Scott Soames – Ngôi nhà đích thực của triết học

Nicole Bengiveno/The New York Times

Nicole Bengiveno/The New York Times

Scott Soames

Ngôi nhà đích thực của triết học

Duy Đoàn chuyển ngữ

Tất cả chúng ta đều nghe nói đến lập luận cho rằng triết học đã bị cô lập, một lĩnh vực “tháp ngà” bị cắt lìa hoàn toàn khỏi mọi hình thức còn lại trong việc truy cầu tri thức vốn có nhiệm vụ thúc đẩy tiến bộ, trong đó có toán và các ngành khoa học, cũng như khỏi những mối quan tâm thực sự thường nhật. Có nhiều lí do cho chuyện này. Trong bài tiểu luận thu hút nhiều độc giả trong mục [The Stone của New York Times] này, “Khi triết học lạc lối”, Robert Frodeman và Adam Briggle cam quyết rằng lí do nằm ở sự cơ cấu hoá của triết học trong trường đại học vào cuối thế kỉ 19 vốn tách li nó ra khỏi lĩnh vực nghiên cứu nhân văn và tự nhiên, nay là phạm vi của khoa học xã hội và khoa học tự nhiên.

Việc cơ cấu hoá này, theo cam quyết của hai tác giả, đã dẫn triết học đến chỗ phụ bạc mục đích trọng tâm trong việc minh giải tri thức cần thiết để sống cuộc đời cao hạnh và xứng đáng. Tôi có quan điểm khác: Triết học không bị tách li khỏi khoa học xã hội, tự nhiên hay toán học, nó cũng chẳng bỏ mặc việc nghiên cứu về cái tốt, công chính và đức hạnh, những thứ vốn chưa bao giờ là mục đích trọng tâm của triết học.

Các tác giả đó cam quyết rằng triết học đã từ bỏ mối quan hệ của mình với những lĩnh vực khác bằng cách tạo nên địa hạt được tịnh hoá của riêng mình, mà chỉ những chuyên gia được cấp chứng nhận mới có thể tiếp cận được. Thực sự là từ khoảng 1930 đến 1950, một số triết gia – đặc biệt các nhà duy nghiệm logic – đã cất tiếng cho rằng triết học có chủ đề dành riêng cho mình. Nhưng bởi lẽ vấn đề này là việc phân tích logic vốn có mục đích thống nhất tất cả khoa học, nên tính liên ngành là điều trước tiên và trọng tâm.

Điều này được người ta hướng theo (tại Anh quốc) trong hai thập kỉ, lúc đó các triết gia hàng đầu đã xem triết học là công việc phân tích ngữ học phi hình thức. May mắn thay, quan điểm hạn hẹp này không ngăn họ đóng góp cho ngành khoa học ngôn ngữ và nghiên cứu luật pháp. Giờ thì mọi sự đã thành dĩ vãng, không phong trào nào định ra triết học cho thời của nó và không cái nào trỗi dậy từ việc đặt triết học trong trường đại học.

Việc triết học đã và vẫn đang bị cô lập khỏi những ngành khác là một ý tưởng vốn lờ đi phần lớn lịch sử của triết học. Từ năm 1879 đến 1936, các toán gia kiêm triết gia Gottlob Frege, Bertrand Russell, Kurt Gödel, Alonzo Church và Alan Turing đã sáng chế ra logic kí hiệu, giúp thiết lập các nền tảng về lí thuyết tập hợp trong toán học, và trao cho chúng ta lí thuyết hình thức cho lĩnh vực tính toán vốn mở ra thời đại kĩ thuật số.

Trong lĩnh vực ngôn ngữ học, từ khoảng năm 1945 đến 1975, các triết gia Rudolf Carnap, Saul Kripke, Richard Montague và David Kaplan đã phát triển các ý tưởng vốn liên hệ logic với ý nghĩa về mặt ngữ học, từ đó cung cấp một khung sườn cho việc nghiên cứu ý nghĩa trong tất cả ngôn ngữ loài người. Số khác, bao gồm Paul Grice và J. L. Austin, đã lí giải cách thức mà ý nghĩa về mặt ngữ học trộn lẫn với thông tin ngữ cảnh để làm phong phú nội dung giao tiếp và cách thức mà các thao tác ngôn ngữ (linguistic performace) làm thay đổi các dữ kiện xã hội. Ngày nay, quan niệm triết học mới về mối quan hệ giữa ý nghĩa và tri nhận đã đưa vào thêm chiều kích khác cho khoa học về ngôn ngữ học.

Lí thuyết quyết định  – khoa học về các quy chuẩn lí tính vốn chi phối hành động, niềm tin và quyết định dưới ảnh hưởng của tính bất định – được phát triển từ những triết gia thế kỉ 20 như Frank Ramsey, Rudolph Carnap, Richard Jeffrey cùng một số người khác. Nó đóng vai trò nền tảng trong khoa học chính trị và kinh tế học bằng cách cho ta biết những điều mà lí tính yêu cầu, căn cứ vào dấu hiệu chứng tỏ, các mức ưu tiên của ta và sức mạnh của niềm tin trong chúng ta. Ngày nay, không mảng nào của triết học lại thành công hơn trong việc thu hút những bộ óc trẻ hàng đầu.

Triết học cũng giúp tâm lí học trong diễn trình dài lâu thoát khỏi thuyết hành vi hạn hẹp và các luận thuyết tư biện kiểu Freud. Góc nhìn chức năng luận hồi giữa thế kỉ 20 do Hilary Putnam đi tiên phong là một góc nhìn đặc biệt quan trọng. Theo đó, các cảm giác đau đớn, thích thú và niềm tin không phải là các tâm tính thuộc hành vi cũng chẳng phải các trạng thái thần kinh học đơn thuần. Chúng là những tác động nội tại tương tác nhau, có thể mang nhiều thể hiện vật chất khác nhau, vốn phục vụ nhiều mục tiêu của nhiều cá nhân theo những cách chuyên biệt. Quan điểm này hiện đã được hằn định vào lĩnh vực tâm lí học tri nhận và khoa học thần kinh.

Triết học còn có vai trò trong vật lí học thế kỉ 20, gây ảnh hưởng đối với các nhà vật lí vĩ đại Albert Einstein, Niels Bohr và Werner Heisenberg. Triết gia Moritz Schlick và Hans Reichenbach đã đáp lại mối lưu tâm đó bằng cách dung nhập vật lí mới vào các triết lí của mình. Ngày nay, các triết gia hàng đầu – bao gồm David Albert, Hans Halvorson, Laura Ruetsche, Hilary Greaves và David Wallace – giải thích vật lí lượng tử cho người ngoài cuộc, đồng thời khái niệm hoá các vấn đề theo những cách hữu ích đối với giới vật lí. Triết học về sinh học cũng đi theo con đường tương tự. Triết học về khoa học ngày nay khó tiếp cận hơn triết học tự nhiên của Aristoteles chủ yếu vì nó đã hệ thống hoá một kiến thức lớn hơn, tinh vi hơn về mặt chuyên môn.

Mối tương tác giữa triết học với toán học, ngôn ngữ học, kinh tế học, khoa học chính trị, tâm lí học và vật lí học cần đến sự chuyên môn hoá. Trái với việc dung dưỡng sự cô lập, sự chuyên môn hoá này làm cho giao tiếp và hợp tác giữa các ngành trở nên khả dĩ. Điều này luôn thế. William xứ Ockham, Descartes, Leibniz và Kant đều chịu ảnh hưởng nhiều từ khoa học và toán học vào thời của họ. Locke và Hume đáp lại Newton không phải bằng sự ganh tị và cảm giác thấp kém (điều mà Frodeman và Briggle đã sai lầm gán cho các triết gia khi các triết gia này đáp lại nền khoa học thế kỉ 20), mà bằng nỗi khát khao áp dụng các bài học của Newton vào các triết thuyết tự nhiên luận bàn về tinh thần, khi ấy hãy còn là lĩnh vực tâm lí học đang trên đà phát triển.

Tiến bộ khoa học cũng không tước đi của triết học cái chủ đề khoa học từng tồn tại trước đó, mà để cho triết học tập trung vào vấn đề luân lí rộng hơn. Thực tế, triết học nảy nở khi người ta biết đủ để làm cho sự tiến bộ trở thành điều hình dung được, nhưng triết học vẫn còn dang dở bởi sự mơ hồ trong phương pháp luận. Triết học giúp phá vỡ thế bế tắc bằng cách minh giải các câu hỏi mới, nêu ra các giải pháp khả dĩ và cố công sinh ra những công cụ khái niệm mới.  Đôi khi nó làm vậy khi các ngành khoa học ra đời, như với trường hợp vật lí thế kỉ 17 và sinh học thế kỉ 19. Nhưng nó cũng làm vậy khi các ngành này trưởng thành. Khi khoa học tiến lên, sẽ có thêm, chứ không bớt, nhiều điều cần làm dành cho triết học.

Tri thức của ta về vũ trụ và bản thân ta mở rộng như một làn sóng gợn quanh một hòn sỏi được thả vào một hồ bơi. Khi ta di chuyển ra xa trung tâm của vòng tròn lan toả, thì khu vực của nó, tượng trưng cho tri thức an toàn của ta, sẽ mở thêm ra. Nhưng việc đó cũng đúng với đường tròn của sóng gợn, vốn tượng trưng cho đường biên mà tại đó tri thức trở nên nhạt nhoà tan vào vùng bất định và tư biện, và sự mơ hồ về phương pháp luận quay trở lại. Triết học đi tuần quanh đường biên ấy, tìm cách hiểu cách thức chúng ta đến được đó và tìm cách khái niệm hoá động thái tiếp theo của ta. Công việc của nó đang tiếp diễn không ngừng.

Mặc dù tiến bộ trong đạo đức học, triết học chính trị và sự xiển minh ý nghĩa cuộc đời đã bớt ấn tượng so với những bước tiến trong những khu vực khác, nhưng tiến bộ đó đang tăng tốc.  Sau sự xói mòn niềm tin nơi lí thuyết đạo đức trong khoảng 3 thập niên đầu thế kỉ 20, và sau những lời kêu gọi bãi bỏ lí thuyết đó trong khoảng 3 thập niên giữa, thì John Rawls và Robert Nozick đã hồi sinh các lí thuyết về công chính vào đầu thập niên 1970. Các lí thuyết đạo đức toàn diện, bao gồm của Thomas Scanlon và Stephen Darwall, cũng tái xuất hiện. Ngay cả những cuộc đàm luận về cái chết và ý nghĩa cuộc đời cũng quay trở lại, đi đầu là Thomas Nagel, Samuel Scheffler, Shelly Kagan, Susan Wolf và một số vị khác. Như đồng nghiệp Jake Ross của tôi đã nhận định, sự am hiểu của ta có được những bước tiến nhờ vào sự hình thành và nhờ vào sự đánh giá mang tính phê phán đối với các lí thuyết về cái tốt, cái đúng, công chính cũng như về hạnh phúc (human flourishing – eudaimonia) kể từ thập niên 1970, và những bước tiến đó tương tự những bước tiến do các triết gia thực hiện từ thời Aristoteles đến 1970.

Tri thức cần có để duy trì nhiệm vụ không ngừng của triết học, bao gồm mối nối kết cần yếu với ngành khác, là thứ quá sức hoằng viễn để một bộ óc có thể nắm giữ được. Mặc dù ý tưởng thường xuyên lặp lại cho rằng tiếng gọi đích thực của triết học chỉ có thể được thực hiện trọn vẹn ở khu quảng trường công cộng, nhưng các triết gia thực sự công tác tốt nhất trong khuôn viên đại học, tại đó họ thụ đắc và san sẻ tri thức với đồng nghiệp ở những ngành khác. Cũng là điều cần yếu để cho triết gia gắn kết với sinh viên – cả những sinh viên chuyên ngành triết và những sinh viên ngành khác. Mặc dù triết học chưa bao giờ có được lượng đông đảo người tiếp nhận, nó vẫn là lĩnh vực khá dễ tiếp cận đối với sinh viên trung bình; khác với các ngành khoa học tự nhiên, ta có thể đến được các ranh giới của triết học sau vài khoá đại học.

150 năm vừa qua hoàn toàn không phải là “thất bại trường kì” mà là khoảng thời gian tuyệt hảo nhất của triết học.

Scott Soames là trưởng họckhu triếthọc tại Dornsife College of Letters, Arts and Sciences thuộc trường University of Southern California. Ông là tác giả cuốn sách “The Analytic Tradition in Phlosophy (Truyền thống phân tích trong triết học)”.

 

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20160321

Nguồn:

Soames, Scott. “Philosophy’s True Home.” The New York Times, 03/2016: http://opinionator.blogs.nytimes.com/2016/03/07/philosophys-true-home/.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s