Robert Frodeman & Adam Briggle – Khi triết học lạc lối

Sinh viên tại trường University of California tại Berkeley. Jim Wilson/The New York Times

Sinh viên tại trường University of California tại Berkeley. Jim Wilson/The New York Times

Robert Frodeman & Adam Briggle

Khi triết học lạc lối

Duy Đoàn chuyển ngữ

 Lịch sử triết học Tây phương có thể được trình bày theo nhiều cách. Nó có thể được kể theo thời kì – cổ đại, trung đại và hiện đại. Ta có thể chia nó thành những truyền thống đối địch (duy nghiệm đối với duy lí, phân tích đối với lục địa), hoặc thành nhiều khu vực cốt lõi khác nhau (siêu hình học, nhận thức luận, đạo đức học). Tất nhiên nó cũng có thể được nhìn qua ống kính phê phán của sự loại trừ giới tính hay chủng tộc, như một lĩnh vực gần như hoàn toàn được định hình cho và bởi đàn ông Âu châu da trắng.

Tuy thế, mặc dù các mô tả phong phú và đa dạng, tất cả chúng đều phải qua một điểm ngoặt trọng yếu: việc định vị triết học bên trong một cơ cấu hiện đại (trường đại học nghiên cứu) vào cuối thế kỉ 19. Việc cơ cấu hoá triết học đã đưa nó vào một lĩnh vực mà chỉ có thể được theo đuổi nghiêm túc trong một khung cảnh hàn lâm. Thực tế này tương ứng với một trong những thất bại trường kì của triết học đương đại.

Hãy xem thử chi tiết đơn giản này: Trước khi chuyển vào trường đại học, triết học chưa bao giờ có một chỗ ở trọng tâm. Người ta có thể tìm thấy triết gia ở mọi nơi – phụng sự ở vai trò nhà ngoại giao, sống nhờ lương hưu, cắt kính thuốc, cũng như trong một trường đại học. Sau đó, nếu họ là những nhà tư tưởng “nghiêm túc”, người ta kì vọng rằng các triết gia sẽ ngụ trong trường đại học nghiên cứu. Đi ngược lại các ý hướng của Sokrates, các triết gia trở thành chuyên gia giống như các chuyên gia trong từng ngành. Việc này xảy ra cho dù họ dạy sinh viên những phẩm tính của sự thông tuệ kiểu Sokrates, vốn nêu bật vai trò của triết gia như một người không phải chuyên gia, như một người tra vấn, một kẻ quấy rầy.

Khi đó, như nhà tư tưởng Pháp Bruno Latour hẳn sẽ nêu ra, triết học đã được “tịnh hoá” (purified) – tách biệt khỏi xã hội trong quá trình hiện đại hoá. Việc tịnh hoá này xảy ra nhằm phản ứng với ít nhất hai sự kiện. Đầu tiên là sự phát triển của khoa học tự nhiên, như một lĩnh vực nghiên cứu rõ ràng khác biệt với triết học, vào khoảng năm 1870, và sự xuất hiện của các ngành khoa học xã hội trong thập niên sau đó. Trước lúc này, giới khoa học thoải mái nghĩ mình là “triết gia tự nhiên” – những người nghiên cứu tự nhiên; và các tiền bối của giới khoa học xã hội đã nghĩ bản thân là “triết gia luân lí”.

Sự kiện thứ nhì là việc đặt triết học ở vai trò một lĩnh vực khác bên cạnh những ngành khoa học này bên trong trường đại học nghiên cứu thời hiện đại. Kết quả là triết học, trước đó là hoàng hậu của các ngành, đã bị thay thế, khi khoa học tự nhiên và khoa học xã hội đã chia cắt thế giới giữa chúng.

Điều này không phải khẳng định rằng triết học đã ngự trị mà không chịu thử thách nào trước thế kỉ 19. Vai trò của triết học đã chuyển dịch qua nhiều thế kỉ và ở nhiều quốc gia khác nhau. Nhưng kể từ thời các ngôi trường nhà thờ của thế kỉ 11, phần cốt lõi của trường đại học đã được hình thành từ triết học theo nghĩa quan tâm đến việc ta là ai và ta nên sống thế nào. Trước khi phát triển văn hoá nghiên cứu khoa học, các xung đột giữa triết học, y học, thần học và luật pháp đã chứa đựng các trận chiến nội bộ thay vì những cuộc đụng độ qua các ranh giới văn hoá rộng khắp. Thực vậy, những lĩnh vực xưa hơn này được nhiều người tin là sẽ tương hợp nhau trong sự thống nhất to lớn của tri thức – một sự thống nhất được dẫn hướng đến mục tiêu đạt một cuộc sống thiện hảo. Nhưng sự thống nhất này đã gãy vỡ dưới sức nặng của sự chuyên môn hoá ngày càng tăng khi chuyển sang thế kỉ 20.

Các triết gia đầu thế kỉ 20 do vậy đối diện một khốn cảnh mang tính hiện sinh: Với việc khoa học tự nhiên và khoa học xã hội dàn ra hết vùng không gian lí thuyết lẫn không gian bên trong cơ cấu tổ chức, thì triết học có vai trò gì? Có nhiều điều khả dĩ: Triết gia có thể phụng sự ở vai trò 1) nhà tổng hợp việc sản sinh tri thức hàn lâm; 2) nhà hình thức luận mang đến phương tiện hậu thuẫn logic cho lĩnh vực nghiên cứu khắp giới hàn lâm; 3) người phiên dịch mang các kiến giải của giới hàn lâm đến với toàn thế giới; 4) chuyên gia trong ngành, người chú trọng vào các vấn đề triết học đặc trưng trong đạo đức học, nhận thức luận, mĩ học và những phạm vi giống vậy; hoặc 5) ở vai trò kết hợp một số hoặc tất cả những vai trò này.

Hẳn có chỗ cho tất cả những vai trò này. Nhưng xét theo những thực tế về cơ cấu tổ chức, dường như không có lựa chọn thực sự. Các triết gia cần tiếp nhận cấu trúc của trường đại học nghiên cứu thời hiện đại, vốn bao gồm các lĩnh vực chuyên môn khác nhau mà được phân định lẫn nhau. Đó là cách duy nhất nhằm đảm bảo việc tồn tại của lĩnh vực vừa mới phân định, vừa mới tịnh hoá của các triết gia. Các triết gia “thực thụ” hoặc “nghiêm túc” phải được nhận diện, rèn luyện và chứng nhận. Triết học như một ngành đã trở thành một chuẩn mực uy quyền cho cái được xem là triết học đúng đắn.

Đây là hành vi tịnh hoá vốn cho ra đời khái niệm về triết học mà hầu hết chúng ta biết đến ngày nay. Kết quả, và ở chừng mực hiếm khi được công nhận, là mệnh lệnh thực hiện cơ cấu hoá của trường đại học trở thành nguồn thôi thúc cương lĩnh lí thuyết. Nếu triết học sẽ có được một chỗ an toàn trong giới hàn lâm, thì nó cần một địa hạt riêng biệt cho nó, một ngôn ngữ ẩn mật của riêng nó, các chuẩn mực của riêng nó và những mối quan tâm chuyên dụng cho riêng nó.

Đã chọn lấy hình thức cấu trúc như khoa học, ta không ngạc nhiên khi triết học trở thành con mồi cho nỗi niềm tị nạnh với vật lí và những cảm nghĩ cho là mình không tương xứng. Triết học làm theo phương pháp đặc thù khoa học đối với việc sản sinh tri thức, nhưng lại không sánh được với khoa học nếu xét về mức tiến bộ trong việc mô tả thế giới. Nhiều người cho rằng triết học không thể sánh với mức thành công về lĩnh vực tri nhận (cognitive) của các ngành khoa học. Nhưng điều không ai chú ý đến là việc triết học quá sức thành công trong việc phỏng theo hình thức cơ cấu của khoa học. Chúng ta cũng cho ra những bài viết nghiên cứu. Chúng ta cũng nhận được đánh giá từ cùng một kiểu thuộc lĩnh vực khoa học: các sản phẩm được bình duyệt từ hội đồng. Chúng ta cũng phát triển những chuyên môn phụ quá xa vời đối với sự lĩnh hội của người đi đường. Trong tất cả những phương cách này, chúng ta đều rất “khoa học”.

Khi đó, cam quyết của chúng tôi có thể nói đơn giản thế này: Triết học có lẽ không bao giờ tịnh hoá được. Thay vì được nhìn thấy ở dạng một vấn đề, “bàn tay nhơ nhuốc” (“dirty hands”) lẽ ra nên được hiểu là hoàn cảnh ban đầu của tư tưởng triết học – hiện diện mọi nơi, thường nằm ở các khe kẽ, về căn cốt ở bản chất là liên ngành và xuyên ngành. Triết học là một cái máy cán là. Đôi tay triết gia không bao giờ sạch và chưa bao giờ có ý thế.[1]

Có một tầng lớp khác cho câu chuyện này. Hành vi tịnh hoá đi kèm với việc khai sáng trường đại học nghiên cứu thời hiện đại không chỉ là về việc phân biệt các địa hạt tri thức. Chuyện này còn về việc tách li tri thức khỏi phẩm hạnh. Mặc dù có vẻ xa lạ với chúng ta hiện giờ, nhưng trước khi tịnh hoá thì triết gia (và triết gia tự nhiên) được cho là ở bề trên về mặt luân lí so với những dạng người khác. Nhà tư tưởng thế kỉ 18 Joseph Priestley viết rằng “một Triết gia phải là một người vĩ đại hơn và tốt hơn người khác”. Triết học, được hiểu là tình yêu sự thông thái, được xem là một thiên hướng, giống như chức thầy tu vậy. Nó yêu cầu những phẩm hạnh luân lí có ý nghĩa (trước nhất trong số này là tính chính trực và vị tha), và việc truy cầu sự thông thái tới phiên nó lại khắc ghi thêm nữa những phẩm hạnh này. Việc nghiên cứu triết học đã nâng tầm những ai truy cầu nó. Có hiểu biết và làm người tốt được liên kết mật thiết nhau. Nhiều người hiểu rằng mục đích của triết học là trở nên tốt thay vì chỉ đơn giản đi thu thập hoặc sản sinh tri thức.

Như sử gia Steven Shapin đã lưu ý, sự trỗi dậy của nhiều lĩnh vực vào thế kỉ 19 đã thay đổi toàn bộ điều này. Tính dân chủ ẩn tàng của những lĩnh vực này đã mở ra một thời đại mà “giới khoa học có được mức tương đương về luân lí” đối với tất cả những người khác. Vai trò đặc quyền của giới khoa học là cung cấp tri thức trung lập về luân lí vốn cần thiết để đạt được mục tiêu, bất kể tốt hay xấu. Điều này kết liễu bất kì ý niệm cho rằng có một điều gì đó nâng đỡ tinh thần khi nói về tri thức. Sự tịnh hoá làm cho triết học không còn đủ lí lẽ để nói đến tự nhiên, bao gồm bản tính con người, nếu xét về mục đích và chức năng. Vào cuối thế kỉ 19, Kierkegaard và Nietzsche đã chứng tỏ rằng triết học không thiết lập được bất kì chuẩn mực dùng chung nào cho việc chọn lối sống này thay vì lối sống kia. Đây là cách thức mà Alasdair MacIntyre giải thích vị thế đương thời của triết học ở mức vô nghĩa trong xã hội và ở mức bên lề trong giới hàn lâm. Đã từng có một quãng thời gian ngắn ngủi lúc mà triết học có lẽ đã thay thế tông giáo làm chất keo dính cho xã hội, nhưng thời điểm đó đã qua. Người ta đã ngừng lắng nghe khi mà các triết gia chú trọng vào việc tranh luận giữa họ với nhau.

Một khi tri thức và cái tốt bị tách li, giới khoa học có thể được xem là chuyên gia, nhưng không có chuẩn mực luân lí hay bài học nào được rút ra từ công trình của họ. Khoa học có được tính thẩm quyền của mình từ những cấu trúc và phương pháp khách quan, chứ không phải từ tính cách bề trên của khoa học gia. Một khoa học gia đơn lẻ không khác gì một người bình thường; như Shapin đã viết, họ “không có tính thẩm quyền đặc biệt nào để tuyên bố về những điều cần nên làm”. Đối với nhiều người, khoa học trở thành một tấm chi phiếu, và khoa học gia trở thành một công cụ “được khử đi phần luân lí” nhằm phục vụ cho quyền lực, giới công chức và thương mại.

Ở đây cũng vậy, triết học đã phỏng theo khoa học bằng cách dung dưỡng một văn hoá có thể được gọi là “cuộc thi của bậc kì tài”. Hoạt động triết học đã thoái hoá thành một cuộc thi nhằm chứng tỏ mỗi việc người ta có thể khôn khéo đến mức nào trong việc tạo ra hay phá huỷ các luận cứ. Ngày nay, cái thùng khuấy học thuật đầy sôi sục mang tính sản xuất đã giữ cho các triết gia bị buộc chặt vào máy tính của họ. Giống như khoa học, triết học phần lớn đã trở thành một phạm vi chuyên môn, khác biệt duy nhất là chúng ta thao túng từ ngữ thay vì gene hay chất hoá học. Điều lạc lối ở đây chính là ý niệm từng thuộc về lẽ thường, rằng triết gia sẽ truy tầm cuộc sống tốt đẹp – rằng chúng ta phải (mặc cho những thiếu sót của mình) là những công dân và con người mẫu mực. Khi trở thành chuyên gia, ta đã mất đi cái nhìn về toàn thể. Mục đích của triết học hiện nay là trở nên khôn khéo, chứ không phải trở nên tốt. Đó đang là tâm điểm cho sự suy vong của chúng ta.

Robert Frodeman và Adam Briggle dạy tại khoa triết học và tông giáo ở trường University of North Texas. Họ là đồng tác giả cho cuốn “Socrates Tenured: The Institutions of 21st-Century Philosophy.”

 

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20160321

 

Chú thích của người dịch:

[1] Bàn tay nhơ nhuốc (dirty hands): ý chỉ vấn đề về bàn tay nhơ nhuốc trong chính trị, tức chính trị gia có thể được biện minh cho việc làm vô luân của mình khi làm “nhơ nhuốc” đôi tay nhằm thực hiện một mục đích nào đó. Ở đây tác giả bài viết ý nói người ta không nên thanh lọc triết học bằng cách khu biệt nó vào một cơ cấu như trường đại học mà cứ để nó “lấm lem”, “nhơ nhuốc” với bụi hồng trần.

 

Nguồn:

Fordeman, Robert & Adam Briggle. “When Philosophy Lost Its Way.” The New York Times, 1/2016:  http://opinionator.blogs.nytimes.com/2016/01/11/when-philosophy-lost-its-way

 

 

Advertisements

One comment on “Robert Frodeman & Adam Briggle – Khi triết học lạc lối

  1. Pingback: Scott Soames – Ngôi nhà đích thực của triết học | Chiếc nón

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s