J. E. Cirlot – Cá

Theo nghĩa rộng, cá là một sinh vật có năng lực huyền bí, hay là một ‘chuyển động thông suốt’ được phú cho quyền năng ‘nâng cao’ liên quan đến những vật chất nền tảng – tức là, theo vô thức. Vì mối quan hệ biểu tượng gần gũi giữa biển và Magna Mater [Mẹ Vĩ đại], một số người cho rằng cá là linh thiêng. Một số nghi lễ Á châu có bao gồm sự thờ cá, và những thầy tu bị cấm ăn cá. Như Jung đã chỉ ra, con trai của Atargatis (Ashtart hay Astarte) được đặt tên là Ichthys (31). Schneider ghi nhận rằng cá là Con thuyền của Sự sống huyền bí, đôi khi là một con cá voi, thỉnh thoảng là một con chim, và những lúc khác đơn giản là một con cá hay một con cá bay, ‘nhưng đó luôn luôn là sự xoay tròn vút lên khỏi chu trình sống phỏng theo mẫu hình của hoàng đạo mặt trăng’ (50). Continue reading

J. E. Cirlot – Chim

Mỗi sinh vật có cánh đều tượng trưng cho sự tinh thần hoá. Chim, theo Jung, là một sinh vật từ tâm đại diện cho những linh hồn hay những thiên thần, sự cứu đỡ siêu nhiên (31), những ý nghĩ và những bay bổng của huyễn tưởng (32). Truyền thống Hindu cho rằng chim chóc đại diện cho những trạng thái cao hơn của sự tồn tại. Trích một đoạn trong Upanishads [Áo nghĩa thư]: Hai con chim, bầu bạn không thể tách rời, trú ngụ cùng một cây; con đầu tiên ăn quả trên cây, con thứ hai để ý nhưng không ăn. Con chim đầu tiên là Jivâtmâ, và con thứ hai là Atmâ hay tri thức thuần tuý, tự do và vô điều kiện; và khi chúng kết giao không rời, thì không thể phân biệt được con này với con khác ngoại trừ trong một cảm giác ảo tưởng’ (26). Continue reading

J. E. Cirlot – Tiên nữ

Một hình tượng thường mang một trong hai dạng: như một nữ nhân điểu hay như một nữ nhân ngư. Những tiên nữ trong thần thoại Hi-lạp được coi là con gái của dòng sông Achelous và nữ thần Calliope; và Ceres biến họ thành chim. Chúng sống ở những vùng núi. Truyền thuyết quy cho chúng một tiếng hát ngọt ngào đến nỗi chúng có thể cám dỗ kẻ du hành, chỉ để nuốt sống y. Về sau, thần thoại làm hồi sinh những tiên nữ với đuôi cá có sào huyệt là những đảo đá và những vách đá và là những kẻ cũng hành xử giống những gì chị em chúng đã thực hiện với Nguyên tố khí. Thần thoại tiên nữ là một trong những thần thoại bền vững nhất trong mọi thần thoại; giữa vài người đi biển nó thậm chí còn dai dẳng đến tận ngày nay (8). Tài liệu có liên quan đến các tiên nữ này được tìm thấy trong tác phẩm của Aristotle, Pliny, Ovid, Hyginus, trong Physiologus (thế kỉ 2) và những sách ngụ ngôn về loài vật thời trung cổ. Continue reading

J. E. Cirlot – Nhân sư

Một hữu thể thần thoại bao gồm vài phần của con người và bốn phần của nhiều loài thú khác nhau. Nhân sư ở Thebes có đầu và ngực của một phụ nữ, thân mình của một con bò hoặc chó, các móng vuốt của một con sư tử, đuôi của một con rồng và đôi cánh của một con chim (8). Là hiện thân tối cao của điều bí ẩn, nhân sư bền bỉ canh gác một ý nghĩa tối hậu cần được giữ nguyên trạng mãi mãi vượt qua sự hiểu biết của con người. Jung nhìn thấy trong nó một sự tổng hợp của ‘Mẹ Khủng khiếp [Terrible Mother]’, một biểu tượng cũng đã ghi dấu trong thần thoại (31). Continue reading

J. E. Cirlot – Nhân ngưu

Một quái vật thần thoại nửa thân dưới là người và nửa thân trên là bò. Mê cung ở Crete đã được xây để khống chế con nhân ngưu. Quái vật này ăn thịt, và những người Athens bại trận bị bắt buộc cứ bảy năm một lần phải tiến cống bảy đồng nam và bảy trinh nữ cho nó ăn thịt. Cống lễ này đã được dâng nộp ba lần, nhưng vào dịp thứ tư Theseus đã tiêu trừ con nhân ngưu với sự trợ giúp của Ariadne và sợi chỉ thần kì của nàng (8). Mỗi thần thoại và truyền thuyết ám chỉ đến những cống lễ, những quái vật hay những anh hùng chiến thắng đều minh hoạ một hoàn cảnh vũ trụ (gồm cả những ý tưởng của thuyết Ngộ-đạo về đấng sáng tạo độc ác và về sự cứu thế), một ẩn ý xã hội (ví dụ, về một tình trạng bị áp bức bởi một bạo chúa, hay một tai hoạ, hay bởi một lực chống đối nào đó khác) và một tạo nghĩa tâm lí gắn liền với tập thể hay cá thể (ngụ ý ưu thế của con quái vật trong con người, và cống lễ và sự hiến tế mặt tốt đẹp của y: những ý tưởng, những tình cảm và những xúc cảm của y). Continue reading

J. E. Cirlot – Con người

Con người coi chính mình như một biểu tượng trong chừng mực y ý thức về sự hiện hữu của y. Nghệ thuật Hallstatt, ở Áo, cho thấy những ví dụ tinh tế về những cái đầu loài vật với hình dáng con người hiện ra phía trên. Ở Ấn-độ, ở New Guinea, cũng như ở phương Tây, đầu bò đực hay đầu bò đực thiến với một hình thể con người được vẽ giữa các sừng là một mẫu hình rất thông thường. Vì bò đực là một biểu tượng cho cha-trời, nên con người từ đó được coi như con trai của cả ngài và trần thế (22), cũng như một khả thể thứ ba, con trai của mặt trời và mặt trăng (49). Những ngụ ý trong các bình luận của Origen: ‘Hãy hiểu rằng bạn là một thế giới khác trong bức hoạ vi tế và rằng trong bạn là mặt trời, mặt trăng và luôn cả những vì sao’, được tìm thấy trong tất cả những truyền thống biểu tượng. Trong tư tưởng bí truyền của người Moslem, con người là biểu tượng của sự tồn tại phổ quát (29), một ý tưởng đã tìm được cách đi vào triết học đương thời trong sự định nghĩa về con người như ‘sứ giả của hiện hữu’; tuy nhiên, trong lí thuyết biểu tượng, con người không được định nghĩa chỉ bởi chức năng (vốn dành riêng cho ý thức của vũ trụ), mà đúng hơn bởi sự tương đồng, do đó y được coi là một hình ảnh của vũ trụ. Continue reading

J. E. Cirlot – Quạ

Vì màu đen của nó, quạ được kết nối với ý tưởng về sự khởi đầu (như đã được biểu thị trong những biểu tượng như đêm mẹ, bóng tối nguyên thuỷ, đất đai màu mỡ). Vì cũng kết nối với khí quyển, nó là một biểu tượng cho quyền năng phi thường, sáng tạo, và cho sức mạnh tâm linh. Vì khả năng bay lượn, nó được coi là một sứ giả. Và, tóm lại, quạ đã được phong cho một tạo nghĩa vũ trụ sâu rộng bởi nhiều người nguyên thuỷ. Thực vậy, đối với những người Anh-điêng Da đỏ ở Bắc Mĩ nó là đấng khai hoá vĩ đại và là đấng sáng tạo của thế giới khả kiến. Nó có một ý nghĩa tương tự đối với những người Celt và những bộ lạc German, cũng như ở Siberia (35). Continue reading

J. E. Cirlot – Thú một sừng

Tượng trưng cho sự trong trắng và cũng là một biểu hiệu của thanh kiếm hay lời Chúa (20, 4). Truyền thống thông thường biểu thị nó như một con ngựa trắng với một chiếc sừng mọc từ trán, nhưng theo niềm tin bí truyền nó có một thân hình trắng, một cái đầu đỏ và mắt xanh dương. Truyền thuyết kể rằng nó không biết mệt mỏi lúc bị đuổi bắt song lại trở nên hiền lành khi một trinh nữ đến gần (59). Điều này dường như gợi ý rằng nó là biểu tượng của tính dục thăng hoa. Ở Trung-hoa, loài thú này gọi là Kì lân vốn được một số tác giả đồng nhất với thú một sừng, trong khi một số khác lại bất đồng với điều này vì Kì lân có hai sừng. Nó là một tượng vật của những sĩ quan quân đội cấp cao và là một biểu hiệu của sự chính trực và dòng dõi cao quý. Da nó gồm năm màu – đỏ, vàng, xanh dương, trắng và đen; tiếng kêu của nó giống tiếng chuông ngân. Truyền thuyết cho rằng nó sống được một ngàn năm và là loài cao quý nhất trong các loài vật (5). Continue reading

J. E. Cirlot – Mặt trăng

Tính biểu tượng của mặt trăng về tầm mức là rộng lớn và rất phức tạp. Quyền năng của vệ tinh này đã được ghi nhận bởi Cicero, khi ông nhận xét rằng ‘Mỗi tháng mặt trăng hoàn tất cùng một quỹ đạo được thực hiện bởi mặt trời trong một năm… Nó góp phần rất lớn vào sự trưởng thành của các loài cây bụi và sự sinh trưởng của các loài động vật.’ Điều này giúp giải thích vai trò quan trọng của những nữ thần mặt trăng như Ishtar, Hathor, Anaitis, Artemis. Con người, từ những thuở ban đầu, đã nhận thức được mối liên hệ giữa mặt trăng và thuỷ triều, và sự kết nối huyền bí hơn nữa giữa chu kì trăng và chu kì sinh lí của người nữ. Krappe – cũng như Darwin – tin rằng điều này tiếp nối một sự thực rằng sự sống của động vật có nguồn gốc từ những biển nước và rằng nguồn gốc này đã truyền một nhịp điệu cho sự sống còn kéo dài nhiều triệu năm. Như ông nhận xét, mặt trăng do đó trở thành ‘Chủ tể của người nữ’. Continue reading

J. E. Cirlot – Ánh sáng

Theo truyền thống, ánh sáng ngang với tinh thần (9). Ély Star khẳng định rằng sự ưu việt của tinh thần có thể được nhận ra ngay lập tức bởi cường độ chiếu sáng của nó. Ánh sáng là biểu hiện của luân lí, của trí tuệ và bảy đức tính (54). Sự trắng sáng của nó ám chỉ một tổng hoà của Toàn thể (the All). Ánh sáng của bất kì màu sắc đã có nào đều sở hữu tính biểu tượng tương ứng với màu sắc ấy, cộng thêm tính tạo nghĩa của sự phát xạ từ ‘Trung tâm’, vì ánh sáng cũng là lực sáng tạo, năng lượng vũ trụ, sự chiếu sáng (57). Một cách tượng trưng, sự chiếu sáng đến từ phương Đông. Nói theo tâm lí học, trở nên sáng suốt nghĩa là trở nên nhận thức được nguồn sáng, vì vậy, nguồn sức mạnh tinh thần (32).

K.H. dịch
2015.02.09

Nguyên chú của tác giả:
(9) BLAVATSKY, H. P. The Secret Doctrine. London, 1888
(32) JUNG, C. G. Psychology and Alchemy (Collected Works, 12). London, 1953
(54) STAR, Ély. Les Mystères de l’Etre. Paris, 1902
(57) TESTI, Gino. Dizionario di Alchimia e di Chimica antiquaria. Rome, 1950

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Light” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971