Robin Wood – Về bộ phim Ugetsu monogatari (1953) của Mizoguchi Kenji

ugetsu-monogatari-1953

Robin Wood

Về bộ phim Ugetsu monogatari (1953) của Mizoguchi Kenji

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Ugetsu monogatari không phải phim đầu tiên của Mizoguchi Kenji được chiếu ở Tây phương, nhưng đây là phim đầu tiên để trưng ông ra trước Tây phương ở vai trò một nghệ sĩ lớn. Sau khi nhanh chóng tự đặt định mình (đặc biệt ở Pháp) trong nhiều danh sách “tốp 10” của nhiều nhà phê bình, bộ phim đã mở lối đón nhận sự tán thưởng dành cho sự nghiệp cuối đời của Mizoguchi. Đối với một số người, ông trở thành một nhà làm phim đại tài, một Shakespeare trong điện ảnh, một người đã hiện thực hoá tối đa cái tiềm năng của phim ảnh như một hình thức nghệ thuật. Đó là lúc mà “tiềm năng của phim ảnh” được công chúng cảm thấy là đã được nhìn nhận và được giải trình xác đáng nhờ công của André Bazin; và đó là sự đánh giá vẫn còn có thể chấp nhận được nếu ta thêm điều kiện là Bazin chỉ trình bày một trong số nhiều tiềm năng của phim ảnh. Continue reading

[Điểm phim] Good Morning, Vietnam (1987)

Good Morning, Vietnam (1987)

Bối cảnh phim diễn ra vào năm 1965, thời điểm mà Mĩ bắt đầu đưa những toán quân chính quy của mình vào Việt-nam nhằm hỗ trợ chính quyền miền Nam Việt-nam chống lại quân cộng sản Bắc Việt. Câu chuyện chủ yếu xoay quanh đài AFR (Armed Forces Radio) Sài-gòn, nơi mà nhân vật chính Cronauer (Robin Williams) đến đảm nhiệm chương trình buổi sáng và biến mọi thứ tại đây trở nên sống động hơn, vui tươi hơn, và tất nhiên là không còn theo lề thói như trước nữa. Không còn những bản nhạc “nghiêm túc” như của Mantovani hay Percy Faith, mà thay vào đó là những bản nhạc rock-n-roll vốn vừa chớm nở và thịnh hành rộng khắp Âu-Mĩ thời bấy giờ. Hầu hết lính Mĩ đều là những chàng trai trẻ, lòng đầy nhiệt huyết, thế thì cớ chi phải “tra tấn” họ bằng những bản nhạc “nghiêm túc”, cớ chi không để rock-n-roll thổi bùng ngọn lửa trong họ, lắc lư họ như cái cách nó vốn dĩ đang làm với giới trẻ Âu-Mĩ thời đó, hẳn Cronauer đã nghĩ thế khi anh phát loại nhạc này để thay thế loại nhạc “nghiêm túc” kia. Continue reading

Andrew Horton – Về bộ phim Thelma and Louise của Ridley Scott

Thelma and Louise (1991)

Andrew Horton

Về bộ phim Thelma and Louise của Ridley Scott

Duy Đoàn chuyển ngữ

Như nhà biên kịch lần đầu trình làng Callie Khouri đã giải thích, “hai phụ nữ tiếp tục một cuộc du ngoạn phạm tội” là nguồn hứng khởi ban đầu đằng sau kịch bản mà trở thành bộ phim rồi sau đó trở thành một tác phẩm truyền kì khắp thế giới, Thelma and Louise.

Khouri rốt cuộc đoạt được một Oscar cho hạng mục Best Original Screenplay (Kịch bản gốc hay nhất) cho những nỗ lực của mình, nhưng quan trọng hơn, bộ phim đã trở thành một sự kiện “phải xem” và “phải thảo luận” vốn gây xúc động, làm tức tối, tiếp sức và gieo nỗi sợ cho nhiều người xem. Danh sách dài các bài viết về phim này bản thân nó là sự chứng nhận cho mối lưu tâm mà được khơi lên từ bộ phim phiêu lưu trên đường về tình bằng hữu ngoài vòng phát luật của nữ giới vào thời điểm bộ phim ra mắt (họ thậm chí còn lên trang bìa của tờ Time) và kể từ đó về sau. Continue reading

[Điểm phim] Postřižiny (1980) của Jirí Menzel

Postriziny (1980)

 

Đạo diễn: Jirí Menzel

Bộ phim dựa trên tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Czech Bohumil Hrabal. Câu chuyện lấy bối cảnh xung quanh một nhà máy bia ở một thị trấn nhỏ của Tiệp-khắc, thời điểm có lẽ là vào thập niên 1920-1930.

Phim mở đầu bằng một câu đầy khoái cảm:

“Vaše podlomené zdraví, pivo upevní a spraví”

(“Feeling weak and pale, down a pint of ale”). Continue reading

Jean Cocteau – Về bộ phim Orphée (1950)

Orphée (1950)

Jean Cocteau

Về bộ phim Orphée (1950)

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Robin Buss

 

Khi tôi thực hiện một bộ phim, nó là một giấc ngủ trong đó tôi đang mơ. Chỉ những người và những nơi chốn của giấc mơ đó mới là điều quan trọng. Tôi gặp khó khăn trong việc tiếp xúc với người khác, như một người đang ở trạng thái nửa thức nửa ngủ. Nếu một người đang ngủ và ai đó đi vào phòng của người này, thì người khác đó không hiện hữu. Anh ta hay cô ta chỉ hiện hữu nếu được đưa vào các sự kiện trong giấc mơ. Chủ nhật không phải một ngày thực sự để tôi nghỉ ngơi, tôi cố quay lại giấc ngủ càng nhanh càng tốt.

Chủ nghĩa hiện thực trong tính phi hiện thực là một cạm bẫy thường trực. Mọi người luôn có thể bảo tôi rằng điều này có thể, hay điều kia không thể; nhưng liệu chúng ta có hiểu được bất kì điều gì về những lối vận hành của số phận? Đây là một cơ chế bí ẩn mà tôi đã cố làm cho nó hiển hiện ra. Tại sao Tử thần của Orpheus lại ăn mặc theo cách này hay cách kia? Tại sao cô ta lại di chuyển trong một chiếc Rolls, và tại sao Heurtebise lại có thể dùng ý chí để hiện ra và biến mất trong một số trường hợp, nhưng lại quy phục trước quy luật của con người trong một số trường hợp khác? Đây là niềm trăn trở đời đời vốn luôn ám ảnh các nhà tư tưởng, từ Pascal cho đến các nhà thơ. Continue reading

[Điểm phim] The Kingdom of Dreams and Madness (2013)

The Kingdom of Dreams and Madness (2013)

Bộ phim tài liệu này chủ yếu chú trọng vào Miyazaki Hayao và tác phẩm cuối cùng của ông, Kaze tachinu (The Wind Rises). Phim cho người xem cái nhìn tổng quan về quá trình làm việc của Studio Ghibli nói chung và Miyazaki nói riêng.

Cho đến giai đoạn cuối cùng của mình, thì Miyazaki (và cả Ghibli) đều trung thành với việc làm phim hoạt hình bằng phương thức vẽ tay. Cả hãng Ghibli 400 nhân viên thì hết 100 người được huy động để thực hiện Kaze tachinu, dưới sự giám sát và chỉ dẫn chặt chẽ của Miyazaki: từ động tác đi của nhân vật, đến cách phát ngôn, hành vi theo phong tục, nhất nhất đều chính xác từng li từng tí, nhằm phù hợp với thời đại bối cảnh trong phim. Continue reading

[Điểm phim] Boyhood (2014) – Từ cậu bé bầu bĩnh cho đến chàng trai râu ria: Trưởng thành theo thời gian thực

Tác giả: Manohla Dargis

Lời người dịch: Phim Boyhood (2014) của đạo diễn Richard Linklater là một phim hết sức đặc biệt, vì quá trình quay kéo dài 12 năm liên tục (thời gian quay mỗi năm chưa đến một tuần) với cùng một dàn diễn viên. Sau khi xem phim, tôi đã tìm đọc một số bài điểm phim của các nhà phê bình thuộc các tờ lớn như New York Times, New Statesman, New Republic, The Village Voice, Sight & Sound, Film Comment, Film Quarterly, v.v., và thấy bài này của bà Manohla Dargis thuộc tờ New York Times là bài viết tốt nhất và tuy chưa phải là đầy đủ hết nhưng cũng gần như bày tỏ được chính xác những điều cần nói về phim này.

Deana Newcomb - IFC Films

Deana Newcomb – IFC Films

Cảnh đầu tiên trong “Boyhood”, bộ phim dịu dàng, sâu sắc của Richard Linklater, là cảnh bầu trời nhiều mây. Cảnh thứ nhì là về một cậu bé đang nhìn chăm chăm vào bầu trời đó, với một cánh tay gập lại đặt dưới đầu, còn cánh tay kia vươn ra trên mặt đất. Cậu là một đứa trẻ xinh xẻo với đôi mắt điềm đạm, cái mũi hếch và cái miệng có hàm răng kín kẽ. Đây là gương mặt mà bạn sắp biết và sắp sửa yêu quý bởi vì, cũng như đứa trẻ này đang quan sát cõi sống, bạn đang quan sát cậu ta lớn lên. Từ cảnh này qua cảnh nọ, bạn sẽ thấy nét cong ở hàm của cậu thay đổi, sẽ để ý thấy đường chân mày đậm dần lên và chứng kiến đôi cánh tay thanh mảnh của cậu dang rộng ra ôm lấy cả cõi sống cùng bầu trời sáng tỏ lẫn bầu trời đang dần tối.

Được quay hơn 12 năm liên tục, “Boyhood” xoay quanh Mason (Ellar Coltrane), lên 6 lúc câu chuyện bắt đầu và được 18 khi câu chuyện kết thúc. Trong khoảng thời gian nằm giữa, cậu đi học; cãi nhau với cô chị, Samantha (Lorelei Linklater, con gái đạo diễn); và quan sát người mẹ của mình, Olivia (Patricia Arquette), tranh đấu với công việc và với đàn ông trong lúc xoay xở thanh toán các loại hoá đơn, chuyển từ nhà này sang nhà khác và đạt được một số bằng cấp. Đôi khi, chồng cũ của bà, Mason Sr. (Ethan Hawke), lao vào đời bọn trẻ, ban đầu bằng chiếc 1968 GTO. Đó không phải là chiếc xe hơi của người cha (mặc dù nó có thuộc về một người cha: ông Linklater). Mà thay vào đó, nó cùng mẫu với chiếc ngầu ngầu nam tính gầm gừ xuyên suốt “Two-Lane Blacktop”, một trong những phim ưa thích của ông Linklater, và là chiếc mà ông đã tuồn vào những bộ phim như “Slacker” và “Dazed and Confused”. Continue reading

Về bộ phim Kaze tachinu (The Wind Rises, 2013) của Miyazaki Hayao

The Wind Rises (2013)

Lời nói đầu: Tác phẩm mới nhất và có lẽ cũng là cuối cùng của bậc thầy hoạt hình Nhật Miyazaki Hayao. Cả bộ phim nói về một người sống hết lòng vì ước mơ, và làm hết mình để thực hiện hoài bão của mình, dẫu cho kết quả của hoài bão ấy thật là kinh khủng và gây ra thật nhiều tai ương. Tình tiết câu chuyện trong phim nhiều chỗ lãng đãng như mây trời, nhiều chỗ lấp lửng, thi vị tựa như một bài thơ. Những cơn gió dịu dàng thì thật dễ chịu, nhưng khi chúng nhân bội lên thì cũng thật đáng sợ. Chúng mang cô gái đến với anh, mà cũng mang cô gái đi khỏi anh; chúng đem đến cho anh niềm vui thích ở chuyện bay lượn, mà cũng cuốn phăng đi sức lực và tinh thần nơi anh, và cả đất nước anh nữa.

Thế đấy, được đó, mất đó, gió cứ nổi, dòng đời cứ trôi, và ta vẫn phải sống.

Bộ phim này còn dấy lên nhiều chuyện tranh cãi, chủ yếu xoay quanh việc Miyazaki làm một phim về việc sản xuất máy bay dùng cho chiến tranh. Sau đây là một bài viết trên trang NPR về vấn đề này.

Continue reading

10 bộ phim tuyệt vời dựa trên những cuốn sách kinh điển dành cho trẻ em

Tác giả: Samuel Wigley

Một quyển sách hay đọc lúc giờ đi ngủ sẽ là thứ khơi gợi nên trí tưởng tượng ở trẻ nhỏ, nhưng tái dựng sự huyền ảo đó lên màn ảnh quả là bài toán không dễ chút nào. Sau đây là 10 bộ phim tuyệt vời có thể làm được chuyện đó.

The Wizard of Oz (1939)

Đạo diễn: Victor Fleming

The Wizard of Oz

Dorothy sống ở giữa những vùng thảo nguyên rộng lớn của Kansas với chú Henry, một người nông dân, và thím Em, vợ của người nông dân đó. Căn nhà thì nhỏ, bởi vì người ta phải dùng xe ngựa chở gỗ từ nhiều dặm đường đến để xây căn nhà đó.

The Wonderful Wizard of Oz của L. Frank Baum (1900)

The Wonderful Wizard of Oz

Cuốn tiểu thuyết The Wonderful Wizard of Oz mở đầu khiêm nhường như thế. Đây là câu chuyện về một cô bé buồn chán ở một vùng nông trại, và trong một cơn gió xoáy cô bé này được đưa tới vùng đất Oz huyền ảo. Những phiên bản sân khấu và phiên bản điện ảnh thuở ban đầu của tác phẩm này bắt đầu xuất hiện ngay sau khi cuốn sách được xuất bản, và Sam Raimi là đạo diễn gần nhất chuyển thể câu chuyện này, với bộ phim Oz the Great and Powerful (2013).

Nhưng phiên bản âm nhạc năm 1939 của MGM mới là phiên bản đáng nói nhất, gần như che phủ tác phẩm văn học gốc bằng cách dùng những kĩ thuật quay phim màu Technicolor tuyệt vời khi thể hiện những chi tiết như Con đường Gạch Vàng, Thành phố Ngọc lục bảo, mụ Phù thuỷ Xấu xa Tây phương, và những người bạn đồng hành thân thiện của Dorothy như tay Bù nhìn, Người Thiếc và Sư tử Nhút nhát. Diễn viên Judy Garland đã hớp hồn cả thế giới khi vào vai cô bé Dorothy mặc áo bông kẻ ô và mơ tới một nơi huyền ảo xa xăm nào đó. Continue reading

[Điểm phim] 2030

Tác giả: Maggie Lee (tờ Variety)

2030 - film poster

Nước, nước khắp mọi nơi, nhưng gần như không có một giọt liền lạc. Một phim khoa học viễn tưởng, lãng mạn – hồi hộp với những cảnh quay lộng lẫy lấy bối cảnh ở Việt-nam thời tương lai vốn bị nhấn chìm một nửa trong nước biển do hậu quả của sự biến đổi sinh thái, 2030 tạo nên một thế giới biển cả lấp lánh, nhưng lại để những ý tưởng trôi bềnh bồng với phần dựng cốt truyện cường điệu và những khuôn sáo về thế giới không tưởng, nhấn chìm trong cả diễn trình là mối tình tay ba thoạt đầu đơn giản mà lại say đắm lòng người. Chính những chi tiết đầy hứng khởi về mặt thẩm mĩ này đã làm cho phim của Nguyễn Võ Nghiêm-minh lượn khắp các liên hoan phim và sau rốt công chiếu tại nhiều rạp ở Mĩ và châu Âu.

2030 - screenshot

Nguyễn Võ Nghiêm-minh là một kĩ sư hàng không, sinh ra tại Việt-nam, tiếp nhận nền giáo dục Pháp và Mĩ, ông làm bộ phim đầu tay vào năm 2006 với The Buffalo Boy, một phim cũng có mặt tại nhiều liên hoan phim. Mặc dù bộ phim đó lấy bối cảnh thời thực dân Pháp và mô tả thật xúc động mối quan hệ cha-con/thầy-trò, nhưng cái chất trữ tình cơ bản của nó vẫn còn vang vọng lại trong phim 2030 khi bộ phim này mô tả về một cặp nam nữ sống một cuộc đời thanh đạm mà như thiên đường tại nơi ở trôi nổi bồng bềnh của mình. Lần này, bộ phim chính kịch của ông (được chuyển thể từ truyện ngắn “Nước như nước mắt” của Nguyễn Ngọc Tư) được làm phong phú lên nhờ tập trung vào nhân vật nữ cuốn hút và can trường, người không bị oằn mình chịu khuất phục trước sự đe doạ hay trước việc khai trừ xã hội nhằm theo đuổi tình yêu và chân lí. Continue reading