm 1866, Marx ca ngợi lí thuyết của Trémaux về vai trò của địa chất trong sự tiến hoá của loài vật và loài người, cho rằng vai trò này “quan trọng hơn và phong phú hơn nhiều so với lí thuyết của Darwin” vì đã cung cấp một “cơ sở tự nhiên” cho tính dân tộc và cho thấy rằng “loại Da đen thường gặp chỉ là một hình thức thoái hoá của một hình thức cao cấp hơn nhiều”. Sperber bình luận, bằng những nhận định này,

“Marx dường như đang đi theo hướng giải thích theo sinh học hoặc địa chất về những khác biệt trong tính dân tộc – ở tình huống bất kì nào thì cũng là cách giải thích nối kết tính dân tộc với dòng dõi, được giải thích theo khoa học tự nhiên… một ví dụ khác về sự ảnh hưởng đối với Marx của những ý tưởng thực chứng về sự ưu tiên trí thức của khoa học tự nhiên.”

Lòng thán phục của Marx dành cho Darwin là điều nhiều người biết. Một truyền thuyết thường gặp cho rằng Marx có ý đề tặng cuốn Kapital [Tư bản] cho Darwin. Sperber mô tả chuyện này là “một huyền thoại thường xuyên bị phủ bác nhưng có vẻ gần như không thể xoá tiệt được”, bởi vì chính Edward Aveling, tình nhân của cô con gái Eleanor của Marx, là người thất bại trong việc tiếp cận Darwin nhằm xin phép đề tặng một tập sách nổi tiếng mà Aveling đã viết về sự tiến hoá [cuốn The Student’s Darwin]. Nhưng rõ ràng là Marx hồ hởi đón nhận tác phẩm của Darwin, xem tác phẩm (như lời của Sperber) như “một cú đấm trí thức khác được giáng vào để ủng hộ chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa vô thần”.

Điều ít ai biết là những khác biệt sâu xa của Marx với Darwin. Nếu Marx xem tác phẩm của Trémaux là “một cải tiến quan trọng cực kì so với Darwin”, thì đó là vì “sự tiến triển, cái mà trong Darwin diễn ra tình cờ, thì ở đây là điều tất yếu trên cơ sở những thời kì phát triển của vật thể trái đất”. Gần như mọi môn đồ của Darwin vào thời bấy giờ đều tin rằng ông đã đưa ra được một chứng tỏ khoa học về sự tiến triển trong tự nhiên; nhưng mặc dù bản thân Darwin do dự về điểm này, nhưng điều đó chưa bao giờ là quan điểm căn bản của ông ấy. Lí thuyết chọn lọc tự nhiên của Darwin không cho biết điều gì về bất kì dạng cải thiện nào – như Darwin từng lưu ý, khi được đánh giá từ điểm nhìn của chính chúng thì loài ong là cải tiến từ loài người – và đây là bằng cớ cho trí tuệ sâu rộng của Marx rằng, khác với đa phần những người cổ xuý ý tưởng về tiến hóa, thì ông nhận thức được sự vắng mặt của ý tưởng về sự tiến triển trong thuyết Darwin. Tuy vậy ông lại để cảm xúc làm mình mất tự chủ khi cũng chấp nhận cái thế giới ngẫu nhiên mà Darwin đã khám phá.

Như Leszek Kolakowski quá cố từng nói trong một cuộc nói chuyện, “Marx là một triết gia Đức”. Diễn giải của Marx về lịch sử không khởi nguồn từ khoa học mà từ lí giải siêu hình học của Hegel về sự phơi mở của tinh thần (Geist) trong thế giới này. Khi khẳng định cơ sở vật chất của địa hạt ý tưởng, Marx đã tài tình lật ngược lại triết lí của Hegel; nhưng trong lúc đảo lại thế này, thì niềm tin của Hegel rằng lịch sử về mặt căn cốt là một quá trình tiến hoá theo lí tính đã xuất hiện trở lại thành quan niệm của Marx về sự nối tiếp của những chuyển hoá cách mạng theo hướng tiến bộ. Quá trình này có thể không phải điều hiển nhiên nếu xét nghiêm ngặt; sự tái phát tình trạng man rợ là một khả năng luôn có thể xảy đến. Nhưng đối với Marx, sự phát triển toàn diện của năng lực con người vẫn là điểm chung cuộc của lịch sử. Cái mà Marx và rất nhiều người khác muốn từ lí thuyết tiến hoá là một cái nền chống đỡ cho niềm tin của họ về sự tiến bộ hướng đến một thế giới tốt đẹp hơn; nhưng thành tựu của Darwin nằm ở chỗ cho thấy cách vận hành của tiến hoá mà không tham chiếu đến bất kì hướng đi nào hoặc đến bất kì trạng thái chung cuộc nào. Khi chối từ việc chấp nhận khám phá của Darwin, Marx thay vào đó chuyển sang những lí thuyết của Trémaux, vốn khiên cưỡng và giờ xứng đáng bị lãng quên.

Lần đầu tiên đặt Marx hoàn toàn trong bối cảnh thế kỉ 19, cuộc đời mới của Marx do Sperber vạch ra có thể là một bản mô tả chung quyết trong nhiều năm tới đây. Được viết bằng giọng văn sáng sủa và thanh nhã, cuốn sách đầy ắp những kiến giải tiểu sử và những hoạ tiết đáng nhớ, được hoà quyện khéo léo với nhau bằng một bức tranh đầy thuyết phục của châu Âu thế kỉ 19 và với phần bình luận thấu đáo về những ý tưởng của Marx. Mối liên hệ của Marx với cha mẹ ông và dòng dõi Do-thái, những năm tháng sinh viên, 7 năm yêu đương và kết hôn với một người con gái của một viên chức chính phủ người Phổ không mấy thành công lắm, và quãng thời gian dài sống thầm lặng trong nghèo khổ rồi theo đó là cuộc sống rối loạn phóng túng, hết thảy đều được khắc hoạ sống động.

Sperber mô tả một số nghề của Marx – trong đó, Sperber bình luận, ông đạt được nhiều thành công hơn ở vai trò một kí giả cấp tiến sáng lập một tờ báo, so với những nỗ lực của ông trong việc tổ chức giai cấp lao động – và tác giả phân tích kĩ lưỡng những thái độ trí thức và chính trị đang biến chuyển lúc bấy giờ của Marx. Rõ ràng là Sperber thành công trong việc trình hiện Marx như một khuôn mặt phức tạp và dễ thay đổi vốn đang lặn ngụp trong một thế giới quá ư xa cách với thế giới chúng ta. Liệu điều này có nghĩa là tư tưởng của Marx hoàn toàn không liên quan đến những xung đột và những tranh cãi của thế kỉ 20 và 21, thì đó lại là vấn đề khác.

Cả khẳng quyết rằng ý tưởng của Marx chịu một phần trách nhiệm cho những tội ác của chủ nghĩa cộng sản, lẫn niềm tin rằng Marx đã nắm bắt được các khía cạnh của chủ nghĩa tư bản vốn vẫn còn vai trò quan trọng ngày nay, tất cả đều không thể bị gạt bỏ dễ dàng như ý muốn của Sperber. Marx có lẽ chưa bao giờ có ý gì tương đồng với hình thức nhà nước toàn trị vốn được tạo ra tại Khối Soviet – thực ra thì một nhà nước như vậy hẳn là điều ông ta hoàn toàn không hình dung ra được. Cho dù thế, cái chế độ nổi lên ở Nga Soviet là kết quả của toan tính muốn hiện thực hoá một tầm nhìn theo kiểu Marx mà có thể dễ dàng nhận ra. Marx không có chút nhận thức gì về xã hội mới mà ông kì vọng sẽ trỗi dậy từ tàn tích của chủ nghĩa tư bản. Như Sperber lưu ý, “Cuối đời mình, Marx đã thay thế một tầm nhìn không tưởng trong đó bãi bỏ hoàn toàn sự lao động bị tha hoá và phân chia (alienated, divided labor), bằng một tầm nhìn khác trong đó nhân loại dồn hết tâm sức vào những mưu cầu nghệ thuật và học vấn.” Tuy thế Marx quả tin rằng một thế giới khác và tốt hơn hẳn có thể thành hình một khi chủ nghĩa tư bản bị tiêu huỷ, với sự tin tưởng về tính khả dĩ của một thế giới như vậy được dựa trên mớ tạp nham rời rạc của triết học duy tâm, lối tư biện mông lung về tiến hoá cùng một quan điểm thực chứng về lịch sử.

Lenin theo những bước chân của Marx khi sản sinh ra một phiên bản mới của niềm tin này. Không có lí do gì để rút lại khẳng định, do Kołakowski và những người khác đưa ra, rằng sự kết hợp chí tử giữa tính tất định siêu hình và nguỵ khoa học mà Lenin đã hấp thụ từ Marx đã có một phần trọng yếu cho việc sản sinh ra Chủ nghĩa toàn trị theo cộng sản. Theo đuổi một viễn tượng bất khả hiện thực hoá về một tương lai hoà hợp sau khi chủ nghĩa tư bản sụp đổ, các môn đồ theo chủ nghĩa Lenin của Marx đã tạo nên một xã hội áp chế và phi nhân bản vốn tự nó sụp đổ, còn chủ nghĩa tư bản – mặc cho mọi vấn đề của mình – vẫn tiếp tục khuếch trương.

Mặc dù Marx không thể thoát được cảnh bị vướng vào những tội ác kinh khủng nhất của thế kỉ qua, nhưng cũng đúng là ông đã soi rọi một số nan đề hiện tại của chúng ta. Sperber thấy không có gì đặc biệt trong đoạn văn trứ danh của bản Tuyên ngôn Cộng sản mà trong đó Marx và Engels tuyên bố:

“Toàn bộ những gì chắc chắn sẽ tiêu tan mây khói, toàn bộ những gì thiêng liêng đều bị ô uế và con người sau rốt bị buộc phải đối diện với những hoàn cảnh sống thực sự cùng những mối quan hệ của mình bằng đôi mắt tỉnh táo.”

Theo ý Sperber, sở dĩ có ý tưởng rằng “khẳng định về sự thay đổi không ngừng, muôn vẻ” này sẽ dự đoán được hoàn cảnh chủ nghĩa tư bản của cuối thế kỉ 20 và đầu thế kỉ 21, do nó bắt nguồn từ việc dịch sai bản gốc tiếng Đức, vốn có thể được dịch chính xác hơn thành:

“Mọi thứ chắc chắn hiện hữu và tất cả các yếu tố của xã hội trật tự đều sẽ bốc hơi, mọi thứ linh thiêng đều bị hoàn tục và con người cuối cùng bị buộc phải nhìn vị thế của họ trong cuộc sống cùng những mối quan hệ tương hỗ của họ bằng con mắt tỉnh táo.”

Nhưng mặc dù phiên bản của Sperber hẳn nhiên kém nhã hơn (như ông ấy thừa nhận), tôi cũng không thấy khác gì về ý nghĩa giữa hai phiên bản này. Cho dù được chuyển dịch ra sao, thì đoạn văn đó cũng chỉ đến một đặc tính trọng tâm của chủ nghĩa tư bản – nó vốn có xu hướng cách mạng hoá xã hội – mà hầu hết các nhà kinh tế và nhà chính trị thời của Marx và sau này đều bỏ qua hoặc đánh giá thấp quá sức.

“Giới bảo thủ thị trường tự do” có các cương lĩnh nhắm đến việc tháo dỡ các ràng buộc về pháp quy đối với cách vận hành của các tác nhân thị trường đồng thời duy trì hoặc khôi phục các mẫu hình truyền thống của cuộc sống gia đình và trật tự xã hội, và những cương lĩnh này tuỳ thuộc vào giả định rằng tác động của thị trường có thể bị hạn chế trong nền kinh tế. Khi quan sát thấy các thị trường tự do sẽ triệt tiêu và tạo nên các hình thái cuộc sống xã hội do chúng tạo và huỷ các sản phẩm và các ngành công nghiệp, Marx chứng tỏ giả định này sai lầm trầm trọng. Trái với những gì ông kì vọng, chủ nghĩa dân tộc và tông giáo đã không phai tàn đi và không có dấu hiệu nào của việc đó trong khoảng tương lai thấy được trước mắt; nhưng khi ông nhìn nhận được cách thức mà chủ nghĩa tư bản làm xói mòn cuộc sống tư sản, thì ông đã nắm được một sự thật trọng yếu.

Điều này không phải để nói rằng Marx có thể đưa ra bất kì cách nào thoát khỏi những khó khăn kinh tế hiện tại của chúng ta. So với bất cứ thứ gì mà Marx viết ra, thì trong những tác phẩm của John Maynard Keynes hay của một môn đồ quan trọng của Keynes như Hyman Minsky, có nhiều kiến giải hơn về cái xu hướng trong đó chủ nghĩa tư bản thường phải gánh chịu các cuộc khủng hoảng lặp đi lặp lại. Xa cách với bất kì hoàn cảnh xã hội nào hiện có hoặc có thể hình dung nên theo thực tế, “ý tưởng cộng sản” vốn được phục sinh bởi một số nhà tư tưởng như Alain Badiou và Slavoj Žižek cũng giống như các ảo tưởng về thị trường tự do vốn được giới cánh hữu phục hồi. Ý thức hệ được quảng bá bởi nhà kinh tế học người Áo F. A. Hayek và các môn đồ, trong đó chủ nghĩa tư bản là kẻ chiến thắng trong cuộc tranh đấu sống còn giữa các hệ thống kinh tế, có rất nhiều điểm chung với phiên bản thế phẩm của tiến hoá do Herbert Spencer truyền bá cách đây hơn một thế kỉ.  Dẫn lại những nguỵ biện đã tiêu tan từ lâu, những lí thuyết tân Marx chủ nghĩa và tân tự do này có vai trò chỉ để minh hoạ cho cái sức mạnh trường kì của các ý tưởng vốn hứa hẹn một sự giải cứu thần kì thoát khỏi xung đột của loài người.

Marx trở nên nổi tiếng lần nữa là do sự tình cờ của lịch sử. Nếu Thế chiến I không xảy đến và khiến cho chế độ Sa hoàng sụp đổ, nếu quân Bạch vệ thắng trong cuộc Nội chiến Nga như Lenin đôi khi sợ hãi như thế và lãnh tụ Bolshevik không thể giành và giữ được quyền lực của mình, hoặc nếu bất kì sự kiện nào trong số vô vàn các sự kiện không xảy ra như đã từng, thì Marx giờ đây hẳn là cái tên mà hầu hết những người có học vấn phải cố lắm mới nhớ được. Hiện thì cái còn lại cho chúng ta là những sai sót và nhầm lẫn của Marx. Marx hiểu được sinh khí vô chính phủ của chủ nghĩa tư bản sớm hơn và tốt hơn gần như bất kì ai khác. Nhưng ông lại không có cơ sở về mặt lí lẽ cho cái viễn tượng về tương lai mà ông hấp thụ từ chủ nghĩa thực chứng, và san sẻ với nhà tiên tri thời Victoria kia mà ông đối diện tại nghĩa trang Highgate Cemetery, trong đó các xã hội công nghiệp tiến đến rất gần một nền văn minh khoa học trong đó tông giáo và xung đột của quá khứ sẽ phai tàn – một huyền thoại mà, giống như ý cho rằng Marx muốn đề tặng tác phẩm chính của mình cho Darwin, đã nhiều lần tiêu tan nhưng dường như không thể xoá tiệt.

Rõ ràng niềm tin rằng nhân loại đang tiến hoá hướng đến một hoàn cảnh hoà hợp hơn là điều mang đến niềm khuây khoả cho nhiều người; nhưng chúng ta hẳn sẽ ở tư thế sẵn sàng hơn để xử lí các xung đột của mình nếu có thể bỏ lại sau lưng sử quan của Marx, cùng với lòng tin hồi thế kỉ 19 của ông về khả năng xuất hiện một xã hội vốn sẽ khác với bất kì xã hội nào từng hiện hữu.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn,
151027

Nguồn:

Gray, John. “The Real Karl Marx.” The New York Review of Books, 5/2013: http://www.nybooks.com/articles/archives/2013/may/09/real-karl-marx/.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s