Viet Thanh Nguyen – Ngợi ca lòng hoài nghi và cái vô dụng

Viet Thanh Nguyen

Ngợi ca lòng hoài nghi và cái vô dụng

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Gần đúng 20 năm trước, tôi đến Los Angeles vào tháng Sáu. Trước đó tôi đã nhận bằng tiến sĩ ở trường University of California, Berkeley vào tháng Năm và đã bước sang tuổi 26 vào tháng Hai. Mùa hè năm ấy, tôi tìm được một căn hộ nhỏ ở Silver Lake và bắt đầu chuẩn bị sự nghiệp mới ở cương vị giáo sư trường University of Southern California. Tôi nhìn lại bản thân mà trong lòng cảm thấy mịt mờ và cảm thông, vì có nhiều thứ tôi không biết lúc tôi 26 tuổi. Tính ngây thơ của tôi đã bảo vệ tôi khi tôi ngồi xuống viết ở cái bàn nhỏ trong nhà bếp và trong mùa hè nóng ngột ngạt đầu tiên ở Los Angeles tôi khởi sự một tập truyện ngắn.  Nếu tôi biết tập truyện này sẽ làm tôi tiêu tốn mất 17 năm mới hoàn thành, và thêm ba năm nữa mới xuất bản được, thì có lẽ tôi thậm chí không bao giờ khởi sự việc làm ấy.

Nhưng sự vô tri đôi khi – không phải luôn luôn, mà là đôi khi – có thể hữu ích tựa như tri thức vậy. Vô tri hữu ích khi ta nhận thức được nó. Trong trường hợp của tôi, nói như vị cựu bộ trưởng Quốc phòng, tôi biết điều tôi không biết, và tôi biết rằng tôi muốn biết nó, nhưng tôi không biết làm sao để biết nó. Tôi biết rằng tôi muốn viết văn, và tôi biết rằng tôi muốn tạo ra công cuộc nghiên cứu mang tính cách tân, nhưng tôi không biết cách nào làm cả hai điều ấy. Tôi cũng biết rằng các trường đại học không tưởng thưởng cho sự vô tri, hoặc cho lời thú nhận về sự vô trí, và thế là tôi giữ cái vô trí ấy cho bản thân rồi vờ như tôi biết mình sẽ làm gì.

Hành vi tạo sự hư cấu đã thành công, dẫn tới việc tôi vào được biên chế trường đại học, sáu năm sau đó. Để vào biên chế, tôi đã làm những điều tôi biết cách thực hiện, tôi trở thành một chuyên gia học thuật và viết một cuốn sách học thuật, vốn là thứ tôi được thuê để làm ở cương vị một học giả. Bằng lối nghĩ ngây thơ, tôi đã tự nhủ rằng sau khi tôi viết xong cuốn sách ấy và có được quyền tự do làm việc trong biên chế, tôi sẽ viết văn. Hẳn là chỉ cần đôi ba năm để hoàn thành tập truyện ngắn ấy, và sau đó nó sẽ được bán và xuất bản và đoạt các giải thưởng và tôi sẽ nổi tiếng. Tôi lờ mờ biết được, nhưng không thực sự hiểu được, chuyện viết văn đòi hỏi nhiều ở tôi đến dường nào, nó sẽ phế trừ tôi đến dường nào ở cương vị một chuyên gia, làm tôi trở nên bi thương vô cùng nhưng kì cùng để tôi phấn đấu thành một nhà văn và một học giả.

Trong chín năm kế tiếp, tôi nhận biết được thế nào là bi thương khi cố công cho tập truyện ngắn chết tiệt kia. Tôi không biết mình đang làm gì, và điều tôi cũng không biết, khi đối diện màn hình máy tính và bức tường trắng, vốn đang dần phai màu, chính là việc tôi sắp trở thành một nhà văn. Trở thành nhà văn một phần là vấn đề của việc thủ đắc kĩ thuật, nhưng nó còn là một vấn đề khác quan trọng không kém, về tinh thần và thói quen của tâm trí. Chính tinh thần tự nguyện ngồi trên cái ghế ấy suốt hàng nghìn giờ, thi thoảng được người đời nhìn nhận chút ít, cam chịu nỗi bi thương trong lúc viết với niềm tin rằng dù tôi có vô tri mặc lòng, một biến chuyển rồi cũng sẽ đến thôi.

Đó là hành động của niềm tin, và niềm tin hẳn sẽ không còn là niềm tin nếu nó không nhọc nhằn, nếu nó không là một thử thách, nếu nó không là một hành động thoát thai từ sự vô tri thật kiên ngạnh, khi tin vào một điều mà ta không thể tiên đoán cũng như không thể chứng minh được bằng bất kì thước đo khoa học nào.

Đồng thời, tôi thử thách bản thân mình ở cương vị học giả. Tôi bắt đầu bỏ công sức vào một cuốn sách nghiên cứu. Tiến triển của cuốn sách này song hành cùng quá trình viết văn của tôi, và nếu tôi biết được cuốn sách nghiên cứu về kí ức Chiến tranh Việt-nam này sẽ mất 14 năm mới xuất bản, thì có lẽ tôi đã chọn đề tài khác. Một lí do cho quãng thời gian lâu đến thế là vì công trình này khảo xét văn chương, phim ảnh, các viện bảo tàng, các vật tưởng niệm, chính trị, triết lí và lịch sử. Nhưng một điều còn thử thách hơn nữa đối với tôi chính là chuyện tôi muốn cuốn sách này là một công trình vừa mang tính khảo chứng vừa có chất sáng tạo, tựa hồ như tôi muốn văn của tôi vừa có chất sáng tạo vừa mang tính khảo chứng. Nhưng tôi không biết cách thực hiện việc này, và không ai có thể chỉ cho tôi điều này, và kỉ luật là thứ cần đến để ngồi trên ghế suốt hàng bao nhiêu giờ đồng hồ trong hơn 20 năm rồi mới có thể tiếp cận được cách hoà hợp tính khảo chứng và chất sáng tạo.

Tô đã kể câu chuyện về sự vô tri và ngây thơ của tôi, về những cuộc vật lộn và những nỗi hồ nghi của tôi, vì hầu hết độc giả chỉ biết đến sản phẩm chung cuộc đến từ những nỗ lực của nhà văn hoặc học giả. Sản phẩm chung cuộc ấy, cuốn sách ấy, hiện ra thật tự tin và thật nhiều tri thức. Tự tin và tri thức, và những “thước đo” đánh giá cùng sự tiến bộ là những thứ vốn thấm đẫm cuộc đời chúng ta dưới mái trường, trong các công ti và các cơ quan, và chúng chính là những thứ che khuất đi những cách thức bí ẩn, nương theo trực giác và chậm rãi – đôi khi rất chậm – vốn là những cách thức được dùng để vận hành các lĩnh vực nghệ thuật và nghiên cứu. Có lúc trường đại học – thực sự là khắp mọi nơi – yêu cầu tăng năng suất và đòi hỏi đong đếm sản lượng, thì điều quan trọng là cần nhìn nhận rằng ta không thể định lượng cũng như không thể thúc đẩy tầm mức quan yếu trong những công việc mà chúng ta thấy hệ trọng, bất kể trong lĩnh vực gì.

Trong trường hợp của tôi, người ta nhìn vào tôi có thể thấy rằng tôi đã xuất bản ba cuốn sách trong ba năm qua và nghĩ rằng tôi viết nhanh và bút lực dồi dào, mà không nhận ra rằng tôi đã mất 20 năm suy tư chậm rãi – rất chậm – và lao động cật lực để cho ra đời những cuốn sách ấy. Điều quý giá về những thế giới nghệ thuật và nhân văn của tôi là chúng tạo ra không gian cho loại suy tư chậm rãi này. Và qua điều này ý tôi muốn nói rằng chúng ta trân trọng các loại hình nghệ thuật và nhân văn không chỉ vì ta có thể tạo ra thành quả vật chất và những phần thưởng mà chúng có thể đem lại, như giải Pulitzer. Mà thay vào đó, chúng ta nên trân trọng các loại hình nghệ thuật và nhân văn vì chúng ban đặc quyền cho ta có được cái bí ẩn và trực giác vốn có thể làm nên những khoảnh khắc hiển lộ và cách tân.

Tôi nghĩ đến tiểu thuyết gia Murakami Haruki, người sánh việc viết tiểu thuyết với việc đào một cái lỗ thật sâu vào lớp đá để tìm đến nguồn nước ngọt. Tiếp cận cái bí ẩn và trực giác là việc làm nhọc nhằn và là một canh bạc, bởi không có gì chắc chắn rằng ta sẽ tìm được nguồn nước ấy. Ta cần các trường đại học và các chính phủ đầu tư vào các loại hình nghệ thuật và nhân văn sao cho ta có thể dạy sinh viên về tầm quan trọng của bí ẩn và trực giác, và về việc cần phải liều lĩnh, cần phải đánh cược vào niềm tin và giá trị của ta. Và ta cần các trường đại học và các chính phủ bảo trợ và bồi dưỡng cho giới nghệ sĩ và học giả – dẫu cho họ phải tốn nhiều thập niên cho tác phẩm của mình, dẫu cho nghệ sĩ và học giả ẩn tàng trong lớp vỏ mịt mờ khi đang tiến hành công việc của mình, dẫu cho canh bạc ấy không phải lúc nào cũng được đền đáp.

Tất nhiên, cuốn tiểu thuyết “The Sympathizer (Cảm tình viên)” của tôi lúc này đây không mờ mịt vì đã có giải Pulitzer. Nhưng cuốn tiểu thuyết này cũng có cơ may không nhận được giải thưởng đó, cũng có cơ may chìm vào quên lãng vì thiếu giải thưởng, cho dù khi nhận giải thì nội dung cuốn tiểu thuyết cũng không có gì khác đi. Vận may của cuốn tiểu thuyết chỉ thay đổi cách người ta nhìn vào nó, chứ không thay đổi chính bản thân nó. Tôi nghĩ đến tất cả những cuốn tiểu thuyết khác mà lẽ ra đã thắng giải, hoặc tất cả những cuốn tiểu thuyết không thắng giải ở những năm kia, những cuốn lẽ ra có thể thắng giải. Những cuốn tiểu thuyết không ai công nhận, như thời gian đã chứng tỏ, sẽ có được khúc khải hoàn trong lịch sử văn chương. Điểm mấu chốt là các giải thưởng cùng tất cả những thứ mà chúng tượng trưng về mặt thị hiếu, về mặt phán đoán, về mặt hư vinh và định kiến của chúng ta, tất thảy đều phù du. Cái chúng ta vô tri ở hiện tại có thể là cái mà tương lai sẽ trân trọng.

Biết đến dạng vô tri này sẽ làm ta khiêm nhường, và cũng làm ta ý thức được rằng những điều có vẻ trông vô dụng vì chúng không được tưởng thưởng và công nhận, một ngày nọ có thể trở thành thứ hữu dụng hết mực. Mặc dù dạng công việc tưởng chừng vô dụng này thường xảy đến trong khoa học, nhưng cái gánh nặng của sự vô dụng lại đè lên nghệ thuật và nhân văn bằng một trọng lượng lớn hơn nữa trong một thế giới ngày càng trân trọng cái hữu dụng. Khi tôi trở thành sinh viên học kép hai ngành Anh văn và nghiên cứu sắc tộc hồi 27 năm trước, tôi đã liều mình đi nghiên cứu những thứ mà rất nhiều người có thể sẽ nghĩ là vô dụng. Có lẽ cha mẹ của tôi, những người chủ tiệm di dân vốn chưa bao giờ học đại học và thường làm việc 12 đến 14 giờ mỗi ngày gần như suốt ngày này qua tháng nọ, đã nghĩ việc học của tôi là thứ vô dụng. Nhưng phải nói là nhờ công lao của cha mẹ tôi khi họ đã đè nén bao nỗi hoài nghi và hỗ trợ cho việc học có thể là vô dụng của tôi. Họ cũng như tôi đều không biết tương lai tôi ra sao, nhưng họ có niềm tin ở tôi.

Đây là điều tôi nghĩ nhiều người trong số chúng ta, những người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật và nhân văn, nên hi vọng nhận được từ trường đại học, từ chính phủ, và từ những sinh viên đôi lúc hay ngờ vực và cha mẹ của họ: kiên nhẫn và tin tưởng vào chúng ta khi chúng ta thử thách giới hạn của sự vô tri trong tâm trí mình, khi chúng ta theo đuổi những điều mà có thể trông rất vô dụng, khi chúng ta đi kiếm tìm cái bí ẩn và trực giác ấy, những thứ vốn đang hiện hữu bên trong tất cả chúng ta.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20170417

Nguồn:

Nguyen Thanh Viet; “In praise of doubt and uselessness”; Los Angeles Times, 4/2017: http://www.latimes.com/books/jacketcopy/la-ca-fob-viet-thanh-nguyen-20170414-story.html

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s