Andrew J. Nathan – Kim Jong-un là ai?

Andrew J. Nathan

Kim Jong-un là ai?

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Bài điểm sách cho những cuốn sau:

Tyranny of the Weak: North Korea and the World, 1950–1992

của Charles K. Armstrong

Cornell University Press, 307 tr., 35$; 24,95$ (bản bìa mềm)

Marked for Life: Songbun, North Korea’s Social Classification System

của Robert Collins

Committee for Human Rights in North Korea, 119 tr., có văn bản tại www.hrnk.org

 The Real North Korea: Life and Politics in the Failed Stalinist Utopia

của Andrei Lankov

Oxford University Press, 315 tr., 18,95$ (bản bìa mềm)

Pyongyang Republic: North Korea’s Capital of Human Rights Denial

của Robert Collins

Committee for Human Rights in North Korea, 177 tr., có văn bản tại www.hrnk.org 

The Cleanest Race: How North Koreans See Themselves—And Why It Matters

của B.R. Myers

Melville House, 200 tr., 19,99$

Lãnh tụ Bắc Triều-tiên Kim Jong-un đi thị sát trại thiếu nhi Manyongdae ở Bình-nhưỡng; bức ảnh không rõ ngày tháng, được công bố ngày 4 tháng Sáu năm 2016 bởi Thông tấn xã Trung ương Triều-tiên (조선중앙통신사 - Korean Central News Agency) thuộc chính quyền Bắc Triều-tiên. (Ảnh: KCNA/Reuters)

Lãnh tụ Bắc Triều-tiên Kim Jong-un đi thị sát trại thiếu nhi Manyongdae ở Bình-nhưỡng; bức ảnh không rõ ngày tháng, được công bố ngày 4 tháng Sáu năm 2016 bởi Thông tấn xã Trung ương Triều-tiên (조선중앙통신사 – Korean Central News Agency) thuộc chính quyền Bắc Triều-tiên. (Ảnh: KCNA/Reuters)

Hai má phúng phính và kiểu tóc loe của nhà cai trị trẻ tuổi Kim Jong-un xứ Bắc Triều-tiên, mối giao tình với cựu ngôi sao bóng rổ xăm trổ đầy mình Dennis Rodman, cùng nụ cười toe toét như trẻ vui đùa khi đứng trước những đợt phóng tên lửa, hết thảy kết hợp một cách kì dị với việc chế độ này quyết tâm nhấn chìm kẻ thù trong “biển lửa”. Những điểm đó làm cho phương Tây vừa có mối ác cảm vừa có thái độ giễu cợt đối với đất nước này. Nhiều người tiên đoán rằng Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều-tiên không thể tồn lưu lâu hơn nữa, khi xét đến tình trạng đói nghèo ở khắp nước này, một hệ thống trại tù chuyên giết hại người vốn được khép vào tội ác chống nhân loại theo xác định của một uỷ hội điều tra của Liên hợp quốc,[1] khi xét đến tình trạng tự áp đặt thế cô lập kinh tế, tình trạng đương đầu với hết thảy các nước láng giềng, cùng sự non nớt thiếu kinh nghiệm của lãnh tụ nước này. Chính quyền Obama đã vận dụng lập trường “kiên nhẫn chiến lược”, chờ đợi những lệnh chế tài quốc tế ngày càng dữ dội sẽ buộc Bắc Triều-tiên hoặc phải từ bỏ các loại vũ khí hạt nhân hoặc phải lâm vào tình trạng nội phá (implode) và bị thâu tóm bởi chính phủ Nam Triều-tiên thân Tây phương.

Nhưng kẻ láng giềng thân cận khác của Bắc Triều-tiên, Trung-quốc, chưa bao giờ mong đợi CHDCND Triều-tiên đầu hàng hay sụp đổ, và cho đến nay họ vẫn đúng. Thay vì từ bỏ bom hạt nhân và các chương trình tên lửa, Bình-nhưỡng đến nay được cho là có tầm mười đến hai mươi thiết bị hạt nhân và hơn một nghìn tên lửa tầm ngắn, tầm trung và tầm xa, và đang phát triển một đầu nổ dạng nén vốn có thể công phá nội địa Hoa-kì.

Ở Triều-tiên, chế độ này gần đây đã qua được bài thử thách ngặt nghèo nhất mà các chế độ toàn trị phải đối diện, quá trình kế nghiệp vị trí lãnh tụ. Nước này chịu sự cai trị của Kim Il-sung từ năm 1948, khi kết thúc thời gian chiếm đóng của Xô-viết thời hậu chiến ở Bắc Triều-tiên, cho đến khi ông ta mất vào năm 1994; tiếp theo là sự cai trị của người con trai Kim Jong-il, từ năm 1994 cho đến khi ông này mất năm 2011; và kể từ 2011 là dưới sự cai trị của cháu trai người sáng lập, Kim Jong-un. Jong-un là con trai út trong nhà và là người kế vị bất ngờ; y trỗi lên như người thừa tự rõ ràng chỉ hai năm trước khi cha y mất, ngược lại với cha y, vốn là người thừa tự rành rành trong suốt 20 năm. Người ta tin rằng Kim Jong-il đã điều hành việc khủng bố, làm hàng giả, buôn lậu và các chiến dịch phổ biến vũ khí trong hầu hết thời gian tại vị. Continue reading

Niall Ferguson – Paris và sự sụp đổ của La-mã

 

Niall Ferguson

Paris và sự sụp đổ của La-mã

Duy Đoàn chuyển ngữ

Lời người dịch: Bài viết của giáo sư sử học Niall Ferguson của trường Harvard University, đối chiếu sự vụ nước Pháp ngày 13/11 với sự vụ La-mã sụp đổ cách đây 16 thế kỉ. Ông có một cái nhìn đáng chú ý, tuy nhiên lại gay gắt vô cùng đối với tình trạng nhập cư.

 

Tôi sẽ không lặp lại những gì các vị đã đọc được hay nghe được. Tôi sẽ không nói rằng những gì xảy ra tại Paris vào tối thứ sáu là điều khủng khiếp chưa có tiền lệ, bởi vì không phải vậy. Tôi sẽ không nói rằng thế giới đứng về phía Pháp, bởi đó là cách nói rỗng tuếch. Tôi cũng không tán thưởng lời cam kết của Tổng thống Hollande về việc sẽ trả đũa “không thương tiếc”, bởi tôi không tin điều ấy. Thay vào đó, tôi sẽ cho bạn biết đây chính xác là cách thức mà một nền văn minh sụp đổ.

Đây là cách Edward Gibbon mô tả việc người Goth hạ bệ La-mã vào tháng Tám năm 410 thời Công nguyên:

“Trong giờ phút phóng túng hoang dại, khi mọi tình cảm bị khích động, và mọi kiềm hãm được tháo dỡ… một cuộc tàn sát dã man đã được thực hiện đối với người La-mã; và… các con phố của đô thành tràn ngập xác chết… Bất cứ lúc nào phe Rợ bị đối thủ khiêu khích, họ mở rộng hành vi giết chóc tràn lan sang những kẻ yếu, những kẻ vô tội, và những kẻ bất lực…”

Lúc này, đó chẳng phải mô tả những cảnh tượng mà ta đã chứng kiến tại Paris vào tối thứ sáu?

Đúng vậy, “History of the Decline and Fall of the Roman Empire” của Gibbon đã lột tả hồi cáo chung của La-mã như một cơn bùng tích tụ qua một thiên niên kỉ. Nhưng thế hệ các sử gia mới, như Bryan Ward-Perkins và Peter Heather, đã đưa ra khả năng rằng tiến trình suy vong của La-mã thực tế diễn ra bất thần – và đẫm máu – thay vì diễn ra êm ái: một sự “chiếm lĩnh đầy bạo lực… bởi những kẻ rợ xâm lăng” vốn đã tiêu huỷ một nền văn minh phức hợp trong khoảng thời gian chỉ một thế hệ. Continue reading

John Lukacs – Những con quái vật hợp cùng nhau

John Lukacs

Những con quái vật hợp cùng nhau

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Đây là bài điểm sách cho cuốn The Devils’ Alliance: Hitler’s Pact with Stalin, 1939–1941 của Roger Moorhouse, Basic Books, 382 trang, $29.99

 

Trong kho văn liệu khổng lồ về Stalin và Hitler trong suốt thời Thế chiến II, rất ít điều được nói về mối quan hệ đồng minh của họ trong 22 tháng. Đó không chỉ là một chương lạ thường trong lịch sử cuộc chiến, và ý nghĩa của điều này xứng đáng có được nhiều sự chú ý hơn những gì được tiếp nhận lâu nay.

Có hai yếu tố liên quan đến sự thờ ơ này. Một là sau khi Hitler quyết định xâm chiếm Nga mà thực hiện không thành; Stalin trỗi lên như một trong những kẻ chiến thắng uy quyền của Thế chiến II. Yếu tố còn lại là việc các Thế lực Tây phương không mấy lưu tâm đến Đông Âu. Tuy vậy cuộc chiến nổ ra vào năm 1939 lại là do Đông Âu, là kết quả từ quyết định của người Anh (và Pháp) nhằm chống lại việc Đức chinh phục Ba-lan. Cơn địa chấn chính trị của Hiệp ước Nazi-Soviet vào ngày 23 tháng Tám năm 1939 chín ngày trước khi nổ ra cuộc chiến vào ngày 1 tháng Chín đã không ngăn được Anh quốc và Pháp tuyên bố chiến tranh với Đức trước cuộc xâm lăng của Đức vào Ba-lan. Đây là một trong số ít – rất ít – những quyết định có ích cho họ vào thời điểm đó. Việc họ miễn cưỡng trong nhiều tháng tiếp theo để tiến hành nghiêm túc cuộc chiến chống Đức lại là câu chuyện khác.

Giờ đây ba phần tư thế kỉ đã trôi qua kể từ năm 1939. Khá nhiều điều được viết về Hiệp ước Nazi-Soviet kể từ lúc ấy, phần lớn của các cây bút và sử gia Đông Âu. The Devil’s Alliance là bản tường trình tốt của sử gia Anh Roger Moorhouse về việc hiệp ước có ý nghĩa gì đối với Hitler và Stalin – và tệ hơn là đối với nạn nhân của hiệp ước đó. Có lẽ phần giá trị nhất của cuốn sách đã xử lí được những hậu quả tức thời của hiệp ước năm 1939. Trước đó, một cách hiển nhiên và dữ dội, chủ nghĩa Nazi và chủ nghĩa cộng sản là kẻ thù công khai của nhau. Từ những ngày đầu tiên thăng tiến chính trị của mình, Hitler đã mô tả Do-thái giáo và chủ nghĩa cộng sản là hai kẻ thủ chính yếu của mình. Vào thời điểm đó, Stalin không hẳn là một kẻ theo ý hệ. Cũng như Hitler, y là một người theo chủ nghĩa dân tộc; y gần như không lưu tâm đến chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Continue reading

Anne Applebaum – Hiểu về Stalin

 

Anne Applebaum

Hiểu về Stalin

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Làm thế nào Stalin lại trở thành Stalin? Hay nói đúng hơn: Làm thế nào mà Iosif Vissarionovič Džugašvili – cháu trai của những người nông nô, con trai của một nữ thợ giặt và một người thợ giày ít học – lại trở thành Tổng tư lệnh Stalin, một trong những kẻ sát nhân hàng loạt tàn bạo nhất mà thế giới từng biết? Làm thế nào mà một cậu bé sinh ra tại một thị trấn nơi vùng đồi hẻo lánh xứ Georgia lại trở thành một kẻ độc tài kiểm soát cả nửa châu Âu? Làm thế nào mà một chàng trai sùng đạo vốn chọn con đường theo học thành linh mục lại lớn lên trở thành một kẻ vô thần đầy nhiệt huyết cũng như một kẻ theo ý hệ Marx.

Chịu ảnh hưởng từ Freud, nhiều tiểu sử gia tham vọng – chưa nói đến các tâm lí gia, các triết gia và các sử gia – đều đi tìm câu trả lời ở thời thơ ấu của chủ thể mà họ đề cập. Cũng như sự cuồng tín của Hitler được “giải thích” bằng quá trình trưởng thành, bằng đời sống tình dục, hoặc bằng chuyện ông ta được cho là chỉ có một tinh hoàn, thì sự hung ác kiểu tâm lí biến thái của Stalin được quy cho người cha, mà theo chính lời Stalin, là người “đánh đập ông không thương tiếc”, hoặc quy cho người mẹ, một người có lẽ từng ngoại tình với một linh mục địa phương. Những lí giải khác đều đưa ra vụ tai nạn khiến Stalin có một cánh tay teo lại, vụ nhiễm trùng đậu mùa làm mặt ông ta đầy sẹo, hoặc vụ khiếm khuyết bẩm sinh làm dính hai ngón chân lại mang đến cho ông ta bàn chân trái có màng – một dấu hiệu của quỷ.

Chính trị cũng ảnh hưởng đến các tiểu sử gia về Stalin. Trong suốt thuở sinh thời, những kẻ đồng cảm biến ông ta thành một siêu anh hùng, nhưng những kẻ đối địch cũng áp đặt thiên kiến của mình. Vốn là kẻ thù ghê gớm nhất của Stalin, Leon Trotsky là người diễn giải Stalin có sức ảnh hưởng cực kì to lớn ở thế kỉ 20, định hình nên cách nhìn của một thế hệ sử gia, từ Issac Deutscher trở về sau. Stalin của Trotsky là một kẻ thiếu cơ trí và không có tính sảng khoái, một kẻ thất học và tỉnh lẻ đạt được quyền lực nhờ thao túng bộ máy quan liêu và nhờ bạo lực tàn khốc. Trên hết, Stalin của Trotsky là một kẻ xoay chiều ban đầu đã phản bội Lenin và sau đó phản bội sự nghiệp theo chủ nghĩa Marx. Bức chân dung như thế nhằm phục vụ một mục đích, chính là truyền cảm hứng để những kẻ theo Trotsky duy trì sự trung thành đối với cuộc cách mạng Xô-viết “đáng lẽ đã xảy ra” – nếu như trước đó người lên nắm quyền là Trotsky chứ không phải là một Stalin buồn thảm, dè dặt và yếm thế. Continue reading

Graham Allison – Làm thế nào một cuộc thế chiến nữa có thể xảy ra?

 

Graham Allison

Làm thế nào một cuộc thế chiến nữa có thể xảy ra?

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Đánh giá những tương đồng và những khác biệt giữa năm 1914 và 2014.

Tháng [Bảy] này vào một thế kỉ trước, châu Âu đứng trước nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tàn khốc khiến cho các sử gia phải tạo ra một hạng mục mới: “Thế chiến”. Không nhà lãnh đạo nào ở thời điểm đó có thể hình dung vùng đất hoang tàn mà họ sẽ sống tại đó bốn năm sau. Tới năm 1918, mỗi nhà lãnh đạo đều đã mất đi thứ họ yêu dấu nhất: kaiser (hoàng đế Đức) bị truất bỏ, Đế chế Áo-Hung bị giải thể, tsar (Nga hoàng) bị giới Bolshevik lật đổ, nước Pháp chịu khổ cả một thế hệ, và nước Anh bị tước đi thời thanh xuân và của cải của mình. Một thiên niên kỉ làm chủ địa cầu của các nhà lãnh đạo Âu châu đã khựng lại lúc đó.

Điều gì gây nên tai ương này? Tổng thống John F. Kennedy thích châm chọc các vị đồng sự của mình bằng câu hỏi ấy. Khi đó ông ta sẽ nhắc cho họ nhớ câu trả lời ưa thích của mình, trích lại lời Thủ tướng Đức Theobald von Bethmann Hollweg:  “À, giá như chúng ta biết được.” Lúc xảy ra Cuộc khủng hoảng Tên lửa Cuba năm 1962, Kennedy tự thấy mình “mặt đối mặt” với nhà lãnh đạo Soviet Nikita Khrushchev, và đưa ra những quyết định mà ông biết có thể làm cả trăm triệu người chết ngay, khi đó ông chiêm nghiệm về những bài học năm 1914. Ở vài thời điểm quyết định, ông điều chỉnh những điều ông có khuynh hướng sẽ thực hiện để nỗ lực tránh lặp lại những sai lầm đó của các nhà lãnh đạo.

Khi họ chọn cách đáp ứng những cam kết, hay không, điều động quân đội trong sớm muộn, những kẻ tham gia vào Thế chiến thứ nhất đồng loạt tìm cách định hình khung nhận thức của công chúng về cuộc khủng hoảng này. Mỗi bên tìm cách trách cứ kẻ thù của mình. Sau cuộc thảm hoạ đó, những kẻ chiến thắng tự cho mình cái quyền đáng kể với các dữ kiện nhằm biện minh cho việc trừng phạt kẻ chiến bại. Hiệp ước Versailles áp đặt những hình phạt hà khắc đến mức tạo điều kiện nổ ra Thế chiến thứ nhì chỉ hai thập niên sau đó. Cũng dễ hiểu khi màn kịch lớn này đã định hình những giải thích của sử gia về các nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến. Nhưng như kết luận thẳng thừng từ cuốn sách xuất sắc nhất trong những cuốn sách mới về cuộc xung đột này, cuốn The Sleepwalkers, thì ta có thể tập hợp những bằng chứng có được nhằm ủng hộ cho một loạt những khẳng định gây thách thức. “Việc bùng nổ cuộc chiến năm 1914 không phải là một kịch bản kiểu Agatha Christie mà kết cuộc ta sẽ khám phá ra kẻ phạm tội đứng trên một xác chết nào đó trong phòng bảo quản với khẩu súng lục bốc khói,” Clark viết như thế. “Trong câu chuyện này không có khẩu súng bốc khói nào cả; hoặc, thay vào đó, là có một khẩu nằm trong tay của mọi nhân vật chính.” Continue reading

Hồ Tài Huệ Tâm (Giáo sư Đại học Harvard) – Gái nước Nam

Hồ Liễu dịch

Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh
Tục ngữ Việt nam

Trích trong cuốn Thuyết cấp tiến và cội nguồn của Cách mạng Việt nam / Radicalism and the Origins of the Vietnamese Revolution, Hue-Tam Ho Tai, Ấn quán Đại học Harvard, 1992, trang 88–113.

 

Vào năm 1925, ngoại tôi cho chụp một bức ảnh chụp hai cô con gái đầu, dì và mẹ. Nhìn lúng túng trong áo dài và kiểu tóc chải chuốt, hai thiếu nữ, ở độ tuổi 17 và 12, dường như e lệ và chưa chạm với đời. Còn tồn tại một bức ảnh khác của Nguyễn Trung Nguyệt, dì hai, chụp chỉ bốn năm sau đó. Trong bức ảnh ấy, dì không còn mặc lễ phục nhiều màu diêm dúa của một cô con gái nhà Nho, nhưng mặc áo bà ba của phụ nữ nông dân. Dì ngó đăm đăm vào máy ảnh với đôi mắt thách thức: đó là một hình phạm nhân của công an. Tôi đã tìm thấy nó trong văn khố của Sở An ninh Pháp.

Vào lúc bị bắt, dì Nguyệt phụ trách việc tuyển mộ phụ nữ vào Việt nam Thanh niên Đồng chí hội, một tổ chức chống thực dân mà Nguyễn Ái Quốc đã thành lập trong những người Việt lưu vong ở Trung quốc năm 1925. Dì trải qua tám năm kế tiếp của đời mình trong nhà tù sau khi qua một phiên toà gây chấn động, trong suốt phiên toà thanh danh của dì bị nát tan và dì bị đóng dấu là một phần tử cách mạng nguy hiểm. Câu chuyện về sự can dự ngắn ngủi và bi đát của dì Nguyệt vào chính trị cách mạng là đáng quan tâm không bởi những khía cạnh lâm li của nó, nhưng bởi dì quá là một sản phẩm của thời mình. Tuy vậy, trong khi hầu hết những người đương thời dì trong cuộc Cách mạng Việt nam thường tiến cấp từ sự nổi dậy nhân thân tới việc dấn thân chính trị, bản thân dì Nguyệt làm một hành trình khác. Chính chữ hiếu đã dẫn dì tới chủ nghĩa ái quốc và tới nữ quyền.

Như Nguyễn An Ninh, Nguyễn Trung Nguyệt cũng xuất thân từ một gia đình mật thiết thiên về học thuật và những tình tự chống thực dân. Và như ông ấy, dưới ảnh hưởng của những người thân quyến ái quốc, dì trở thành một người nổi dậy đầy bổn phận, một người nhiệt liệt bài trừ thánh tượng. Nguyễn An Ninh kêu gọi một giới trẻ dường như trung lập về giới tính nhưng thực sự là phái nam để kết hợp sự tìm kiếm của giới này về tự do nhân thân với sự độc lập quốc gia. Nguyễn Trung Nguyệt đại diện cho cuộc hôn nhân của nữ quyền với chủ nghĩa chống thực dân bên trong Cách mạng Việt nam. Mãi tới khi dì dời nhà sau những cuộc bãi trường của học sinh năm 1926, dì Nguyệt đã không lộ ra những dấu hiệu muốn nêu lên lí tưởng về giải phóng phụ nữ. Nhưng trong lúc dì trưởng thành, vai trò của phụ nữ ở Việt nam đã trở thành một điểm chủ chốt của sự đối đầu giữa những người tiến bộ và những người bảo thủ về văn hoá. Hơn nữa, vì những tranh chấp về văn hoá và đạo đức thường có một tầng ngầm chính trị, vấn đề của phụ nữ vận hành như một thuyết ngôn về tự do, trong đó những khác biệt giữa những mối quan tâm về nhân thân và quốc gia trở nên mơ hồ và hoà lẫn với nhau.  Continue reading

Shawn McHale – In ấn và quyền lực: Những tranh luận Việt nam về địa vị của đàn bà trong xã hội, 1918-1934

IN N VÀ QUYN LC: NHNG TRANH LUN VIT NAM V ĐA V CA ĐÀN BÀ TRONG XÃ HI, 1918–1934

Shawn McHale

Đại học Case Western Reserve

Hồ Liễu dch

Những người nghiên cứu về lịch sử Việt nam quen thuộc với sáo ngữ rằng đàn bà Việt hưởng quyền lực nhiều hơn những người tương ứng Trung quốc của họ. Tuy nhiên, các học giả đã ít phân tích những văn bản viết về hoặc do đàn bà trong thời kì thuộc địa và sản xuất ra ít bản nghiên cứu lịch sử về đàn bà Việt. Tiểu luận của tôi xem xét cung cách mà đàn ông và đàn bà thuộc giới ưu tú bắt đầu tưởng tượng lại địa vị của đàn bà trong xã hội, và cứu xét vai trò mà một nền văn hoá in ấn hiện xuất đảm nhiệm trong sự tái quan niệm này. Tôi tập trung vào những tranh luận về sự bình đẳng của đàn bà và sự giải phóng của đàn bà đã xảy ra giữa hai cuộc thế chiến.[1]

Trọng tâm bài tiểu luận của tôi sẽ là một sự so sánh của một tập hợp những văn viết xuất hiện trên tờ N gii chung [Tiếng chuông cho đàn bà] vào năm 1918 cùng với một tập hợp khác được công bố trên tờ Ph n tân văn [Báo đàn bà] trong đầu thập niên 1930. Năm 1918, những người viết trên N gii chung đã đề cập tới nam nữ bình quyền trong khuôn khổ của sự hợp tác Pháp-Việt. Tới thập niên 1930, những người viết báo thuộcPh n tân văn đã theo một lập trường mang tính hoạt động xã hội hơn và dấn thân vào những cuộc tranh luận sôi nổi về việc giải phóng phụ nữ. Họ bác bỏ một thái độ hợp tác dễ dãi và đôi lúc chất vấn những định chế cơ bản, như gia đình, và những giá trị Nho giáo mà qua đó những định chế này đã được hiểu. Sự xuất hiện của mỗi tập hợp các bài báo bị phân cách khoảng mười lăm năm, tuy vậy một thay đổi lớn lao thì hiển nhiên trong những tri giác của giới ưu tú về vai trò của đàn bà trong xã hội.

Những bài viết mà tôi cứu xét, chẳng hạn những phê bình đương thời về xã hội Việt, cũng minh hoạ chiều sâu của sự khủng hoảng phát sinh do sự hội ngộ thuộc địa. Suốt thời kì này, đàn ông và đàn bà Việt đặt những câu hỏi thăm dò về địa vị của đàn bà trong gia đình và trong xã hội. Họ nhìn tới Trung quốc, Nhật bản, và phương Tây cho cảm hứng trong việc tái công thức những vai trò của đàn bà. Tới nửa sau thập niên 1920, một ít đàn bà Việt hướng tới ch nghĩa ph n [nữ quyền], và cô gái tân thời phô trương những cung cách phương Tây nổi trội trong giới ưu tú. Hoặc thảo luận về tình yêu, những quyền của đàn bà, việc tự sát, hoặc nghĩa vụ Nho giáo của đàn bà, những văn viết của thời kì muộn hơn chuẩn đoán tinh tế nhiều “căn bệnh” tác động lên đàn bà Việt dù một số phương thuốc được gợi ý (chẳng hạn như bỏ gia đình) bây giờ dường như không thực tế.

Luận văn này sẽ không chỉ phân tích một tập hợp những văn bản về địa vị của đàn bà trong thời Việt nam thuộc địa. Nó cũng thăm dò vấn đề về cách nào để tiếp cận những văn bản này và người Việt thời đó đọc chúng ra sao. Hướng tới mục đích này, tôi sẽ mô tả mối quan hệ của những văn bản được lựa chọn với một “văn hoá in ấn” hiện xuất, cố định giá sự hưởng ứng của độc giả tới những văn bản, và thảo luận về cộng đồng đàn bà thiết lập thính giả (nhưng không chỉ) chính về cả hai tờ báo này. Thay vì thông giải những văn bản như thể chúng không nhập thể trong thời gian và không gian, bài viết này áp dụng một lối tiếp cận theo lịch sử. Như nhà sử gia Pháp Roger Chartier đã cho rằng, chúng ta phải kết nối thế giới biểu tượng của văn bản với những thực hành được điều kiện hoá theo lịch sử giúp mang ý nghĩa tới việc đọc. Tôi sẽ quan tâm đặc biệt tới mối quan hệ giữa việc đọc và ngữ cảnh của nó trong khi thăm dò những cung cách mà việc đạt tới chữ in và “văn hoá in ấn” đã chuyển đổi từ 1918 tới 1934. Thực sự, một sự hiểu biết sơ sài về những khác biệt trong văn hoá in ấn của mỗi thời kì, và mối quan hệ của độc giả với chữ in, giúp chúng ta đặt định những văn bản trong khung cảnh thích hợp của chúng. Câu hỏi trung tâm dẫn dắt Chartier trong những điều tra về nước Pháp thời Chế đ(Ancien Regime, tức thời Quân chủ) cũng hướng dẫn tôi ở đây: Sự lưu thông gia tăng của chữ in đã biến cải những dạng thức của xã hội tính, cho phép những cung cách mới về suy nghĩ, và làm thay đổi những tương quan về quyền lực ra sao?”[2]  Continue reading

David G. Marr – Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

David G. Marr (Trường Đại học Quốc gia Úc)

Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

Duy Đoàn chuyển ngữ, Nguyễn Tiến Văn hiệu đính

 

Nói về mặt chính trị, Tuyên ngôn Độc lập do Hồ Chí Minh đọc trước đám đông ở Hà-nội vào ngày 2/9/1945 là một trong những văn bản quan trọng nhất trong lịch sử Việt-nam thời hiện đại. Đối với nhiều người thì nó biểu trưng cho hồi cáo chung của sự cai trị ngoại quốc, mặc dù chuyện này còn cần đến chín năm thử thách bằng máu lửa. Chắc chắn nó đánh dấu việc thành lập nước Việt-nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH), tiền thân của hệ thống nhà nước ngày nay, mặc dù ông Hồ đã cẩn trọng gọi tên chính quyền của mình là lâm thời, đợi tổng tuyển cử cả nước và ban hành hiến pháp.

Cơ bản hơn thì bản Tuyên ngôn chứa đựng một thế giới quan đầy kịch tính, một lịch sử cô đặc, một vài khẳng định táo bạo, những cụm từ sinh động, và hình tượng đầy cảm xúc – tất thảy những điều này nhằm cố gắng thu hút trí tưởng tượng của trước tiên là những khán thính giả trực tiếp trong số hàng mấy trăm ngàn người, và sau đó là của hàng triệu người Việt-nam khi họ nghe lại bài đọc đó hoặc đọc nó trên báo chí. Cùng với hình ảnh trực quan của một quý ông mảnh khảnh  lúc tuyên bố độc lập cho Việt-nam sau tám mươi năm chịu ách nô dịch, những điều Hồ Chí Minh nói với người dân ngày ấy đã giúp tiếp nhiên liệu tranh đấu sau đó chống trước tiên là việc quay lại của người Pháp, và tiếp sau là người Mĩ. Mỉa mai thay, tuy những phần then chốt trong bản Tuyên ngôn không nhắm trực tiếp đến người Việt mà nhắm đến người nước ngoài nhưng lại bị phần lớn những thành phần được nhắm tới đó làm lơ đi.

Hồ Chí Minh từ vùng đồi núi bắc bộ tới Hà-nội trước đó chỉ một tuần, được che đậy bí ẩn và được nhanh chóng chuyển tới chỗ ở bí mật ở phố Hàng Ngang để đề phòng những đòn tấn công phủ đầu của nhiều phe đối thủ. Việt Minh đã kiểm soát hầu hết các toà nhà chính phủ từ ngày 19 tháng Tám, và có nhiều bằng chứng cho thấy sự ủng hộ của quần chúng đối với chính quyền mới chớm, tuy vậy không thể loại trừ sự phản công của quân đội Nhật hoặc của lực lượng cảnh vệ Pháp, chưa đề cập đến việc có thể có kẻ sát thủ đơn độc người Việt nào đó. Bên ngoài những khả năng báo điềm gở như vậy, ông Hồ có thể nhận ra được rằng khi tránh lộ diện trước lúc xuất hiện chung cuộc của mình trước bàn dân thiên hạ thì ông sẽ làm tăng lên hiệu ứng kịch tính, làm tăng vầng hào quang của sự tò mò và làm tăng sự phỏng đoán đầy hào hứng vốn đã vây xung quanh ông rồi.

Suốt những tháng ngày cao trào trong năm 1945, Hồ Chí Minh chọn cách không lộ thân phận mình ra trước công chúng, hay thậm chí trước hầu hết những thành viên thuộc Đảng Cộng sản Đông Dương. Có lẽ không tới 500 người biết được chắc chắn ông chính là nhân vật Nguyễn Ái Quốc huyền thoại, người đã cố gắng trình bản thỉnh nguyện của người yêu nước lên Hội nghị Versailles năm 1919, trở thành một thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, làm việc cần mẫn cho Quốc tế Cộng sản ở Trung-quốc và Đông Nam Á, và sau đó được báo tử tại nhà tù Hồng-kông. Nguyên do chính cho việc từ chối phục hồi lại cái tên Nguyễn Ái Quốc (cũng là bút danh) có liên quan đến mong muốn của Đảng nhằm loại bỏ hình ảnh trước 1941 của việc đấu tranh giai cấp và chủ nghĩa quốc tế vô sản, nhằm ủng hộ đoàn kết các giai cấp, tinh thần yêu nước bất diệt, và sự thăng hoa trong mặt trận thống nhất dân tộc Việt Minh. Cho dù Ái Quốc nghĩa là “yêu nước”, nhưng người sở hữu biệt danh này đã được nhận dạng công khai là một người theo Lenin và chủ trương chiến đấu. Cái tên Chí Minh, nghĩa là “ý chí vươn tới sự khai minh”, nghe có âm hưởng truyền thống nhiều hơn. Trong một thời gian, ông Hồ có vẻ chần chừ trong việc cho cái tên Nguyễn Ái Quốc đi vào quên lãng hoàn toàn, bởi ông đã dùng tên đó để kí hai bản kêu gọi gây xúc cảm hồi năm 1941 và giữa tháng Tám 1945. Không lâu trước khi tin tức lan khắp hàng ngũ Đảng cho biết hai người ấy thực chất là một. Sau một hai năm, hầu hết người dân cũng đều nghe nói đến điều này, tuy thế mối kết nối vẫn chưa được đưa ra chính thức đến tận nhiều năm sau đó. Một bầu không khí bí ẩn nhất định luôn bao quanh lấy ông Hồ, là thứ mà ông không bao giờ ngăn lại.  Continue reading

Những bằng chứng mới cho nguồn gốc ngành sản xuất rượu nho tại Pháp

 

 

Bệ ép nho cổ đại xuất xứ từ vùng Lattara, nhìn từ trên xuống. Chú ý cái vòi để tuôn chất lỏng ra ngoài. Cái bệ này được đặt lên bốn hòn đá nhỏ để nâng lên khỏi mặt sân. Người ta tìm thấy gần đó có rất nhiều vết tích còn sót lại của các loại nho trồng.  Ảnh: Michel Ply, bản quyền l’Unité de Fouilles et de Recherches Archéologiques de Lattes (Nguồn: “Beginning of viniculture in France”, Proceedings of the National Academy of Science, 6/2013.)

Bệ ép nho cổ đại xuất xứ từ vùng Lattara, nhìn từ trên xuống. Chú ý cái vòi để tuôn chất lỏng ra ngoài. Cái bệ này được đặt lên bốn hòn đá nhỏ để nâng lên khỏi mặt sân. Người ta tìm thấy gần đó có rất nhiều vết tích còn sót lại của các loại nho trồng. Ảnh: Michel Ply, bản quyền l’Unité de Fouilles et de Recherches Archéologiques de Lattes (Nguồn: “Beginning of viniculture in France”, Proceedings of the National Academy of Science, 6/2013.)

Trước giờ Pháp vốn nổi danh trên toàn thế giới là đất nước dẫn đầu trong ngành trồng nho và làm rượu vang. Nhưng khởi nguồn của ngành trồng nho tại Pháp vẫn còn là điều bí ẩn cho đến gần đây.

Những vò hai quai và bệ ép nho làm bằng đá vôi được nhập khẩu từ vùng Etruria cổ đại đã được các nhà khoa học phát hiện ra tại khu vực hải cảng cổ xưa thuộc vùng Lattara miền nam nước Pháp. Những phát hiện này đã cung cấp chứng cứ khảo cổ phân tử sinh học sớm nhất từgn được biến về loại rượu nho và lĩnh vực làm rượu, và cho thấy khởi điểm của ngành công nghiệp trồng nho của người Celts hay Gaul ở Pháp là vào khoảng năm 500-400 trước Công nguyên. Đây là kết quả rút ra từ nghiên cứu mang tên “The Beginning of Viniculture in France” (“Khởi điểm lĩnh vực trồng nho tại Pháp”) được công bố trên tập san Proceedings of the National Academy of Science số ra ngày 3/6/2013. Đứng đầu cuộc nghiên cứu này là tiến sĩ Patrick McGovern, giám đốc Phòng thí nghiệm khảo cổ phân tử sinh học thuộc Viện bảo tàng của trường Đại học Pennsylvania và là tác giả của cuốn Ancient Wine: The Search for the Origins of Viniculture (Princeton University Press, 2006). Nghiên cứu này còn là kết quả cộng tác giữa McGovern và các đồng nghiệp tại Pháp và Mĩ.

Tiến sĩ McGovern đã dành phần nhiều thời gian trong sự nghiệp để khảo xét các dữ liệu khảo cổ, triển khai các phân tích hoá học, và dõi theo đường đi của mấy cây nho (Vitis vinifera) của xứ Á-Âu (Eurasia) ở môi trường hoang dã và trong môi trường trồng trọt của con người. Đối với ông thì việc xác nhận chứng cứ xa xưa nhất cho ngành rượu nho ở Pháp là bước tiến then chốt nhằm thấu hiểu sự phát triển đang diễn tiến của cái mà ông gọi là “nền văn hoá rượu nho” trên toàn thế giới – vốn khởi đầu từ vùng núi Taurus của Thổ-nhĩ-kì, vùng núi Caucasus, và/hoặc vùng núi Zagros ở Iran khoảng 9,000 năm trước.

“Nào giờ người ta đã ghi nhận sự trỗi dậy của Pháp thành thế lực nổi bật trên toàn cầu trong nền văn hoá rượu nho, đặc biệt từ thế kỉ 12, khi các tu sĩ dòng Citeaux bằng phương pháp thử-sai đã xác định Chardonnay và Pinot Noir là hai loại nho trồng tốt nhất ở vùng Burgundy”, tiến sĩ McGovern nhận thấy. “Những gì chúng ta không có là bằng chứng hoá học rõ ràng, kết hợp với dữ liệu thực vật học và khảo cổ học, để chứng tỏ cách thức rượu nho được đưa vào Pháp và khởi nên ngành công nghiệp bản xứ này.

“Giờ thì ta biết rằng người Etruria cổ đại đã quyến rũ người Gaul bước vào nền văn hoá rượu nho Địa-trung-hải bằng cách nhậu khẩu rượu vào miền nam nước Pháp. Điều này làm cho nhu cầu người Pháp tăng lên mà chỉ có cách thiết lập nên nền công nghiệp bản xứ thì mới đáp ứng được, có thể được thực hiện thông qua việc cấy ghép cây nho trồng ở Ý, và lấy được từ người Etruria các kĩ năng chuyên môn trong việc làm rượu.” Continue reading

Những vấn đề lịch sử trong cuốn “Súng, vi trùng và thép” của Jared Diamond


Cuốn sách “Súng, vi trùng và thép” là nỗ lực của Jared Diamond nhằm đi tìm câu trả lời tối hậu cho một thắc mắc dường như quá hiển nhiên, như chính tác giả đã đề cập ngay phần đầu sách: “Tại sao lịch sử đã diễn ra trên mỗi châu lục một khác?” Vì e rằng sẽ có nhiều người ngay lập tức nghĩ đến việc cuốn sách sẽ xoay quanh vấn đề về chủng tộc, nên ngay sau khi nêu câu hỏi như thế thì ông Jared Diamond liền đính chính lại ngay: “Nếu như câu hỏi này lập tức khiến bạn nhún vai cho rằng bạn sắp phải đọc một luận văn phân biệt chủng tộc thì xin thưa, không phải vậy đâu: như bạn sẽ thấy, những lời đáp cho câu trả lời này tuyệt không bao hàm những sự khác biệt về chủng tộc.”

Đúng như vậy, nếu xem xét cho rốt ráo và kĩ càng câu hỏi mà ông Jared Diamond đưa ra, thì quả thật việc đưa ra nguyên do vì mỗi chủng tộc phát triển khác nhau là một câu trả lời hoàn toàn dở dang, nửa vời và thậm chí là một câu trả lời thiếu trách nhiệm. John Locke, triết gia người Anh ở thời kì Ánh sáng bên châu Âu, đã từng phát biểu cụm từ tabula rasa (blank sheet, tức “tờ giấy trắng”) để ý chỉ rằng tâm thức con người ta khi vừa mới sinh ra giống như một tờ giấy trắng vậy, và phải qua thời gian thì “tờ giấy trắng” đó mới được tô điểm thêm bởi kinh nghiệm, được hình thành thông qua cảm nhận và phản hồi từ thế giới bên ngoài, để từ đó tạo nên tri thức của chính bản thân [1]. Khái niệm tabula rasa này nói về tâm thức con người, mà cũng có thể hiểu rộng hơn về tâm thức của cả nhân loại, tức là từ thuở ban đầu, cả nhân loại đều có cùng một xuất phát điểm là từ châu Phi, và tâm thức nhân loại lúc bấy giờ cũng tựa như tabula rasa vậy, thế nhưng qua thời gian, vì nguyên do nào đó mà hình thành nên những chủng tộc khác nhau. Lịch sử diễn ra ở mỗi nơi một khác là do chủng tộc ở những nơi đó khác nhau, vậy thì tại sao những chủng tộc đó lại khác nhau, khi loài người đều có cùng xuất phát điểm như nhau? Continue reading