Святлана Алексіевіч (Svyatlana Alyeksiyevich): Người biên niên cho vùng đất không tưởng

 “Tôi đang tìm kiếm một thể loại cho phép mình có thể đánh giá được gần đúng nhất cái cách tôi thấy và nghe cõi sống này. Cuối cùng tôi chọn thể loại về những tiếng nói và những lời tự thuật thực sự của con người. Ngày nay khi con người và thế giới trở nên đa diện và đa dạng, khi chúng ta cuối cùng nhận ra con người quả thực bí ẩn và khôn dò như thế nào, thì một câu chuyện về một cuộc đời, hay nói đúng ra là cái chứng cứ tài liệu về câu chuyện này, sẽ mang chúng ta đến gần thực tại nhất.”

– Alyeksiyevich

Ảnh: Vasily Fedosenko/Reuters

Ảnh: Vasily Fedosenko/Reuters

Svyatlana Alyeksiyevich sinh ngày 31/5/1948 tại thị trấn Ivano-Frankovsk ở Ukraina trong một gia đình quân nhân. Cha của bà là người Belarus và mẹ của bà người Ukraina. Sau khi người cha giải ngũ và cả gia đình trở về quê hương Belarus, định cư tại một ngôi làng nơi đó cha mẹ của bà làm nghề dạy học. (Ông của người cha cũng là một thầy giáo làng.) Sau khi học xong, Alyeksiyevich làm phóng viên cho tờ báo địa phương ở thị trấn Narovl, vùng Gomel. Continue reading

Advertisements

Nobel Văn chương 2014: Patrick Modiano (1945- )

AP—AP/Gallimard

AP—AP/Gallimard

Patrick Modiano sinh ngày 30 tháng 7 năm 1945 tại Boulogne-Billancourt, ngoại ô Paris. Cha ông là doanh nhân, mẹ ông là nữ diễn viên. Tuổi thơ của ông nát tan do nhiều cuộc đổi dời gây xáo động, do sự vắng mặt của người cha và do cái chết bi thảm của người em Rudy, người bị bệnh bạch cầu ở tuổi lên 10. Ông hồi tưởng lại quãng thời gian đau khổ mà đầy hoài niệm đó trong hồi kí Un pedigree hồi năm 2005: “Tôi không thể viết tự truyện được, đó là lí do tôi gọi nó là một ‘pedigree’ (phả hệ): Nó là cuốn sách không nói về những gì tôi làm cho bằng nói về những gì người khác làm, chủ yếu là những gì cha mẹ tôi đã làm cho tôi.”

Ông từng theo học phổ thông tại trường Lycée Henri-IV tại Paris. Ở đây ông được Raymond Queneau kèm học toán, và tài năng của ông được nhà văn nổi tiếng này phát hiện ra. Thế là chàng thanh niên Patrick bắt đầu viết. Năm 1968, Modiano trình làng với tư cách nhà văn bằng tác phẩm La place de l’étoile, một tiểu thuyết thu hút rất nhiều sự chú ý. Vài năm sau, ông đoạt giải Grand Prix du Roman của Académie Française cho cuốn tiểu thuyết Les boulevards de ceinture.

“Thực sự thì tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện làm thứ gì khác”, ông nói về văn nghiệp của mình. “Tôi không có bằng cấp, không mục tiêu chắc chắn nào để đạt tới. Nhưng thật gian nan đối với một cây bút trẻ khi bắt đầu viết quá sớm. Thực sự thì tôi không thích đọc mấy cuốn sách hồi ban đầu của mình. Không phải vì tôi không thích chúng, mà tôi không nhận ra bản thân mình nữa, giống như một diễn viên già xem chính mình hồi còn là một nam chính trẻ trung vậy.”

Tiểu thuyết của Modiano xoáy vào nan đề của căn cước: Làm thế nào tôi lần ra được chứng cứ về sự tồn tại của mình qua các dấu vết của quá khứ? Bị ám ảnh với khoảng thời gian Chiếm đóng gây muộn phiền và tủi nhục – mà lúc đó cha ông đã dính vào những vụ giao dịch mờ ám – Modiano cứ trở đi trở lại đề tài này trong tất cả tác phẩm của mình, hết cuốn này đến cuốn kia để rồi tạo thành một tác phẩm thuần nhất đáng kinh ngạc. “Sau mỗi tiểu thuyết, tôi có ấn tượng là mình đã xoá đi hết toàn bộ”, ông nói giữa hai khoảng lặng. “Nhưng tôi biết mình sẽ trở lại nhiều lần những chi tiết bé tí ấy, những điều nho nhỏ ấy vốn là một phần của con người tôi. Sau rốt, tất cả chúng ta đều được định đoạt bởi nơi chốn đó và thời gian đó khi ta sinh ra.” Đối với ông, nơi chốn đó chính là Paris, một thành phố mà ông viết về thường xuyên, mô tả sự tiến triển nơi những con phố, những thói quen và những con người chốn ấy. Thực tế thì Modiano rất thân thuộc với Paris giống như Woody Allen thân thuộc với New York vậy: nó là kí ức và là lương tâm của ông. Continue reading

David Bordwell – Về đạo diễn Ozu Yasujirō

Ozu Yasujiro

David Bordwell

Về đạo diễn Ozu Yasujirō

Duy Đoàn chuyển ngữ

Trong suốt sự nghiệp của mình, Ozu Yasujirō làm việc trong nền công nghiệp điện ảnh chính thống. Tuân thủ vai trò của mình, trung thành với hãng phim của mình (hãng Shochiku phi thường), ông thường sánh mình với người bán đậu hủ, cung cấp những món bổ dưỡng nhưng cực kì bình thường. Đối với một số nhà phê bình, sự vĩ đại của ông bắt nguồn từ mối quan hệ gần gũi với những thực tế hàng ngày trong đời sống Nhật-bản. Tuy nhiên kể từ cái chết của ông, một quan điểm phê bình khác đã xuất hiện. Con người bảo thủ khiêm nhường này bắt đầu được công nhận như một trong những nhà làm phim thú vị nhất về mặt hình thức trên thế giới, một đạo diễn đã mở rộng thể loại mình đã làm việc cùng và phát triển nên một phong cách điện ảnh phong phú và độc nhất.

Ozu khởi nghiệp trong một hệ thống phân loại có sẵn bấy lâu, và ông nhanh chóng tự chứng tỏ mình là người đa năng, làm về những bộ phim hài về trường đại học, những câu chuyện buồn bã về những viên chức văn phòng, thậm chí còn làm phim về băng đảng. Tuy nhiên, tới năm 1936, ông bắt đầu chuyên môn hoá. Thể loại “chính kịch gia đình”, một nét đặc trưng của Shochiku, tập trung vào những thử thách và niềm vui nơi cuộc sống của tầng lớp trung lưu hoặc của tầng lớp lao động – nuôi dạy con cái, tìm việc làm, gả con trai và gả con gái, dàn xếp những bất đồng trong hôn nhân, đem lại sự thoải mái cho những người ông bà. Chính ở thể loại này mà Ozu tạo được những bộ phim nổi tiếng nhất và người ta nói rằng ông đã tỏ lòng thán phục trước thể loại này ngay giờ phút lâm chung: “Sau rốt, ngài chủ tịch, là chính kịch gia đình.” Continue reading

Dave Kehr – Về đạo diễn Jacques Tati

Jacques Tati

Dave Kehr

Về đạo diễn Jacques Tati

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Cha của Tati đã thất vọng khi con trai mình không tham gia vào công việc kinh doanh của gia đình, phục chế và đóng khung những bức hoạ xưa cũ. Tuy thế trong những phim của Jacques Tati, nghệ thuật đóng khung – chọn lựa các đường biên, và khai thác những giới hạn của hình ảnh – đã đạt được tầm cao biểu hiện mới. Thay vì phục chế lại các bức hoạ xưa cũ, Tati phục dựng lại nghệ thuật hài kịch hình ảnh, mang đến một mật độ và nét sắc sảo mới ở các chi tiết, một nét sáng sủa mới về mặt bố cục. Ông là một trong số ít những nghệ sĩ điện ảnh – những người khác gồm có Griffith, Eisenstein, Murnau, Bresson – được cho là có thể chuyển hoá phương tiện truyền đạt ở cấp độ căn bản nhất, để phát hiện ra một lối nhìn mới.

Sau sự nghiệp ngắn ngủi làm cầu thủ rugby, Tati bước vào khu vực sân khấu tạp kĩ của Pháp vào đầu thập niên 1930; lối diễn của ông là dùng kịch câm giễu nhại những ngôi sao thể thao thời đó. Một số buổi trình diễn của ông được quay lại thành những đoạn phim ngắn vào thập niên 1930 (và ông xuất hiện với vai diễn phụ trong hai phim của Claude Autant-Lara), nhưng ông không quay lại việc đạo diễn mãi đến khi kết thúc chiến tranh, với bộ phim ngắn năm 1947 L’Ecole des facteurs. Hai năm sau, phim ngắn đó được mở rộng thành phim truyện, Jour de fête. Ở đây Tati vào vai một anh bưu tá làng, người bị choáng trước những phương pháp “hiện đại, hiệu quả” mà anh ta thấy được trong một phim ngắn nói về hệ thống bưu điện tại Mĩ, và anh bưu tá này quyết định cải tiến quá trình hoạt động của mình để nó mượt mà hơn. Chủ đề châm biếm xuyên suốt toàn bộ tác phẩm của Tati – sự lạnh lùng của công nghệ hiện đại – đã vững chắc, mà quan trọng hơn là phong cách hình ảnh của ông cũng vậy. Nhiều cảnh hoạt kê trong Jour de fête phụ thuộc vào cách dùng những đường khung và những đối tượng tiền cảnh để làm mờ đi sự kiện hài hước – không đẩy cảnh hoạt kê đó tới bến, mà giấu nó đi và tinh lọc nó, để buộc người xem phải trực cảm, và đôi lúc phải sáng tạo, câu chuyện cười cho bản thân mình. Continue reading

Anthony Kenny – Lịch sử triết học Tây phương: Từ Hume đến Hegel (1)

Anthony Kenny

Lịch sử triết học Tây phương: Từ Hume đến Hegel (1)

Duy Đoàn chuyển ngữ

Hume

Chỉ một thời gian ngắn sau khi tại Dublin Berkeley đưa ra cho nhân loại biết về siêu hình học thường nghiệm của mình, thì tại Edinburgh một triết gia khác ra đời, ông này là người đẩy những nguyên lí thường nghiệm đến một cực điểm phản siêu hình học, đó là David Hume. Hume sinh năm 1711 trong một gia đình thuộc dòng dõi quí tộc Scotland. Khi còn là đứa bé con của một người mẹ sớm ở goá thì ông đã phải sống tự lập. Từ mười hai đến mười lăm tuổi ông theo học văn chương và triết học tại trường đại học Edinburgh, và như ta được biết thì lúc ấy ông đã phải lòng cả hai môn học này. Sau đó ông bắt đầu tự mình chuẩn bị mọi thứ để đi theo nghề luật, nhưng rồi sớm bỏ cuộc bởi lẽ nói như ông thì ông thấy mình có “một nỗi ác cảm không tài nào vượt qua được với bất kì mảng nào ngoại trừ việc theo đuổi lĩnh vực triết học và nền học vấn tổng quát.”

Dù vậy, ông cũng đã thử dấn thân vào sự nghiệp thương mại với một hãng sản xuất đường ở Bristol, nhưng bốn tháng làm công chức ở đó đã cho ông biết cuộc sống kinh doanh không dành cho mình. Ông quyết định sống dè sẻn bằng số tài sản thừa kế nhỏ nhoi, và đi khắp nước Pháp do cuộc sống ở vùng đô thị nơi đây không đắt đỏ. Từ năm 1734 đến 1737 ông sống ở La Flèche vùng Anjou, là nơi Descartes tiếp thu nền giáo dục ở trường đại học dòng Tên. Bằng cách tận dụng thư viện ở trường đại học, Hume đã viết tác phẩm đầu tiên, vô cùng trọng yếu, đó là cuốn Treatise of Human Nature (Khảo luận về Bản tính Con người).  Continue reading

Sự nghiệp văn chương của Alice Munro theo nhiều bối cảnh

Alice Munro là bậc thầy truyện ngắn của Canada, bà chuyên biến những khung cảnh đời thường trở nên lạ thường thông qua lối kể chuyện thẳng thừng tập trung vào các mối quan hệ, những nhân vật hành tung khó đoán và những kết thúc bí ẩn. Nhiều truyện của bà lấy bối cảnh ở vùng tây nam Ontario, Canada.

Ảnh: Paul Hawthorne/AP



Tác phẩm theo bối cảnh tiểu sử và lịch sử

Những năm tháng ban đầu tại Ontario

Munro sinh ra tại Wingham, Ontario, Canada vào ngày 10/7/1931, mang tên Alice Ann Laidlaw, bà là con gái của một giáo viên và một nữ nông phu. Có lẽ bà thừa kế được tham vọng văn chương từ người cha mình, Robert Laidlaw, là người sau này viết tiểu thuyết về những kẻ tiên phong đi khai hoang. Tuy nhiên, gia đình bà, nhất là người mẹ Ann Chamney, đã can ngăn tham vọng trở thành nhà văn của bà và thay vào đó cố gắng nuôi dạy bà để bà sau này trở thành vợ một người nông phu nào đó. Thế là Munro thời trẻ đã giấu biến đi những nỗ lực viết truyện ngắn của mình.

Lúc mười sáu tuổi, bà bán truyện đầu tiên của mình cho Đài phát thanh CBC ở Canada. Bà nhận được học bổng vào học trường University of Western Ontario, và nhập học năm 1949. Năm 1951, bà ra trường và cưới James Munro, và dời chỗ ở sang Vancouver, British Columbia cùng chồng. Hoài niệm về quê nhà, bà bắt đầu tập trung viết truyệt về vùng Wingham ở Ontario. Thực ra thì vùng ngoại ô Ontario có vai trò nổi trội trong các tác phẩm xuyên suốt sự nghiệp viết văn của bà. Tuy nhiên sự nghiệp viết văn của bà phải nhường chỗ cho vai trò khác trong một thời gian khi bà hạ sinh ba đứa con gái trong vòng bốn năm. Đứa con thứ nhì của bà chết sớm khi vừa mới ra đời. Munro sinh một đứa con khác vào năm 1966, hoàn tất chuyện gia đình. Những trải nghiệm trong đời sống hôn nhân và vai trò làm mẹ chính là nguồn cảm hứng cho nhiều truyện của Munro, nêu lên cái thấm thía trong những mối quan hệ thân mật của gia đình.  Continue reading

Miyazaki Hayao, một tượng đài

Bác Miyazaki thân mến:
Cháu là một nữ sinh trung học. Cháu thích phim của bác lắm. Cháu nghĩ phim “Conan” rất tuyệt. Cháu thật sự thích xem nó trên truyền hình. Nhưng có một thứ cháu cứ băn khoăn mãi. Những nhân vật nữ trông không thật chút nào và dường như trông lạ lẫm đối với cháu và các bạn cháu cùng độ tuổi cháu. Cháu không thể tin là những cô gái như thế thật sự có tồn tại.

– Murase Hiromi, Pop Culture Critique

Tôi không cố tạo ra một mẫu hình đặc thù nào của cõi nhân gian này… thế giới của tôi là một phần của một thế giới lớn hơn.

Miyazaki Hayao trong một bài phỏng vấn của Yamaguchi Izumi,
 – Eureka, Số đặc biệt về Miyazaki

[Phim My Neighbor Totoro] không phải là một hoài niệm; nó là một lời khẩn cầu để biết được ta đã đánh mất những gì.

– Eureka, Số đặc biệt về Miyazaki

Miyazaki Hayao, sinh ngày 5/1/1941 tại Tokyo, Nhật-bản, được xem là một trong những bậc thầy về phim hoạt hình với tên tuổi gắn liền với hãng phim hoạt hình Studio Ghibli do chính ông và Takahata Isao lập ra giữa thập niên 1980.  Continue reading

Jorge Luis Borges – William James và tác phẩm Varieties of Religious Experience

 

Jorge Luis Borges

William James và tác phẩm Varieties of Religious Experience: The Study of Human Nature

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Eliot Weinberger

 

Giống như David Hume, giống như Schopenhauer, William James là một nhà tư tưởng và là một nhà văn. Ông viết văn sáng sủa rõ ràng, đó là sản phẩm của một nền học vấn tốt; ông không thêu dệt những ngôn ngữ đặc tả khó nhằn, theo lối của Spinoza, Kant hay những học giả kinh viện khác.

Ông sinh ra ở New York vào năm 1842. Cha ông, nhà thần học Henry James [Henry James cha, phân biệt với Henry James con, một nhà văn], không muốn hai đứa con trai mình chỉ đơn thuần là những người Mĩ tỉnh lẻ. William và Henry theo học tại Anh, Pháp và Ý. William đảm nhận việc theo học môn hội hoạ. Sau khi quay về Mĩ, ông theo chân nhà tự nhiên học người Thuỵ-sĩ Agassiz trong chuyến du hành đến đầu nguồn con sông Amazon. Từ y khoa ông chuyển sang sinh lí học, từ đó sang tâm lí học, và từ đó sang ngâm cứu siêu hình học. Năm 1876, ông lập ra phòng thí nghiệm tâm lí học. Sức khoẻ ông lúc đó rất tệ. Ông từng có lần cố tự sát; giống như toàn bộ những người đàn ông khác, ông lặp đi lặp lại câu độc thoại của Hamlet. Và biểu hiện đức tin đã cứu vớt ông khỏi bóng tối. “Hành động đầu tiên của tôi về ý chí tự do,” ông việt, “chính là tin tưởng vào ý chí tự do.” Do đó ông tự giải phóng mình ra khỏi đức tin ngập tràn của cha mẹ ông, vốn là những người theo thần học Calvin.  Continue reading

Italo Calvino (1923-1985)

Italo Calvino (1923-1985), sinh ra tại Cuba, mất tại Sienna, Ý. Ông là nhà báo, nhà văn viết truyện ngắn, tiểu thuyết gia; những câu chuyện ngụ ngôn tưởng tượng và kì dị của Calvino đã đưa ông vào hàng ngũ những nhà văn Ý quan trọng nhất của thế kỉ 20. Continue reading

Những giây phút tự kỉ đột xuất

Nếu tôi nói rằng tôi đang nói với các bạn về một vấn đề kinh tế, bạn sẽ không tin lắm. Rõ là đó là một vấn đề kinh tế.

Nobel kinh tế 2002, hai nhà kinh tế học người Mĩ là Vernon Smith và Daniel Kahneman có bàn về vấn đề quá trình đưa ra giải quyết vấn đề của con người có liên quan đến kinh tế. Kinh tế học hành vi. Continue reading