Sự khác nhau giữa Tình yêu đích thực và “Tình yêu thông thường”

TÌNH YÊU THÔNG THƯỜNG” (COMMON LOVE)

CẢM GIÁC TÌNH ÁI

Tình ái là những cảm giác của sự khao khát, ham muốn chứ không phải tình yêu. “Tôi muốn biết nhiều hơn về đời tư của anh ấy. Tôi muốn biết anh ấy thích gì. Tôi muốn tin rằng anh ấy bị thu hút bởi tôi. Đó chính là sự khát khao. Nó là khát khao vì nó dựa vào những gì “Tôi muốn” chứ không dựa vào những gì bạn hoặc người khác cần.

Hãy nghĩ về toàn bộ mục đích của cuộc sống gia đình và tự hỏi trẻ sơ sinh cần gì. Một trẻ sơ sinh bước vào thế giới này hoàn toàn không tự lo liệu được cho bản thân, bé cần sự bảo vệ và chỉ dẫn để trưởng thành và phát triển những năng lực của bé, để khi trưởng thành bé có thể bước vào đời và làm những điều tốt đẹp cho người khác. Sự bảo vệ và chỉ dẫn đó là một khía cạnh của tình yêu đích thực. Tình yêu đích thực không có nghĩa là phải làm bạn cảm thấy “hạnh phúc”.

Tình ái dựa vào những nhu cầu sơ sinh là muốn được nhận, được chấp nhận và được thoả mãn. Khi một ai đó cảm thấy được nhận, được chấp nhận và được thoả mãn một cách mãnh liệt thì khi đó anh/cô ấy “đang yêu”. Nhưng sớm hay muộn, sự mãnh liệt đó sẽ bị phá huỷ. Nguyên nhân có thể là do người yêu của họ phải thực hiện những bổn phận khác trong cuộc sống, và khiến người đó cảm thấy bị phớt lờ, cơn ghen tuông dữ dội có thể bùng lên.

Bất kì đứa trẻ nào nhận được món quà từ những người khác phải đầu tiên trải qua một giai đoạn phát triển được đặc trưng bởi thái độ “sở hữu, tích trữ, bám chặt”- của tôi, của tôi – trước khi học cách chia sẻ với người khác. Khi cảm thấy được chấp nhận bởi người khác, đầu tiên bạn muốn tích trữ cảm giác đó và cho rằng nó là vật sở hữu của bạn. Cái phần trẻ con của bạn khát khao tình yêu, chứ không khát khao người trao đi tình yêu. Điều này cũng giải thích cốt lõi của sự ghen tuông: vì sợ mất thứ bạn vô cùng khao khát nên bạn ghét bất kì ai có thể xuất hiện giữa bạn và thứ bạn muốn. Continue reading

10 điều mà các giảng viên tâm lý học muốn bạn biết

image

Hằng năm, là một giảng viên tâm lý học, tôi giúp hàng trăm bạn trẻ vượt qua một chương trình học khắt khe và chuẩn bị cho tương lai của họ. Theo một ý nghĩa, tương lai đó sẽ bao gồm sự huấn luyện đại học tiên tiến hoặc một nghề nghiệp có liên quan đến khoa học hành vi – hoặc cả hai. Nhưng chúng không phải là mục tiêu duy nhất chúng tôi muốn các sinh viên của chúng tôi đạt được trong 4 năm học của họ dưới sự dẫn dắt của chúng tôi. Dưới đây là mười sản phẩm của một nền giáo dục tâm lý học mà các giảng viên tâm lý học cố gắng trau dồi ở các sinh viên của họ trong nhiều năm.

10. Hiểu rõ sự rộng lớn của nội dung các lĩnh vực trong tâm lý học. Tâm lý học rất rộng lớn! Nó bao gồm bất kỳ lĩnh vực nghiên cứu nào có liên quan đến những quá trình tâm lý hoặc hành vi – ở các loài! Những chủ đề được các nhà tâm lý nghiên cứu gồm nhiều loại khác nhau – ví dụ, trẻ sơ sinh nhận diện các khuôn mặt như thế nào, chó học cách tránh né những hậu quả đáng ghét ra sao, làm sao những tình huống tưởng chừng nhỏ bé lại có thể gây ra những hậu quả to lớn về hành vi ở người trưởng thành, con người ghi nhớ các danh sách như thế nào, và còn nhiều nữa. Khi một ai đó nói anh ấy đang học “tâm lý học” thì bạn cần hỏi “Học lĩnh vực gì? Chủ đề gì?”

9. Hiểu rõ giá trị của sự rộng lớn của các lĩnh vực ứng dụng trong tâm lý học. Các sinh viên năm nhất học tâm lý học thường nghĩ rằng tất cả các nhà tâm lý đều là những nhà tâm lý học ứng dụng (rằng tất cả các nhà tâm lý có nhiệm vụ giúp đỡ ai đó xử lý vấn đề) và tất cả các nhà tâm lý học ứng dụng đều là những nhà trị liệu. Không đúng! Các nhà tâm lý học ứng dụng có nhiều kiểu khác nhau. Một số nhà tâm lý học ứng dụng là các nhà trị liệu (như nhà tâm lý học lâm sàng, tham vấn sức khoẻ tinh thần, nhà tham vấn học đường) trong khi một số khác thì giúp các tổ chức tối ưu hoá các điều kiện làm việc (nhà tâm lý học công nghiệp/tổ chức) và những người khác làm việc trong ngành công nghiệp chăm sóc sức khoẻ để giúp đạt được những kết quả khoẻ mạnh có liên quan đến những cái chung của sức khoẻ thể chất và tinh thần (các nhà tâm lý học sức khoẻ) và nhiều nữa! Khi ai đó nói rằng anh ấy muốn “làm việc trong lĩnh vực tâm lý học”, thì anh ta cần nhận ra có rất nhiều con đường nghề nghiệp khác nhau! Continue reading

David McRaney – Sự thừa nhận chủ quan (subjective validation)

Quan điểm sai: Bạn hoài nghi những thứ chung chung.

Sự thật: Bạn có xu hướng tin những câu nói và những dự đoán mơ hồ là sự thật, đặc biệt nếu chúng tích cực và nói về cá nhân bạn.

Dựa trên dữ liệu tôi thu thập được từ những bình luận, email, thông tin từ blog You are not so smart…Tôi đã hiểu rõ bạn là ai. Đây là những phát hiện của tôi:

Bạn có một nhu cầu cần người khác thích bạn và ngưỡng mộ bạn, nhưng bạn lại có xu hướng chỉ trích bản thân. Dù bạn có một số khuyết điểm trong tính cách, bạn nhìn chung có thể bù đắp cho chúng. Bạn có năng lực chưa được sử dụng đáng kể mà bạn chưa biến nó thành lợi thế cho bạn. Bên ngoài bạn trông có vẻ kỷ luật và tự kiểm soát bản thân, nhưng bên trong bạn có xu hướng cảm thấy lo lắng và bất an. Thỉnh thoảng bạn có những hoài nghi về việc liệu bạn đã đưa ra quyết định đúng hay làm điều đúng chưa. Bạn thích một số thay đổi và khác biệt và trở nên bất mãn khi bị bao vây bởi những hạn chế và giới hạn. Bạn cũng tự hào về bản thân vì là một người tư duy độc lập và không chấp nhận những tuyên bố của người khác khi không có bằng chứng đầy đủ. Nhưng bạn thấy thật dại dột khi quá bộc trực trong việc tiết lộ về bản thân với những người khác. Đôi lúc bạn quá hướng ngoại, hoà nhã, thích giao du, nhưng lúc khác thì bạn lại hướng nội, thận trọng và dè dặt. Một số khao khát của bạn có xu hướng không thực tế.

Điều này nghe có vẻ đúng? Nó miêu tả về bạn?
Nó miêu tả về tất cả mọi người. Continue reading

Susan K Perry – 10 lầm tưởng về tình yêu

null

Tôi thích rất nhiều thứ: Màu xanh nước biển, những trái dâu và tình yêu. Nhưng tình yêu nam nữ, chính xác là gì?

Tùy thuộc vào người bạn hỏi.

Phần lớn chúng ta khá chắc chắn chúng ta biết thế nào là yêu khi ta cảm nhận thấy nó. Nhưng những xúc cảm, một trạng thái tinh thần, thì phức tạp và đa dạng hơn để bất cứ ai trong chúng ta, kể cả một chuyên gia, có thể miêu tả đầy đủ. Cái bạn trải qua tùy thuộc vào bộ phận nào của con voi bạn chạm vào.

Rất nhiều nhà tâm lý học, nhà triết học, thậm chí cả một nhà toán học đã viết các cuốn sách cho ta cái nhìn mới mẻ về tình yêu. Từ ba ấn bản này, tôi đã thu thập lại mười lầm tưởng phổ biến nhất, và những lý do của tác giả tại sao chúng lại không như ta vẫn nghĩ.

TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC, HAY LÀ NHỮNG GIẢ ĐỊNH SAI LẦM?

1. Tình yêu là một cảm xúc vô lý, bạn hoặc là “yêu” hoặc là “không yêu”

Điều đó là không đúng, theo nhà triết học Berit Brogaard, tác giả của cuốn Bàn về tình yêu: Những sự thật đơn giản về một cảm xúc phức tạp (On Romantic Love: Simple Truths about a Complex Emotion). Thực tế, tình yêu tuân theo cấp độ. Bạn có thể yêu một chút, yêu rất nhiều hoặc không yêu chút nào. Thỉnh thoảng những cảm giác của bạn khá lý trí; những lúc khác nó lại là vô lý.

2. Bạn không thể làm mình ngừng yêu hoặc chưa từng yêu

Nhưng bạn có thể. Bạn có thể dùng các chiến thuật để giúp bản thân thoát khỏi tình yêu mà bạn nghĩ là sai trái với bạn, theo lời Brogaard, tác giả của một cuốn sách là tập hợp thú vị các quan điểm mạnh mẽ, những câu chuyện có thật đầy chi tiết và tính đáng tin cậy về mặt học thuật.

3. Rơi vào tình yêu là một trạng thái sinh lí độc nhất

Không hẳn, Brogaard viết. Nó giống nhiều hơn với những gì xảy ra khi bạn phản ứng lại những nguy hiểm cảm thấy với sự tăng cao của cortisol và các hormones khác được chuẩn bị cho bạn để cao chạy xa bay hay chiến đấu. Do sự bí ẩn và hấp dẫn giới tính của đối tác tiềm năng mới, hạch hạnh nhân (amygdata) của bạn được hoạt hóa mạnh. Các chất dẫn truyền thần kinh báo hiệu cho tuyến thượng thận điều gì đó phấn khích, sợ hãi hay bí ẩn đang xảy ra. Như vậy, tình yêu có thể cảm nhận và hành động trong não bộ của bạn giống với cocaine. Continue reading

[The Atlantic] Giá trị của việc ghi nhớ những khoảnh khắc thường nhật

Tác giả: Cody C. Delistraty

null

Việc ghi lại những sự kiện hằng ngày có vẻ như rất nhàm chán, nhưng những người tham gia một nghiên cứu gần đây lại cảm thấy vui nếu có những bút tích của chúng trong tương lai.

Vào dịp Giáng sinh, anh trai tôi, bố tôi, và con chó Labrador màu sôcôla lên xe và lái xuyên bang Washington để đến thăm ông bà. Chúng đã làm việc này từ khi tôi được sinh ra. Cả ba chúng tôi – trước khi anh trai và tôi đeo headphone vào và không còn biết trời trăng gì nữa – cố gắng có những cuộc nói chuyện ý nghĩa. Sau đó tôi sẽ trở lại trường ở Anh, anh trai tôi sẽ về lại trường ở California, và bố sẽ trở lại làm việc ở Washington, một tam giác Đại Tây Dương ngăn cách chúng tôi. Cả ba chúng tôi được ở bên nhau hai lần mỗi năm, nhiều nhất là vậy, nhưng trên xe hiếm có thứ gì mới được chia sẻ. Chúng tôi ôn lại kỷ niệm với mẹ; bàn luận về những triển vọng nghề nghiệp, các đội bóng chày, và sách (nếu may mắn); và thường chúng tôi sẽ đi đến một tranh cãi nhỏ về tôn giáo hay chính trị để kết thúc cuộc nói chuyện. Không có gì để ghi lại. Không có gì để nhớ.

Cuộc sống thường ngày có vẻ quá vô vị để viết lại. Tại sao lại ghi lại những cuộc trò chuyện thủ tục, thứ mà chúng ta đã làm cả triệu lần và sẽ còn làm thêm cả triệu lần nữa? Không phải là nhớ những việc trọng đại: những bước đi đầu tiên, tốt nghiệp, công việc, giải thưởng, hôn nhân, về hưu, kỳ nghỉ quan trọng hơn sao? Thế nhưng người ta rất hiếm khi nhận ra họ sẽ yêu thích đến mức nào khi họ nhìn lại những ngày nhàm chán ấy: một ngày ngồi đọc sách bên cửa sổ, một chuyến dã ngoại trong công viên với bạn bè. Những việc này không hề nổi bật khi chúng diễn ra, nhưng khi nhớ lại chúng lại là một cảm giác thích thú đặc biệt. “Ai lại bảo một ngày ngồi đọc sách là một ngày đẹp?” Annie Dillard viết. “Nhưng một cuộc sống để đọc sách – đó là một cuộc sống đẹp.” Continue reading

[Time] Làm cách nào để đọc vị người khác như Sherlock Holmes: 4 chỉ dẫn từ các nghiên cứu

null

Chẳng phải sẽ rất tuyệt nếu chúng ta có thể nhìn vào ai đó và biết ngay tức thì họ là người như thế nào?

Sherlock Holmes thường xuyên làm việc đó và điều này cực kỳ cuốn hút (xem series Sherlock).

Đương nhiên, Sherlock Holmes là một nhân vật tưởng tượng và không ai có thể đọc vị người khác giỏi như thế. Tuy nhiên chúng ta có thể trở nên khá hơn trong việc này.

Nhưng bạn có thể học một kỹ năng như thế ở đâu? Và tôi muốn nói đến những phương pháp thực sự được củng cố bởi khoa học.

Vì vậy tôi đã gọi điện cho một anh chàng, người có câu trả lời: Sam Gosling.

Sam là một nhà tâm lý về tính cách con người tại đại học Texas, Austin và là tác giả cuốn Snoop: What Your Stuff Says about You. Sau đây là những gì bạn có thể học được từ Sam:

Những gì sẽ hiệu quả (và không hiệu quả) khi đọc vị người khác

Làm sao để có những ấn tượng đầu tiên tương đối chính xác (với con người thực của ai đó).

Những gì mà nhà cửa và chỗ làm việc của một người có thể cho bạn biết về họ.

Những gì mà Facebook của một người cho bạn biết về tính cách của họ.

Làm sao để biết được một người có đang giả tạo và nguỵ tạo một vỏ bọc sai lầm bên ngoài. Continue reading

[Scientific American] Bí mật để nuôi dạy những đứa trẻ thông minh

null

Đừng nói cho con bạn biết rằng chúng thông minh. Hơn ba thập kỷ nghiên cứu chỉ ra, một sự tập trung vào “quá trình” – không phải tập trung vào trí thông minh hoặc tài năng—là chìa khoá cho sự thành công trong học tập và cuộc sống.

Jonathan, một học sinh xuất sắc vượt qua những năm học phổ thông. Cậu hoàn thành bài tập một cách dễ dàng và thường đạt điểm A. Jonathan thắc mắc tại sao một số bạn cùng lớp của cậu lại cố gắng, và bố mẹ cậu nói rằng cậu là một thiên tài đặc biệt. Tuy nhiên, đến lớp bảy, Jonathan đột nhiên mất hứng thú học tập, từ chối làm bài tập về nhà hoặc học bài để kiểm tra. Hậu quả là, điểm số của cậu rơi thẳng xuống. Bố mẹ cậu cố gắng nâng cao sự tự tin của con trai họ bằng cách trấn an cậu rằng cậu rất thông minh. Nhưng nỗ lực của họ không thúc đẩy được Jonathan. Bài học ở trường là nhàm chán và vô nghĩa.

Xã hội chúng ta tôn thờ tài năng, và nhiều người giả định rằng sở hữu trí tuệ hoặc năng lực phi thường – cùng với sự tự tin vào năng lực đó – là một công thức cho sự thành công. Tuy nhiên, trong thực tế, hơn 35 năm nghiên cứu khoa học cho thấy sự quá nhấn mạnh vào trí tuệ hoặc tài năng khiến con người dễ bị tổn thương trước thất bại, sợ những thách thức và không sẵn sàng sửa chữa những khuyết điểm của họ. Continue reading

Alex Lickerman – Nhìn lại nguyên nhân thực sự của độc ác

null

Nguyên nhân thực sự đằng sau việc con người đối xử tàn ác với nhau.
Xuất bản ngày 23/06/2013 của tác giả Alex Lickerman, M.D. trong Hạnh phúc trong thế giới này (Happiness in this World)

Hồi học lớp bảy, có một lần, khi đang ở trong phòng thay đồ trước giờ thể dục, tôi bắt gặp một nhóm bạn cùng lớp đang bắt nạt một cậu bạn tên Pino chỉ vì cậu ta có ngực (hội chứng có tên gynecomastia – đôi khi xuất hiện ở các cậu bé vào tuổi dậy thì, thông thường sẽ tự biến mất). Tôi đã không dám đứng ra bảo vệ cậu ấy, bởi tôi sợ rằng chúng sẽ chĩa mũi dùi sang mình, nhưng tôi vẫn nhớ cái cảm giác tội lỗi với Pino và luôn tự hỏi tại sao con người ta có thể đối xử tàn ác với người khác dễ dàng đến thế.

Một điều thường thấy là trẻ con có thể hành xử tệ hại với đứa này đứa kia trong những giai đoạn phát triển nhất định của chúng, có thể nhẫn tâm bắt nạt những đứa bé khác nhưng bằng cách nào đó mà khi trưởng thành đứa trẻ đó vẫn có thể trở thành một người biết cư xử, biết bỏ lại sau lưng quá khứ xấu xa của bản thân khi còn ở thủa thiếu thời (đương nhiên, đáng tiếc là không phải đứa trẻ nào cũng làm được điều đó, nhiều đứa đã không thể cứ như vậy mà bỏ lại mọi thứ sau lưng được, thường là do xung động tuổi trẻ, tính độc ác hay do chúng bị người lớn bỏ bê, thiếu quan tâm). Phần lớn chúng ta đều cho rằng trẻ nhỏ mà có hành vi tàn ác là không thể chấp nhận được vì khi đã trưởng thành, chúng ta thường có xu hướng trấn áp, chấm dứt hành vi đó ngay khi ta nhận biết được về chúng. Và ngay cả khi ta đã biết được nguồn cơn của những hành vi độc ác ấy, chúng ta vẫn cứ cố áp đặt rằng bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể trở thành nạn nhân của hành vi đó, và hơn thế nữa, cho rằng về cơ bản thì giết người hay chiến tranh đều gây ra phản ứng tương tự nhau. Continue reading

Loretta Graziano Breuning – Dừng so sánh bản thân với những người khác, và thế giới của bạn được cải thiện ngay

null

Chúng ta gây đau đớn cho bản thân khi chúng ta so sánh mình với những người khác, vậy tại sao chúng ta vẫn tiếp tục làm việc đó? Vì các loài động vật so sánh bản thân chúng với những con vật khác, và chúng ta được thừa hưởng bộ não tạo ra sự thôi thúc (so sánh) này.

Các loài động vật luôn luôn nhìn nhau, kiểm tra nhau. Sự sinh tồn của chúng phụ thuộc vào điều đó, và những hoá chất não bộ của chúng phản ứng với những cảm giác sinh tử. Chúng ta cũng có những hoá chất não bộ tương tự, và chúng đem đến cho bạn cảm giác rằng cuộc sống của bạn đang bị đe doạ khi bạn nhìn thấy một ai đó có những cặp sừng to hơn. Khi cặp sừng của bạn sắc, bạn có được cảm giác an toàn. Chọn lọc tự nhiên tạo nên một bộ não ban thưởng cho bạn một cảm giác tốt khi bạn nhìn thấy một cách để tăng sự tồn tại của bạn, và cảnh báo bạn bằng một cảm giác tiêu cực khi bạn nhìn thấy bất kỳ mối đe doạ nào đến sự tồn tại của gen của bạn.

Bạn có lẽ từng nghe nói rằng các con vật hợp tác, và cuộc sống đó là ấm áp trong điều kiện tự nhiên. Bạn nên biết phần còn lại của câu chuyện vì serotonin của bạn phụ thuộc vào nó. Bộ não động vật có vú phóng thích serotonin khi nó nhìn thấy nó vượt trội hơn con vật khác. Cảm giác tốt đẹp thúc đẩy một con vật có vú làm những việc để kích thích serotonin. Serotonin không phải là một cảm giác xung hấn mà là một cảm giác êm dịu rằng những nhu cầu của bạn sẽ được đáp ứng. Tôi đang nói rằng bạn phải quản lý được những cảm giác chiếm ưu thế của bạn thay vì đổ lỗi cho thế giới vì chúng. Continue reading

[The Atlantic] Bậc thầy trong tình yêu hay khoa học của hạnh phúc đến trọn đời

Tác giả: Emily Esfahani Smith

null

Mỗi ngày trong tháng sáu, mùa cưới trong năm ở nước Mỹ, khoảng 13.000 cặp vợ chồng sẽ nói lời cam kết cho một cuộc hôn nhân đến trọn đời, một mối quan hệ đầy tình bạn, niềm vui và tình yêu sẽ theo họ đến tận ngày cuối cùng trên trái đất này.

Dĩ nhiên, ngoại trừ việc là nó không diễn ra như vậy với hầu hết mọi người. Đa số các cuộc hôn nhân thất bại, hoặc kết thúc bằng ly dị hay ly thân, hay biến thành mối quan hệ đầy cay đắng và khủng hoảng. Trong số những người kết hôn, chỉ có 3 trong số 10 người giữ được cuộc hôn nhân lành mạnh, hạnh phúc, như nhà tâm lý học Ty Tashiro chỉ ra trong cuốn Khoa học của Hạnh phúc đến Trọn đời (The Science of Happily Ever After) xuất bản vào đầu năm nay.

Các nhà khoa học xã hội bắt đầu nghiên cứu hôn nhân bằng cách quan sát chúng lần đầu tiên trong những năm 70 để tìm giải pháp cho một cuộc khủng hoảng: Các cặp vợ chồng ly dị với tỷ lệ chưa từng có. Lo ngại về ảnh hưởng của những vụ ly hôn này lên con cái trong gia đình, các nhà tâm lý học quyết định tung lưới lên các đôi vợ chồng, lôi họ vào phòng thí nghiệm để quan sát và xác định xem thành phần của mối quan hệ lành mạnh, lâu bền là gì. Có phải mỗi gia đình bất hạnh đều bất hạnh theo cách riêng của họ như Tolstoy từng tuyên bố, hay những cuộc hôn nhân đau khổ đều có chung một yếu tố độc hại nào đó?

Nhà tâm lý học John Gottman là một trong những nhà nghiên cứu đó. Trong bốn thập kỷ qua, ông đã nghiên cứu hàng ngàn cặp vợ chồng trong công cuộc tìm kiếm cái gì khiến các mối quan hệ thành công. Gần đây tôi có cơ hội phỏng vấn Gottman và vợ ông Julie, cũng là một nhà tâm lý học, ở thành phố New York. Hai chuyên gia nổi tiếng về hôn nhân này cùng nhau quản lý Học viện Gottman, nơi họ giúp các đôi vợ chồng xây dựng và duy trì mối quan hệ lành mạnh và yêu thương dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học.

John Gottman bắt đầu thu thập những phát hiện quan trọng nhất của ông vào năm 1986 khi ông thành lập “Phòng Thí nghiệm Tình yêu” với đồng nghiệp Robert Levenson tại trường Đại học Washington. Gottman và Levenson đưa các cặp mới cưới vào phòng thí nghiệm và quan sát họ tương tác với nhau. Cùng một đội ngũ các nhà nghiên cứu, họ nối những người tình nguyện vào các cực điện và đề nghị họ nói về mối quan hệ của mình, như là họ đã gặp nhau thế nào, một xung đột lớn mà họ đối mặt cùng nhau, một kỷ niệm tốt lành mà họ có. Trong khi họ nói, các cực điện đo lưu lượng máu, nhịp tim và lượng mồ hôi tiết ra. Rồi những nhà nghiên cứu cho các đôi đi về và hẹn gặp họ lại sáu năm sau để xem họ còn sống với nhau không. Continue reading