J. E. Cirlot – Chim

Mỗi sinh vật có cánh đều tượng trưng cho sự tinh thần hoá. Chim, theo Jung, là một sinh vật từ tâm đại diện cho những linh hồn hay những thiên thần, sự cứu đỡ siêu nhiên (31), những ý nghĩ và những bay bổng của huyễn tưởng (32). Truyền thống Hindu cho rằng chim chóc đại diện cho những trạng thái cao hơn của sự tồn tại. Trích một đoạn trong Upanishads [Áo nghĩa thư]: Hai con chim, bầu bạn không thể tách rời, trú ngụ cùng một cây; con đầu tiên ăn quả trên cây, con thứ hai để ý nhưng không ăn. Con chim đầu tiên là Jivâtmâ, và con thứ hai là Atmâ hay tri thức thuần tuý, tự do và vô điều kiện; và khi chúng kết giao không rời, thì không thể phân biệt được con này với con khác ngoại trừ trong một cảm giác ảo tưởng’ (26). Sự diễn dịch về chim như biểu tượng của linh hồn này rất thường gặp trong văn hoá dân gian trên khắp thế giới. Có một câu truyện Hindu được kể lại bởi Frazer trong đó một quái nhân (ogre) giải thích cho con gái mình nơi nó cất giữ linh hồn: ‘Cách nơi đây mười sáu dặm’, nó nói, ‘có một cái cây. Xung quanh cây là cọp, và gấu, và bọ cạp, và rắn; trên ngọn cây có một con rắn rất to béo; trên đầu nó có một cái lồng nhỏ; trong lồng có một con chim; linh hồn của ta ở trong con chim ấy’ (21). Sự diễn đạt chính xác này đã từng có trong hệ biểu tượng Ai-cập cổ đại qua việc ban cấp cho chim một cái đầu con người; trong hệ thống chữ tượng hình của họ nó là một dấu hiệu tương ứng với Ba (linh hồn) kiên định, hay ý tưởng cho rằng linh hồn bay khỏi thân thể sau cái chết (19). Con chim có đầu người này cũng xuất hiện trong nghệ thuật Hi-lạp và Lãng mạn, và luôn trong cùng một ý nghĩa (50). Nhưng ý tưởng về linh hồn như một con chim – sự đảo ngược của quan niệm tượng trưng – tự nó không ngụ ý rằng linh hồn là thiện hảo. Do đó đoạn văn trong sách Khải huyền (xvii, 2) mô tả Babylon như ‘ngục tù của mỗi linh hồn xấu xa, và một cái lồng của mỗi con chim ô uế và oán ghét’. Theo Loeffler, chim, cũng như cá, trước tiên là một biểu tượng dương vật, tuy nhiên được phú cho quyền năng của sự nâng cao – gợi ý sự thăng hoa và sự tinh thần hoá. Trong những truyện thần tiên có nhiều con chim biết nói và ca hát, tượng trưng cho nỗi mến thương say đắm (và cùng họ với những mũi tên và làn gió). Chim cũng có thể đại diện cho sự biến dạng của một kẻ đang yêu. Loeffler bổ sung rằng chim chóc được coi như những cộng sự thông minh của con người một cách phổ quát trong những thần thoại và truyện kể dân gian, và rằng chúng bắt nguồn từ những con chim sáng thế vĩ đại của người nguyên thuỷ – những sinh vật mang thông điệp thiên đường và là những đấng sáng tạo của âm giới; điều này giải thích một tạo nghĩa xa hơn về chim chóc như là những sứ giả (38). Màu sắc đặc thù của một con chim là một yếu tố quyết định hệ biểu tượng phụ của nó. Chim xanh dương đã được Bachelard (3) coi là ‘kết quả của chuyển động trên không’, nghĩa là, như một sự kết giao thuần tuý của những ý tưởng; nhưng trong nhãn quan của chúng ta, tuy điều này rất có thể từng là nguồn gốc của nó, song mục tiêu tối hậu của nó lại là điều gì đó khá khác biệt – nhằm chỉ một biểu tượng của điều bất khả (giống như đoá hồng xanh dương). Trong khoa luyện đan, chim chóc đại diện cho những nội lực trong tiến tình hoạt hoá; ở đây một ý nghĩa chính xác được quyết định bởi vị trí của con chim: sự vút bay lên trời của nó biểu lộ sự bay hơi hay thăng hoa, và sự bổ nhào xuống đất của nó biểu lộ sự lắng đọng và cô đặc; hai chuyển động tượng trưng này hợp lại định hình nên một hình thái đơn nhất diễn đạt sự chưng cất. Những sinh vật có cánh tương phản với những sinh vật không có cánh khác cấu thành một biểu tượng của khí, của nguyên lí bất ổn định đối nghịch với nguyên lí ổn định. Tuy nhiên, Diel đã chỉ ra rằng, chim chóc, và đặc thù là những đàn chim – vì số đông từng là một dấu hiệu của sự phủ định – có thể đảm nhận những ngụ ý độc ác; ví dụ, những đàn côn trùng tượng trưng cho những nội lực trong tiến trình chưng cất – những lực vốn sục sôi, không ngừng nghỉ, vô định, phân tán. Vì vậy, chim chóc, trong huyền thoại về Hercules, trồi lên từ hồ Stymphalus (vốn đại diện cho sự trì trệ của tâm hồn và sự tê liệt của tinh thần) biểu thị cho muôn vàn dục vọng xấu xa (15). ‘Chim khổng lồ’ luôn tượng trưng cho một vị thần đầy sáng tạo. Những người Hindu thời Vệ-đà thường mô tả mặt trời trong hình dạng của một con chim khổng lồ – một con đại bàng hay một con thiên nga. Truyền thống German còn ban cấp những ví dụ xa hơn về một con chim thái dương (35). Nó cũng tượng trưng cho bão tố; trong thần thoại Scandinavia có những tham chiếu về một con chim khổng lồ mang tên Hraesvelg (hay Hraesveglur), vốn được cho là đã tạo ra gió bằng cách vỗ cánh (35). Ở Bắc Mĩ, Hữu thể tối cao thường tương đương với hiện thân thần thoại của sấm và sét là một con chim khổng lồ (17). Chim có một đối thủ kinh hoàng là rắn hay mãng xà. Theo Zimmer, chỉ ở phương Tây điều này mới mang một ngụ ý về mặt luân lí; ở Ấn-độ, chỉ những nguyên tố tự nhiên là tương phản nhau – nội lực mặt trời đối nghịch với năng lượng lỏng của những đại dương của trái đất. Tên của con chim thái dương này là Garuda, ‘sát thủ của nâgas hay mãng xà’ (60). Kühn, trong The Rock Pictures of Europe [Những bức tranh đá của châu Âu], xem xét một bức tranh trong hang Lascaux vẽ một con bò bison bị thương, một người bị tấn công đến chết và một con chim trên một cái cọc, và gợi ý rằng, vào thời Đồ đá cũ, chim có thể tượng trưng cho linh hồn hay một trạng thái như-nhập-định.

K.H. dịch
2015.12.27

Nguyên chú của tác giả:
(3) BACHELARD, GASTON. L’Air et les Songes. Paris, 1943
(15) DIEL, Pail. Le Symbolisme dans la mythologie grecque. Paris, 1952
(17) ELIADE, Mircea. Tratado de historia de las religiones. Madrid, 1954
(19) ENEL. La langue sacrée. Paris, 1932
(21) FRAZER, Sir James G. The Golden Bough. London, 1911-15
(26) GUÉNON, René. Man and his Becoming according to the Vedanta. London, 1945
(31) JUNG, C. G. Symbols of Transformation (Collected Works, 5). London, 1956
(32) JUNG, C. G. Psychology and Alchemy (Collected Works, 12). London, 1953
(35) KRAPPE, A. H. La Genèse des mythes. Paris, 1952
(38) LOEFFLER-DELACHAUX, M. Le Symbolisme des contes de Fées. Paris, 1949
(50) SCHNEIDER, Marius. El origen musical de los animales-símbolos en la mitología y la escultura antiguas. Barcelona, 1946
(60) ZIMMER, Heinrich. Myths and Symbols in Indian Art and Civilization. New York, 1946

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Bird” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s