Steven Strogatz – Lí do tại sao số pi quan trọng

Why Pi Matters - JEFFREY COOLIDGE - GETTY

Ảnh: JEFFREY COOLIDGE / GETTY

 

Steven Strogatz

Lí do tại sao số pi quan trọng

Duy Đoàn chuyển ngữ

Cứ tới ngày 14 tháng Ba, các nhà toán học như tôi lại bị thúc ra khỏi hang ổ của mình giống như Punxsutawney Phil trong Ngày Chuột chũi (Groundhog Day), mắt hấp háy và thấy bối rối bởi mọi sự ồn ào xung quanh. Vâng, lại là Ngày Pi. Và đây không chỉ là một Ngày Pi bất kì. Họ gọi đây là Ngày Pi của thế kỉ: 3.14.15. Pi đến 5 chữ số. Một thứ xảy ra một lần trong đời.

Tôi thấy khiếp sợ nó. Không hi vọng gì để giải bất kì phương trình nào vào ngày đó, nào là mấy cuộc thi ăn bánh nướng, nào là cãi lộn về những giá trị của pi so với tau (pi nhân hai), và mấy cuộc so tài giữa những người có thể nêu ra nhiều chữ số của pi hơn. Hãy tránh xa khỏi đường phố vào lúc 9:26:53, lúc ấy thời gian sẽ xấp xỉ pi cho đến vị trí thứ mười: 3.141592653.

Pi quả xứng đáng để tôn vinh, nhưng vì những lí do mà hiếm khi được đề cập. Ở trường phổ thông, tất cả chúng ta đều học được rằng Pi là về hình tròn. Pi là tỉ lệ giữa chu vi hình tròn (cự li vòng quanh hình tròn, kí hiệu bằng chữ C) với đường kính của hình tròn đó (cự li cắt ngang hình tròn tại vị trí có bề rộng lớn nhất, kí hiệu là chữ d). Tỉ lệ đó, khoảng 3.14, cũng xuất hiện trong công thức tính diện tích bên trong hình tròn, A = πr2, trong đó π là chữ cái Hi-lạp của “pi” và r là bán kính hình tròn (cự li từ tâm đến rìa hình tròn). Chúng tôi học thuộc mấy công thức này cùng những công thức quen thuộc khác để thi S.A.T và không bao giờ dùng lại chúng, trừ khi tình cờ đi vào một lĩnh vực kĩ thuật, hoặc cho đến khi con của chúng ta học môn hình học. Continue reading

Nobel Sinh lí học hay Y học 2014: John O’Keefe và May-Britt Moser & Edvard I. Moser

Cho khám phá về các tế bào tạo nên hệ thống định vị trong bộ não

Làm sao chúng ta biết được mình đang ở đâu? Làm sao chúng ta có thể tìm được lối đi từ nơi này đến nơi kia? Và làm sao chúng ta có thể lưu trữ thông tin này theo một cách thức mà từ đó mình có thể ngay lập tức tìm ra được lối đi vào lần tới khi ta dò theo cùng con dường đó? Các khôi nguyên Nobel năm nay đã khám phá ra được một hệ thống định vị, một “GPS nội tại” trong bộ não khiến ta có thể định hướng bản thân trong không gian, biểu thị một cơ sở tế bào cho chức năng tri nhận cao hơn.

Năm 1971, John O’Keefe khám phá thành tố đầu tiên của hệ thống địn vị này. Ông phát hiện một loại tế bào thần kinh trong một khu vực não bộ mang tên đồi hải mã (hippocampus) vốn luôn được kích hoạt khi con chuột ở một vị trí nhất định trong căn phòng. Những tế bào thần kinh khác được kích hoạt khi con chuột đó ở vị trí khác. O’Keefe kết luận những “tế bào vị trí” (place cell) đó hình thành nên tấm bản đồ cho căn phòng ấy.

Hơn ba thập niên sau, năm 2005, May-Britt và Edvard Moser khám phá một thành tố then chốt khác của hệ thống định vị não bộ này. Họ nhận dạng được một loại tế bào thần kinh khác, mà họ gọi là các “tế bào ô lưới” (grid cell), chúng tạo ra một hệ thống điều phối và cho phép việc định vị và tìm đường chuẩn xác. Nghiên cứu sau đó của họ chứng tỏ được cách mà những tế bào vị trí và ô lưới có thể xác định chỗ và điều hướng.

Những khám phá của John O’Keefe, May-Britt Moser và Edvard Moser đã giải quyết được một vấn đề vốn choán hết tâm trí các triết gia và khoa học gia suốt nhiều thế kỉ – làm thế nào mà bộ não tạo ra được tấm bản đồ về không gian xung quanh ta và làm thế nào ta điều hướng được lối đi của mình qua một môi trường phức tạp? Continue reading

[Scientific American] Thế giới không có ý chí tự do

Tác giả: Azim F. Shariff & Kathleen D. Vohs

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Vào tháng 7 năm 2008, Brian Thomas, một công nhân ngành thép đã nghỉ hưu, cùng cô vợ Christine lái chiếc xe dã ngoại đến một ngôi làng nhỏ ven biển ở xứ Wales. Cảm thấy phiền nhiễu từ đám đàn ông đang phô diễn ầm ĩ trên mấy chiếc xe máy, hai vợ chồng này chuyển tới bãi đậu xe của một quán trọ gần đó. Sau đó vào buổi đêm, Thomas mơ thấy một trong những tay cưỡi xe máy kia đột nhập vào xe. Khi ngủ, anh nhầm vợ mình với tay cưỡi xe máy tưởng tượng kia và bóp cổ cô ấy đến chết. Anh ta đã kể câu chuyện này như thế.

Năm sau đó, bồi thẩm đoàn phải quyết định liệu Thomas có phạm tội sát nhân không. Bồi thẩm đoàn biết được rằng anh đã mắc phải chứng mộng du từ thuở nhỏ. Một bác sĩ tâm thần lão luyện giải thích rằng Thomas không nhận thức được mình đang làm gì khi bóp cổ vợ mình và anh ta không chọn cách tấn công cô ấy bằng ý thức của mình. Thomas sau đó được tự do.

Những vụ như thế buộc người ta phải xem xét việc có ý chí tự do có ý nghĩa gì. Trong lúc mộng du, bộ não rõ ràng có thể chỉ thị cho hành động của người ta mà không cần đến sự hợp tác hoàn toàn của ý thức. Gần đây, càng lúc càng nhiều triết gia và những nhà khoa học thần kinh lập luận – dựa trên sự hiểu biết hiện thời về bộ não con người – rằng ở chừng mực nào đó thì hết thảy chúng ta đều mộng du ở mọi thời điểm. Thay vì làm chủ cuộc sống theo ý hướng bản thân, chúng ta hoàn toàn bị đưa đẩy bởi những sự kiện quá khứ và những mưu đồ của tâm trí vô thức diễn ra bên dưới. Thậm chí khi chúng ta tỉnh thức hoàn toàn, thì ý chí tự do chỉ là một ảo tưởng.

Các triết gia với quan điểm này đã lập luận rằng toàn bộ các sinh vật đều bị ràng buộc bởi các quy luật vật lí của một vũ trụ mà trong đó mọi hành động đều là kết quả của những sự kiện trước. Con người là những sinh vật. Do đó, hành vi con người là kết quả từ một chuỗi nhân quả phức hợp vốn dĩ vượt khỏi tầm kiểm soát của ta hoàn toàn. Vũ trụ này đơn giản là không cho phép có ý chí tự do. Những nghiên cứu khoa học thần kinh gần đây đã tiếp thêm nhiên liệu cho quan niệm đó bằng cách đề xuất ý rằng cái trải nghiệm của sự chọn lựa có ý thức là kết quả của những tiến trình xử lí não bộ bên dưới vốn là thứ sinh ra hành động con người, chứ không phải là nguyên nhân của những tiến trình đó. Bộ não chúng ta quyết định mọi thứ mình làm mà không cần “ta” giúp – chỉ là cảm giác giống như ta làm được vậy mà thôi.

Tất nhiên không phải ai cũng đồng ý, và cuộc tranh luận về sự tồn tại của ý chí tự do sẽ tiếp tục trào lên. Tuy nhiên, chúng tôi cảm thấy hiếu kì về một vấn đề liên quan cũng có tầm quan trọng tương đương: Chuyện gì xảy đến khi niềm tin của con người vào ý chí tự do – cho dù có được biện minh hay không – lại bị lung lay? Liệu một xã hội thời hậu ý chí tự do (post-free will), hoặc nói đúng hơn là một xã hội sau cái thời người ta có niềm tin vào ý chí tự do, thì sẽ trông ra sao? Nghiên cứu của chúng tôi trong vấn đề này đã đưa ra những manh mối cho một câu trả lời, một số làm người ta thấy bất an. Cụ thể, chúng tôi thấy được những dấu hiệu cho biết nếu thiếu đi niềm tin vào ý chí tự do thì kết cuộc là cấu trúc xã hội sẽ bị phá huỷ tan tành. Continue reading

[National Geographic] Việc trồng trọt tác động đến tư duy con người

Tác giả: Ed Yong

Duy Đoàn chuyển ngữ

What you farm affects your thinking

Ảnh: Jim Richardson, National Geographic Creative

 

Lúa gạo và lúa mì không chỉ làm lương thực cho nhân loại. Chúng còn tác động đến cách họ tư duy – theo rất nhiều cách khác nhau.

Đây là kết quả một nghiên cứu được công bố vào ngày 9/5/2014 trên tập sang Science, trong đó họ so sánh những người đến từ những vùng khác nhau của Trung-quốc. Các nhà nghiên cứu, dẫn đầu là Thomas Talhelm thuộc trường University of Virginia (Charlottesville, Mĩ), đã phát hiện rằng những người đến từ những vùng trồng lúa gạo có lối tư duy tương thuộc nhau nhiều hơn và hướng đến tổng thể hơn so với những người đến từ những khu vực trồng lúa mì.

Talhelm cho rằng những khác biệt này nảy sinh bởi vì người ta cần hợp tác nhiều hơn và nỗ lực chung nhiều hơn trong việc trồng lúa gạo so với việc trồng lúa mì. Để gieo trồng và gặt hái lúa được thành công, các nông dân phải làm việc cùng nhau nhằm tạo dựng nên những hệ thống tưới tiêu phức tạp và thiết lập những trao đổi lao động với nhau. Qua thời gian, nhu cầu làm việc nhóm này đã nuôi dưỡng tâm lí tương thuộc và hướng đến tập thể. Tuy nhiên, lúa mì lại có thể phát triển độc lập, thế nên những nông dân lúa mì trở thành những người cá nhân chủ nghĩa hơn. Continue reading

[Scientific American] Tại sao bộ não chuộng sách giấy hơn

Tác giả: Ferris Jabr

Duy Đoàn chuyển ngữ 

Một trong những đoạn phim Youtube lan truyền rất nhanh và làm người ta phấn khích nhất hồi hai năm trước, với phần mở đầu bình thường vô cùng: một bé gái một tuổi chơi với iPad, lướt ngón tay dọc ngang màn hình cảm ứng và đẩy các nhóm biểu tượng qua lại trên màn hình. Ở những cảnh tiếp theo đó, cô bé có vẻ như đang khum bàn tay lại, túm túm gì đó và ấn vào những trang giấy của mấy tờ tạp chí như thể chúng là những màn hình. Đoạn phim còn xoáy vào những cử chỉ đó bằng cách tua lại và chiếu cận cảnh vào.

Đối với cha của đứa bé, thì đoạn phim đó – A Magazine Is an iPad that Does Not Work – là bằng chứng cho sự chuyển dời thế hệ. Trong đoạn mô tả kèm theo, ông viết, “Những cuốn tạp chí giờ đây vô dụng và không thể hiểu được, đối với cư dân số (digital native)” – tức là, đối với những người đã tương tác với những công nghệ số từ lúc còn rất nhỏ, khi mà xung quanh họ lúc đó không chỉ có sách và tạp chí bằng giấy mà còn có điện thoại thông minh (smartphone), Kindle và iPad.

Cho dù bé gái đó có thực sự kì vọng những cuốn tạp chí phải hành xử như một chiếc iPad hay không, thì đoạn phim cũng làm ta chú ý đến một vấn đề vô cùng thực tế: Chính xác làm thế nào mà công nghệ chúng ta dùng để đọc có thể thay đổi cách đọc của chúng ta?

Ít nhất kể từ thập niên 1980, các nhà nghiên cứu tâm lí học, kĩ thuật máy tính, và khoa học thư viện và thông tin đã công bố hơn 100 nghiên cứu khám phá những khác biệt ở cách đọc trên sách giấy và cách đọc trên màn hình. Trước năm 1992, hầu hết các thí nghiệm đều kết luận rằng khi người ta đọc truyện và đọc báo ở màn hình thì họ đọc chậm hơn và ghi nhớ thông tin ít hơn. Tuy vậy, khi độ phân giải của màn hình của tất cả các loại thiết bị trở nên sắc nét hơn, thì một loạt những khám phá theo nhiều chiều hướng khác nhau bắt đầu xuất hiện. Những khảo sát gần đây cho thấy rằng mặc dù hầu hết mọi người đều chuộng dùng giấy hơn – đặc biệt khi họ cần tập trung trong thời gian dài – nhưng những thái độ đó đang thay đổi khi máy tính bảng và công nghệ đọc sách điện tử được cải thiện dần và khi mà chuyện đọc những văn bản số để tìm dữ kiện và để giải trí đang trở nên ngày càng phổ biến hơn. Ở Mĩ, e-book hiện nay chiếm hơn 20 phần trăm tổng số sách được bán cho công chúng.

Mặc cho loại công nghệ phổ thông thân thiện người dùng ngày càng phát triển, nhưng hầu hết các nghiên cứu được công bố kể từ đầu thập niên 1990 đều xác nhận những kết luận trước đó: giấy vẫn chiếm ưu thế so với màn hình như một phương tiện đọc sách báo. Cùng với những thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, những cuộc bỏ phiếu và những báo cáo người tiêu dùng đều chỉ ra rằng các thiết bị số ngăn người ta định vị những đoạn văn bản dài một cách hiệu quả, điều này có thể làm ngăn trở chút ít trong việc đọc hiểu. So với giấy, màn hình cũng có thể làm cạn kiệt nguồn tài nguyên trí óc của chúng ta trong lúc đọc và làm ta khó ghi nhớ hơn những gì mình đọc được sau khi đọc xong. Bất kể họ có nhận ra điều đó hay không, người ta vẫn thường tiếp cận máy tính và máy tính bảng với tinh thần ít hướng đến chuyện học hơn so với lúc tiếp cận sách giấy. Và máy đọc sách không tái dựng lại được một số trải nghiệm theo cảm giác có được lúc đọc sách giấy, và một số người thấy bất an khi thiếu vắng những cảm nghiệm đó. Continue reading

Scientific American Mind – Giúp trẻ yêu thích toán học

 

Giúp trẻ yêu thích toán học

Tác giả: John Mighton

Hình minh hoạ của Celia Johnson

Duy Đoàn chuyển ngữ

Với kế hoạch giảng dạy thích hợp, giáo viên có thể biến những em học sinh chật vật trở thành những nhà toán học tiềm năng. Bí mật ở đây là việc hướng dẫn kĩ lưỡng các em trong chuyến phiêu lưu vào thế giới những con số.

Tôi vẫn còn nhớ rõ cái ngày cách đây 14 năm, khi đó tôi gặp được một cô bé lớp sáu cao ráo và rất chi là nhút nhát tên là Lisa, cô bé ngồi ở bàn để chuẩn bị buổi học toán đầu tiên với tôi. Hiệu trưởng của Lisa đã khuyến nghị cô bé nên tham gia chương trinh phụ đạo miễn phí sau giờ học mà tôi đã khởi xướng ở căn hộ của mình cùng với mấy người bạn nữa. Mặc dù tôi đã yêu cầu vị hiệu trưởng kiếm giúp mình những em học sinh đang chật vật với môn toán, nhưng tôi thật sự chưa sẵn sàng để gặp Lisa.

Tôi đã lên kế hoạch tăng cường sự tự tin ở Lisa bằng cách dạy cô bé phép cộng các phân số. Theo kinh nghiệm làm gia sư trước đây, tôi biết trẻ con thường hình thành những nỗi âu lo về môn toán khi lần đầu tiên tiếp cận các phân số. Bởi vì bài học của tôi liên quan đến phép tính nhân, nên tôi hỏi Lisa liệu em ấy có gặp vấn đề gì trong việc ghi nhớ bất kì bảng cửu chương nào hay không, nhưng cô bé cứ ngây ra nhìn tôi chằm chằm. Cô bé không biết phép nhân nghĩa là gì. Ngay cả khái niệm đếm cách quãng hơn một cũng là điều lạ lẫm đối với em. Em ấy sợ hãi khi tôi đặt câu hỏi và lúc tôi đế cập đến những khái niệm đơn giản nhất thì em ấy cứ luôn miệng bảo, “Em không hiểu.”

Tôi không biết phải làm gì với Lisa, thế là tôi quyết định thử xem liệu cô bé có học được cách đếm cách quãng hai con số hay không để cuối cùng cô bé có thể làm được phép nhân hai. Để làm dịu nỗi sợ của cô bé, tôi bảo rằng tôi chăc chắn em ấy đủ thông minh để học phép nhân. Tôi sợ có thể mình đưa ra lời khen giả tạo, nhưng lời khuyến khích của tôi dường như giúp em ấy tập trung được, và em ấy tiến bộ nhiều hơn tôi mong đợi. Continue reading

Scientific American Mind – Nghiên cứu khoa học về sự viết tay

 

Nghiên cứu khoa học về sự viết tay

Tác giả: Brandon Keim

Hình minh hoạ của Celia Johnson

Duy Đoàn chuyển ngữ

Tôi đang viết bài báo này bằng kiểu táo bạo, thử nghiệm ngược ngạo, dùng một kĩ thuật hiếm khi được thấy trong giới xuất bản hiện đại: viết tay, dùng bút và giấy, những dụng cụ xuất xứ từ cây cối này vốn chỉ được coi là những vật lạ kì mang tính lịch sử trong mắt giới mê công nghệ, giống như mấy tấm bản đất sét hay máy đánh chữ Remington.

Tại sao tôi lại làm điều như vậy trong thời đại bấm phím này? Một phần tôi làm vậy vì viết tay đang trở thành một hoạt động bên lề, ở ngoài xã hội và trong đời tôi. Chúng ta gõ chữ nhiều hơn bao giờ hết, và không phải điều gì bất thường khi ta gặp những người hoàn toàn ngưng dùng tay để viết, chữ viết của họ khô quắt như những chi cụt còn để lại vết tích.

Tôi luôn có cảm giác rằng suy nghĩ của tôi sẽ khác – cân nhắc hơn, phong phú hơn – khi thông qua bàn tay thay vì cỗ máy. Mấy người tôi gặp thường kể những câu chuyện giống vậy. Họ vẫn dùng bàn phím để chuyển tải phần lớn chữ nghĩa, nhưng vẫn dùng tay lập danh sách, ghi chú, phác thảo các đoạn văn hay sắp xếp ý nghĩa. Họ cũng cảm thấy viết tay liên quan đến trí óc theo một cách khác.

Chỉ cảm giác thôi chắc chắn thiếu tính khoa học. Nó có thể là ảo tưởng hoặc bị nhiều nhân tố làm xáo trộn, chẳng hạn khó khăn khi kiểm tra e-mail trên giấy, vốn không có liên quan gì đến những thuộc tính tri nhận của viết tay. Các nhà hoài nghi có thể khẳng định rằng trẻ em thời hiện đại, khi trải nghiệm bàn phím và màn hình, sẽ vận dụng được các thiết bị đó để có được kết quả tương đương. Chừng nào mà ta còn viết, thì chuyện đó ảnh hưởng ra sao có quan trọng gì?

Minh triết theo truyền thống cũng theo hướng vậy. Mọi cuộc chuyển dời công nghệ quan trọng ngàn năm có một đều gây ra mối bận tâm đau đầu: chúng ta lo lắng về chứng nghiện Internet, tình bạn trở nên tầm thường hơn do các phương tiện truyền thông xã hội, máy đọc sách điện tử thay thế sách giấy, màn hình điện tử sẽ biến bọn trẻ thành những kẻ nghiện ngập thế giới mô phỏng. Tuy vậy ngoại trừ cuốn The Missing Ink đáng yêu của Philip Hensher có đi dò xét phần lịch sử văn hoá của lối viết tay, thì chuyện kĩ thuật này mất dần, trọng tâm cho sự trỗi dậy của nền văn minh, phần lớn không được người đời lưu ý đến. Continue reading

Scientific American Mind – Đánh giá các phương pháp học tập

Scientific American Mind

Đánh giá các phương pháp học tập

Các tác giả: John Dunlosky, Katherine A. Rawson, Elizabeth J. Marsh, Mitchell J. Nathan & Daniel T. Willingham

Hình minh hoạ của Celia Johnson

Duy Đoàn chuyển ngữ

Nhìn chung giáo dục thường tập trung vào nội dung học tập, chẳng hạn đại số, các nguyên tố trong bảng tuần hoàn hay cách chia động từ. Nhưng tìm hiểu cách học cũng là điều quan trọng không kém, đi kèm nhiều lợi ích lâu dài. Điều đó có thể dạy bạn cách thu thập kiến thức nhanh và hiệu quả hơn cũng như cho phép bạn giữ được thông tin suốt nhiều năm thay vì trong nhiều ngày.

Hơn 100 năm nay, những nhà tâm lí học tri nhận và giáo dục đã phát triển và đánh giá vô số kĩ thuật, từ việc đọc lại tài liệu cho đến tóm tắt lại để tự kiểm tra bản thân. Một số chiến lược phổ biến rõ ràng có cải thiện thành tích của học viên, trong khi số khác lại tốn thời gian và không hiệu quả. Tuy vậy những thông tin này thường không được đưa vào áp dụng ở lớp học. Các giáo viên ngày nay không được cho biết những kĩ thuật học tập nào được các chứng cứ thực nghiệm hậu thuẫn, còn học viên thì không được dạy cách dùng những kĩ thuật đó sao cho hiệu quả. Thực tế, hai cách trợ giúp học tập mà các học viên đang dựa vào nhiều nhất lại không hiệu quả. Một trong hai cách này thậm chí còn làm suy giảm thành tích học tập.

Một nguyên do tiềm tàng chính là việc có quá nhiều nghiên cứu khiến chúng ta choáng ngợp, làm cho các nhà giáo dục và các học viên khó xác định những phương cách học tập thực tiễn và ích lợi nhất. Để đáp ứng thách thức này, chúng tôi điểm lại hơn 700 bài báo khoa học bàn về 10 kĩ thuật học tập thường được sử dụng nhất. Chúng tôi tập trung vào những chiến lược trông có vẻ dễ sử dụng và đạt mức hiệu quả rộng khắp. Chúng tôi cũng có cái nhìn sát sao hơn về một số phương pháp các học viên thường dùng.

Để được chúng tôi đưa ra giới thiệu ở đây, kĩ thuật đó phải hữu ích ở nhiều hoàn cảnh học tập khác nhau, chẳng hạn lúc học viên học một mình hay học chung nhóm. Nó phải trợ giúp học viên ở nhiều lứa tuổi khác nhau, có những năng lực khác nhau và những cấp độ hiểu biết ban đầu khác nhau – và nó phải được kiểm tra trong lớp học hoặc trong tình huống ngoài thế giới thực. Các học viên có thể dùng phương pháp đó để tinh thông nhiều môn khác nhau, và việc học tập của họ phải được hưởng lợi từ phương pháp đó bất kể trải qua loại hình kiểm tra gì. Những cách tiếp cận tốt nhất cũng phải dẫn đến những cải thiện dài lâu về mặt kiến thức và khả năng lĩnh hội.

Bằng cách dùng những tiêu chuẩn này, chúng tôi định ra hai phương pháp tối ưu rõ ràng. Chúng tạo ra những kết quả vững chắc, ổn định và thích hợp cho nhiều tình huống. Chúng tôi cũng đưa ra ba phương pháp khác để dự phòng những tình huống khác, và năm phương pháp – trong đó có hai cách trợ giúp học tập phổ biến – không được chúng tôi khuyến nghị, vì chúng chỉ hữu ích trong một số hoàn cảnh hạn chế nhất định hoặc vì chưa đủ chứng cứ để có thể đánh giá chúng cao hơn. Chúng tôi khuyến khích các nhà nghiên cứu khảo sát sâu thêm một số kĩ thuật chưa được kiểm nghiệm, nhưng học viên và giáo viên nên cẩn trọng khi dựa vào những kĩ thuật đó.

Những kĩ thuật vàng

1. Tự kiểm tra (self-testing)

Ra bài kiểm tra chính bản thân mình sẽ giúp đạt điểm cao  Continue reading

Science Daily – Giờ đi ngủ thất thường có thể hạn chế năng lực trí não ở trẻ nhỏ

Giờ đi ngủ hàng đêm thất thường khi còn nhỏ dường như sẽ làm hạn chế năng lực trí não ở trẻ. Đây là kết quả từ một nghiên cứu trên diện rộng suốt quãng thời gian dài, được công bố trên Journal of Epidemiology and Community Health (Tập san về Dịch tễ học và Sức khoẻ Cộng đồng).

 Xét theo tầm quan trọng của sự phát triển thuở nhỏ đối với sức khoẻ sau này của trẻ, các nhà nghiên cứu cho biết chuyện giờ giấc ngủ thất thường có thể dẫn tới những ảnh hưởng dây chuyền suốt cả quãng đời trẻ.

Các tác giả xem xét liệu giờ đi ngủ ở giai đoạn đầu tuổi thơ có liên hệ gì đến năng lực trí não không, và họ nghiên cứu trên 11,000 trẻ bảy tuổi, đây là một phần trong UK Millennium Cohort Study (Nghiên cứu Đoàn hệ Thiên niên kỉ Anh quốc – MCS).

MCS là nghiên cứu dài hạn tiêu biểu tầm quốc gia về trẻ con Anh quốc chào đời trong khoảng thời gian từ tháng Chín năm 2000 đến tháng Một năm 2002, và nghiên cứu này dựa trên những khảo sát và những chuyến ghé thăm định kì tới các gia đình lúc trẻ được 3, 5, và 7 tuổi, nhằm biết được lịch sinh hoạt gia đình, bao gồm cả giờ đi ngủ.

Các tác giả nghiên cứu muốn biết liệu giờ đi ngủ của trẻ, và tính nhất quán của giờ đi ngủ, liệu có tác động nào đến khả năng thể hiện trí tuệ, được đánh giá thông qua điểm số bài trắc nghiệm chuẩn dành cho việc đọc sách, môn toán, và khả năng nhận thức không gian.

Và họ muốn biết liệu những ảnh hưởng đó có tích tụ lại hay không và/hoặc liệu có bất kì giai đoạn đặc biệt nào trong suốt thời kì đầu tuổi thơ quan trọng hơn những giai đoạn khác. Continue reading

Ferric C. Fang & Arturo Casadevall – Tại sao ta lại gian lận

 

Ferric C. Fang & Arturo Casadevall

Tại sao ta lại gian lận

Duy Đoàn chuyển ngữ

Tay đua xe đạp Lance Armstrong đã lên tiếng xin lỗi vì dùng chất kích thích cải thiện phong độ để giành được bảy danh hiệu Tour de France. Anh ta cho việc gian lận này là do lòng kiên quyết “chiến thắng bằng mọi giá”. Nhà tâm lí học Marc Hauser tại trường Harvard University, người từng viết bài báo nhan đề “Costs of Deception: Cheaters Are Purnished…” hiện đang thất nghiệp sau công việc ở U.S. Office of Research Integrity (Sở liêm chính trong nghiên cứu tại Hoa-kì), kết luận rằng ông đã “nguỵ tạo dữ liệu, chi phối kết quả ở nhiều thí nghiệm khác nhau, và mô tả cách thực hiện những nghiên cứu theo những phương cách thực sự thiếu chính xác.” Mười sáu ngân hàng đã đồng ý trả tiền phạt hoặc đang bị điều tra vụ thao túng Libor, một dạng lãi suất mà các ngân hàng có thể dùng để vay tiền từ những ngân hàng khác, và đây được coi là vụ lừa đảo tài chính lớn nhất trong lịch sử thị trường.

Những trường hợp này chỉ là một phần trong dòng chảy dường như bất tận các vụ bê bối gian lận xuất hiện trên báo đài, gây tác động đối với thể thao, khoa học, giáo dục, tài chính và những địa hạt khác. Mặc dù thật dễ chịu khi nghĩ rằng hầu hết mọi người về căn bản đều thành thật, nhưng việc gian lận – được định nghĩa là hành vi thiếu trung thực nhằm đạt lợi ích nào đó – thực sự là hiện tượng phổ biến đáng kinh ngạc. Theo khảo sát năm 1997, giáo sư ngành quản lí Donald McCabe thuộc trường Rutgers University và Linda da Klebe Treviño, giáo sư về hành vi tổ chức ở trường Pennsylvania State University, đã tiết lộ rằng khoảng ba phần tư trong só 1,800 sinh viên ở chín trường đại học bang đã thừa nhận gian lận trong thi cử hoặc trong những bài luận trên lớp. Năm 2005, nhà xã hội học Brian Martinson thuộc Health Partners Research Foundation ở Bloomington, Minnesotta và những đồng nghiệp của ông đã báo cáo rằng một phần ba số khoa học gia đã thú nhận có can dự vào những công việc nghiên cứu khả nghi trong suốt ba năm qua.

Gian lận không giới hạn ở con người; nó còn được ghi nhận trong khắp thế giới sự sống, ở bất kì nơi đâu mà có sự cạnh tranh giành lấy những nguồn tài nguyên hạn chế. Mặc dù đâu đâu cũng có, nhưng hành vi gian lận có thể gây tổn hại rất nhiều cho cá nhân và xã hội. Những kẻ gian lận bị bêu xấu và có thể mất công ăn việc làm. Công việc lừa đảo làm lãng phí nguồn tài nguyên. Những người theo luật lại bị tước đoạt phần thưởng mà họ xứng đáng có. Còn có những tổn thất khác ngoài ý muốn. Những đồng đội của Armstrong bị buộc phải làm theo kế hoạch dùng thuốc kích thích và bị đe doạ khi họ cố vạch trần sự thật. Những nghiên cứu khoa học thiếu trung thực có thể làm những nhà nghiên cứu khác lầm đường lạc lối, có thể dẫn đến những chính sách công sai lầm và có thể gây hại cho bệnh nhân khi những quyết định lâm sàng lại dựa trên nguồn thông tin sai sót. Continue reading