J. E. Cirlot – Cá

Theo nghĩa rộng, cá là một sinh vật có năng lực huyền bí, hay là một ‘chuyển động thông suốt’ được phú cho quyền năng ‘nâng cao’ liên quan đến những vật chất nền tảng – tức là, theo vô thức. Vì mối quan hệ biểu tượng gần gũi giữa biển và Magna Mater [Mẹ Vĩ đại], một số người cho rằng cá là linh thiêng. Một số nghi lễ Á châu có bao gồm sự thờ cá, và những thầy tu bị cấm ăn cá. Như Jung đã chỉ ra, con trai của Atargatis (Ashtart hay Astarte) được đặt tên là Ichthys (31). Schneider ghi nhận rằng cá là Con thuyền của Sự sống huyền bí, đôi khi là một con cá voi, thỉnh thoảng là một con chim, và những lúc khác đơn giản là một con cá hay một con cá bay, ‘nhưng đó luôn luôn là sự xoay tròn vút lên khỏi chu trình sống phỏng theo mẫu hình của hoàng đạo mặt trăng’ (50). Nói cách khác, cá kết hợp nhiều ý nghĩa, phản chiếu nhiều mặt căn cốt của bản chất nó. Schneider cũng nói rằng đối với một số người thì cá có một ý nghĩa liên quan đến dương vật, trong khi với những người khác nó mang một hệ biểu tượng tinh thần thuần khiết. Về căn cốt, đặc trưng của cá là hai nghĩa: vì hình dạng như ống chỉ, nó trở thành một dạng ‘chim của những cõi âm’, tượng trưng cho sự hiến tế và mối quan hệ giữa trời và đất. Mặt khác, vì số lượng trứng nhiều một cách khác thường, nó trở thành một biểu tượng của sự mắn đẻ, truyền đạt một ý nghĩa tinh thần nào đó (50). Nghĩa sau được tìm thấy ở những người Babylon, Phoenicia, Assyria (4) và Trung hoa (5). Có một số loài cá mang một tạo nghĩa phụ vì những đặc trưng kì dị của chúng: ví dụ, cá kiếm có liên quan đến thú một sừng (32). Những người Chaldea thường miêu tả hình tượng một con cá với cái đầu của một con chim én, như dấu hiệu của sự tái sinh theo chu kì, một ý tưởng liên quan trực tiếp đến nghĩa biểu tượng của Song ngư, cung cuối cùng của Hoàng đạo (40). Cá trở thành một biểu tượng Kitô giáo nguyên thuỷ, chủ yếu căn cứ trên phép đảo chữ cái chiết ra từ cái tên dành cho cá: ichthys [kí hiệu cá], những chữ cái đầu đại diện cho ‘I-n6ov? X-pi6to? O-Eov Y-io? E-wtnp. Sau đó nó được coi là một biểu tượng của sự sống sâu thẳm, của thế giới tâm linh nằm bên dưới thế giới hiển hiện, cá đại diện cho lực-sống đang dâng lên.

Fish

Biểu tượng Kitô giáo sơ kì – bia đá thể kỉ 13, Viện bảo tàng Lérida, Tây ban nha.

K.H. dịch
2016.01.09

Nguyên chú của tác giả:
(4) BAYLEY, HAROLD. The Lost Language of Symbolism. London, 1912 (repr. 1951)
(5) BEAUMONT, A. Symbolism in Decorative Chinese Art. New York, 1949
(31) JUNG, C. G. Symbols of Transformation (Collected Works, 5). London, 1956
(32) JUNG, C. G. Psychology and Alchemy (Collected Works, 12). London, 1953
(40) MERTENS STIENON, M. L’Occultisme du zodiaque. Paris, 1939
(50) SCHNEIDER, Marius. El origen musical de los animales-símbolos en la mitología y la escultura antiguas. Barcelona, 1946

Nguồn:          
Cirlot, J. E. “Fish” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s