Tiểu thuyết gia Abe Kōbō – Donald Keene

Tôi gặp Abe Kōbō  vào mùa thu năm 1964. Ông đến New York để bàn về việc nhà xuất bản Knopf cho  ra mắt  bản dịch Anh ngữ  tiểu thuyết Người đàn bà trong cồn cát (Suna no onna). Tôi quên lí do vì sao ông lại quyết định đến thăm đại học Columbia nhưng tôi nhớ như in chuyến đến thăm của ông ở số 47 Kent Hall. Đi cùng ông có Teshigahara Hiroshi , đạo diễn bộ phim nổi tiếng chuyển thể từ tiểu thuyết này, bộ phim đã giành Giải  thưởng Lớn tại liên hoan phim Cannes cùng năm. Có một phụ nữ trẻ đi cùng họ. Tôi  thú nhận là có hơi bực mình khi được thông báo rằng người phụ nữ trẻ đó sẽ là phiên dịch viên của chúng tôi và để chứng minh mình không cần người phiên dịch, tôi cố tính lảng tránh thậm chí cả việc nhìn cô nàng. Chỉ những năm sau đó tôi mới biết rằng cô ta là Ono Yōko. Continue reading

Advertisements

Các xu hướng trong văn chương hậu chiến [Nhật Bản] từ 1945 đến những năm 1970 – Kensuke Kōno và Ann Sherif

Suốt các cuộc chiến tranh dài của đế quốc Nhật với Trung Quốc và phe Đồng minh trong những năm 1930 và 1940, người dân ở hậu phương tin vào phương tiện truyền thông in ấn và radio vốn đã bị kiểm soát bởi nhà nước. Vào ngày 15 tháng 8 năm 1945, radio truyền đi tin tức về việc tuyên bố đầu hàng của Nhật hoàng. Chỉ hai ngày sau , độc giả thấy trên tờ Asahi một bài thơ có tựa đề “Ichioku  gōkyū” (Những lời than khóc của một trăm triệu người ) do thi sĩ hàng đầu là Takamura Kōtarō  (1883–1956) soạn ra để nói về sự chuyển biến  sững sờ đó. Takamura, tự coi mình là nhà thơ tự do tiên phong và nhà điêu khắc được đào tạo ở Paris, viết một số  tập thơ sau trận Trân Châu Cảng ủng hộ sự bành trướng đế quốc của Nhật Bản đã sử dụng lối nói khoa trương tuyên truyền của thời kì đó.  “Những lời than khóc của một trăm triệu người” không chỉ biểu lộ cú sốc vì thất bại của quốc gia trong một cuộc chiến dài đau đớn mà còn diễn tả cảm giác hoài nghi khi nghe giọng nói của một con người  từ Thiên Hoàng, người được xem như thần.  Takamura  biểu thị lòng tôn kính cố hữu của thần  dân trong đế quốc, xấu hổ khi mà quốc gia đã đẩy nhà vua đến tình trạng cực hạn đó – một quan điểm sớm bị  làm cho phức tạp bởi các vấn đề về trách nhiệm đối với chiến cuộc.  Continue reading

Tiểu thuyết đương đại Nhật Bản – Stephen Snyder

Cuối những năm 1970s, sau thời kì kinh tế tương đối hỗn loạn bởi Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, nước Nhật quay lại với sự phát triển nhanh, hướng đến xuất khẩu. Điều này tiêu biểu cho phần  lớn kinh nghiệm thời hậu chiến của  Nhật Bản. Giai đoạn đầu của thời kì này được biết đến trong hồi tưởng như là Nền kinh tế bong bóng, được đánh dấu bởi thị trường chứng khoán và bất động sạn sôi động, vốn đầu tư lớn từ nước ngoài và sự tiêu dùng nội địa tăng mạnh. Sự sung túc vừa phải nhưng đang  gia tăng trong những năm 1960s, vì sự phục hồi thời hậu chiến vẫn được giữ vững,  được thay thế bằng cảm giác  về sức mạnh của nền kinh tế đang tăng trưởng, được phản chiếu trong lòng ngưỡng mộ của nước ngoài dành cho các sản phẩm và thực tiễn quản lí của  Nhật Bản cùng nỗi sợ đối với sức mạnh cuả nền kinh tế Nhật Bản. Sự đối khang chính trị cuối những năm 1960s là một kỉ niệm nhạt nhòa hoặc chỉ là đối tượng của lòng hoài cổ, những hạt giống  dẫn đến những điều đó rút cục  được  gán với “Nước Nhật Tươi Mát” đã được gieo trên mảnh đất nội địa và sẵn sàng để xuất khẩu. Kết thúc những năm 1970s, Nhật Bản trong lối nhìn của chính mình cũng như của thế giới vẫn đang trong quá trình tự tái sinh , văn chương thời kì này phản ánh cảm giác đổ vỡ, thứ định hình lại bối cảnh văn hóa. Continue reading

Ngũgĩ wa Thiong’o – Cuộc cách mạng đứng thẳng: Hoặc tại sao con người đi với dáng thẳng đứng

Ngũgĩ wa Thiong’o

Cuộc cách mạng đứng thẳng: Hoặc tại sao con người đi với dáng thẳng đứng

Duy Đoàn chuyển ngữ

Hồi xưa, con người thường đi bằng cả tay lẫn chân, giống y như mọi sinh vật tứ chi khác. Con người nhanh hơn thỏ, báo và cả tê giác. Chân và tay ở gần nhau hơn bất kì cơ quan nào khác: chúng có những khớp nối tương ứng giống nhau: vai và hông; khuỷu tay và đầu gối; mắt cá chân và cổ tay; bàn chân và bàn tay, mỗi cái đều có phần cuối là 5 ngón chân và 5 ngón tay, với móng ở mỗi đầu ngón chân và ngón tay. Bàn tay và bàn chân có 5 ngón được sắp xếp giống nhau từ ngón chân cái và ngón tay cái cho đến ngón chân và ngón tay nhỏ nhất. Thuở đó, ngón tay cái nằm gần các ngón khác, ngón chân cái cũng vậy. Chân và tay gọi nhau là anh em con chú bác.

Chúng giúp lẫn nhau trong việc mang vác cơ thể tới bất cứ đâu cơ thể muốn đến; chợ, cửa hàng, leo lên leo xuống mấy cái cây và mấy ngọn núi, bất cứ đâu cần đến việc di chuyển. Thậm chí ở dưới nước, chúng cũng hợp tác tốt để giúp cơ thể nổi lên, bơi hoặc lặn xuống. Chúng theo có mối quan hệ dân chủ và bình đẳng. Chúng cũng có thể mượn cái dụng từ sản phẩm của những cơ quan khác, phát âm thanh từ miệng, nghe từ tai, ngửi từ mũi, và cả nhìn từ mắt.

Nhịp điệu và việc phối hợp liền lạc của chúng làm các bộ phận khác vô cùng ganh tị. Chúng tức giận vì phải cho mượn thiên tư đặc biệt của mình cho hai cặp anh em đó. Sự ganh tị làm chúng mù quáng trước thực tế rằng chân và tay mang chúng đi mọi nơi. Chúng bắt đầu lập mưu chống lại hai cặp đó. Continue reading

Святлана Алексіевіч (Svyatlana Alyeksiyevich): Người biên niên cho vùng đất không tưởng

 “Tôi đang tìm kiếm một thể loại cho phép mình có thể đánh giá được gần đúng nhất cái cách tôi thấy và nghe cõi sống này. Cuối cùng tôi chọn thể loại về những tiếng nói và những lời tự thuật thực sự của con người. Ngày nay khi con người và thế giới trở nên đa diện và đa dạng, khi chúng ta cuối cùng nhận ra con người quả thực bí ẩn và khôn dò như thế nào, thì một câu chuyện về một cuộc đời, hay nói đúng ra là cái chứng cứ tài liệu về câu chuyện này, sẽ mang chúng ta đến gần thực tại nhất.”

– Alyeksiyevich

Ảnh: Vasily Fedosenko/Reuters

Ảnh: Vasily Fedosenko/Reuters

Svyatlana Alyeksiyevich sinh ngày 31/5/1948 tại thị trấn Ivano-Frankovsk ở Ukraina trong một gia đình quân nhân. Cha của bà là người Belarus và mẹ của bà người Ukraina. Sau khi người cha giải ngũ và cả gia đình trở về quê hương Belarus, định cư tại một ngôi làng nơi đó cha mẹ của bà làm nghề dạy học. (Ông của người cha cũng là một thầy giáo làng.) Sau khi học xong, Alyeksiyevich làm phóng viên cho tờ báo địa phương ở thị trấn Narovl, vùng Gomel. Continue reading

Alice Munro – Những mặt trăng của sao Mộc

Tôi tìm thấy cha tại khoa tim mạch, trên tầng tám Bệnh viện Đa khoa Toronto. Ông nằm trong một phòng đôi. Giường kia để trống. Ông nói bảo hiểm y tế của ông chỉ chi trả cho một giường trong phòng thường thôi, và ông lo sẽ bị tính thêm chi phí.

“Ba không hề yêu cầu phòng đôi,” ông nói.

Tôi nói rằng các phòng thường có lẽ hết chỗ rồi.

“Không. Ba thấy có vài giường trống lúc họ đẩy xe lăn của ba đi ngang qua mà.”

“Vậy là do ba phải mắc vào cái kia,” tôi nói. “Ba đừng lo. Nếu tính thêm chi phí, họ sẽ thông báo cho ba biết mà.”

“Chắc vậy,” ông nói. “Họ không muốn lắp đặt mớ thiết bị đó trong phòng thường. Ba nghĩ chúng dành cho ba.”

Tôi nói chắc chắn là vậy rồi.

Continue reading

Jorge Luis Borges – Akutagawa Ryūnosuke, Hà Đồng

Thales đã đo bóng của một kim tự tháp để xác định chiều cao của nó; Pythagoras và Plato đã giảng về sự đầu thai của những linh hồn; bảy mươi người sao chép bản thảo, tách li trên hòn đảo của Pharos, trong bảy mươi ngày đã cho ra đời bảy mươi bản dịch Pentateuch tương đồng; Virgil, trong sách thứ hai của Georgics, đã suy ngẫm về những thứ tơ lụa tinh nhã được dệt bởi những người Trung-hoa; và ngày xưa, những người cưỡi ngựa ở ngoại thành Buenos Aires hẳn đã cùng tranh tài trong một trận polo, trò chơi của người Ba-tư. Dù giả hay thật, những truyện này (mà người ta nên thêm vào, giữa nhiều truyện khác, sự có mặt của Attila trong những khổ thơ của Elder Edda) đánh dấu những giai đoạn liên tục trong một tiến trình phức tạp và muôn thuở vẫn đang tiếp diễn: sự khám phá phương Đông của những xứ sở phương Tây. Tiến trình này, có thể nói, có chiều ngược lại của nó: phương Tây bị khám phá bởi phương Đông. Chiều khác này thuộc về những người truyền đạo trong những chiếc áo choàng màu vàng nghệ mà một vị hoàng đế theo đạo Phật đã phái tới Alexandria, cuộc chinh phục Tây-ban-nha Kitô-giáo của Islam-giáo, và những cuốn sách mê hoặc và đôi khi rất đáng sợ của Akutagawa.

Continue reading

Jerome Delamater – Về Hara Setsuko

Hara Setsuko

Jerome Delamater

Về Hara Setsuko

Duy Đoàn chuyển ngữ

Mặc dù sự nghiệp của cô rất dồi dào và vai của cô đa dạng, nhưng Hara Setsuko được phương Tây biết đến chính yếu ở vai trò một nhân vật khiêm nhường trong sáu phim của Ozu Yasujirô. Phạm vi của cô rộng hơn nhiều so với hàm ý trong những bộ phim được làm với Ozu; những thay đổi của cô ở hành vi và bề ngoài chỉ trong phim No Regrets for Our Youth của Kurosawa, ví dụ vậy, là điều gây sửng sốt. Tuy thế, Ozu đã nắm bắt được cái tinh tuý trong vai diễn của cô; nữ tính mà mạnh mẽ, thường theo truyền thống ở cách ăn vận nhưng lại chịu sự thu hút từ những cung cách hiện đại; là một phần của một đơn vị gia đình nhưng lại độc lập về tinh thần. Đối với Ozu, Hara đã biểu hiện một cách hiệu quả cái vị thế phức tạp của Nhật-bản hiện đại nằm giữa di sản văn hóa với vai trò trung tâm của mình trong nền kinh tế toàn cầu hậu thế chiến II.

Trong Currents in Japanese Cinema (Những dòng chảy trong nền điện ảnh Nhật), Sato Tadao viết rằng, “Hara Setsuko có được hình ảnh của một người đàn bà hiện đại và thông minh, những phẩm chất làm cho khán giả Nhật yêu mến cô ta.” (So sánh với những ngôi sao Mĩ như Katharine Hepburn và Joan Crawford là những so sánh thường gặp.) Có lẽ vai tiêu biểu nhất của cô ngoại trừ trong những phim cộng tác với Ozu là vai một quả phụ bị ngược đãi trong No Regrets for Our Youth, mà trong đó, thông qua sự kiên trì của mình, cô chứng tỏ bản thân là người kiên định và bất khuất. Trong nhiều phim cô thủ vai những nhân vật có sự nghiệp hoặc những người có thể giữ lại được căn cước của chính mình – và thường là để khẳng định bản thân – bên trong xã hội do nam giới thống trị. Continue reading

Nobel Văn chương 2014: Patrick Modiano (1945- )

AP—AP/Gallimard

AP—AP/Gallimard

Patrick Modiano sinh ngày 30 tháng 7 năm 1945 tại Boulogne-Billancourt, ngoại ô Paris. Cha ông là doanh nhân, mẹ ông là nữ diễn viên. Tuổi thơ của ông nát tan do nhiều cuộc đổi dời gây xáo động, do sự vắng mặt của người cha và do cái chết bi thảm của người em Rudy, người bị bệnh bạch cầu ở tuổi lên 10. Ông hồi tưởng lại quãng thời gian đau khổ mà đầy hoài niệm đó trong hồi kí Un pedigree hồi năm 2005: “Tôi không thể viết tự truyện được, đó là lí do tôi gọi nó là một ‘pedigree’ (phả hệ): Nó là cuốn sách không nói về những gì tôi làm cho bằng nói về những gì người khác làm, chủ yếu là những gì cha mẹ tôi đã làm cho tôi.”

Ông từng theo học phổ thông tại trường Lycée Henri-IV tại Paris. Ở đây ông được Raymond Queneau kèm học toán, và tài năng của ông được nhà văn nổi tiếng này phát hiện ra. Thế là chàng thanh niên Patrick bắt đầu viết. Năm 1968, Modiano trình làng với tư cách nhà văn bằng tác phẩm La place de l’étoile, một tiểu thuyết thu hút rất nhiều sự chú ý. Vài năm sau, ông đoạt giải Grand Prix du Roman của Académie Française cho cuốn tiểu thuyết Les boulevards de ceinture.

“Thực sự thì tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện làm thứ gì khác”, ông nói về văn nghiệp của mình. “Tôi không có bằng cấp, không mục tiêu chắc chắn nào để đạt tới. Nhưng thật gian nan đối với một cây bút trẻ khi bắt đầu viết quá sớm. Thực sự thì tôi không thích đọc mấy cuốn sách hồi ban đầu của mình. Không phải vì tôi không thích chúng, mà tôi không nhận ra bản thân mình nữa, giống như một diễn viên già xem chính mình hồi còn là một nam chính trẻ trung vậy.”

Tiểu thuyết của Modiano xoáy vào nan đề của căn cước: Làm thế nào tôi lần ra được chứng cứ về sự tồn tại của mình qua các dấu vết của quá khứ? Bị ám ảnh với khoảng thời gian Chiếm đóng gây muộn phiền và tủi nhục – mà lúc đó cha ông đã dính vào những vụ giao dịch mờ ám – Modiano cứ trở đi trở lại đề tài này trong tất cả tác phẩm của mình, hết cuốn này đến cuốn kia để rồi tạo thành một tác phẩm thuần nhất đáng kinh ngạc. “Sau mỗi tiểu thuyết, tôi có ấn tượng là mình đã xoá đi hết toàn bộ”, ông nói giữa hai khoảng lặng. “Nhưng tôi biết mình sẽ trở lại nhiều lần những chi tiết bé tí ấy, những điều nho nhỏ ấy vốn là một phần của con người tôi. Sau rốt, tất cả chúng ta đều được định đoạt bởi nơi chốn đó và thời gian đó khi ta sinh ra.” Đối với ông, nơi chốn đó chính là Paris, một thành phố mà ông viết về thường xuyên, mô tả sự tiến triển nơi những con phố, những thói quen và những con người chốn ấy. Thực tế thì Modiano rất thân thuộc với Paris giống như Woody Allen thân thuộc với New York vậy: nó là kí ức và là lương tâm của ông. Continue reading

Margaret Atwood – Những đoạn kết có hậu

 

Margaret Atwood

Những đoạn kết có hậu

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

John và Mary gặp nhau.

Chuyện gì xảy đến tiếp theo?

Nếu bạn muốn một cái kết có hậu, hãy thử trường hợp A.

A. John và Mary yêu nhau và cưới nhau. Cả hai đều có việc làm xứng đáng và lương cao, và họ đều thấy công việc mình làm thật hào hứng và kích thích. Họ mua một căn nhà duyên dáng. Giá bất động sản tăng lên. Sau rốt, khi họ có thể thuê một người làm ở tại nhà mình, thì họ có được hai đứa con, và dành hết thời giờ cho chúng. Bọn trẻ lớn lên khoẻ mạnh. John và Mary có đời sống tình dục hào hứng và kích thích và có những người bạn xứng đáng. Họ đi nghỉ mát vui vẻ bên nhau. Họ nghỉ hưu. Cả hai đều có những thú vui mà họ thấy thật hào hứng và kích thích. Sau rốt họ chết. Đến đây câu chuyện kết thúc.

B. Mary phải lòng yêu John nhưng John thì không yêu Mary. Anh ta chỉ dùng thân xác cô nàng cho những lạc thú riêng mình và để làm vừa lòng đại khái cho cái tôi của mình. Anh đến căn hộ của cô hai lần mỗi tuần và cô nàng nấu bữa tối cho anh ta, bạn sẽ để ý thấy là anh ta thậm chí không nghĩ cô nàng đáng giá để dẫn ra ngoài ăn nữa, và sau khi ăn xong bữa tối anh ta giao cấu với cô nàng và sau đó đi ngủ, còn cô nàng thì rửa chén đĩa để anh ta không nghĩ là cô nàng bề bộn khi để chén đĩa dơ bẩn nằm khắp nơi, và thoa thêm lớp son môi để trông thật tươi tắn khi anh ta thức dậy, nhưng khi thức dậy thì anh ta thậm chí còn không để ý tới, anh ta mang vớ, mặc quần cụt, quần dài, áo, cà-vạt, và mang giày vào, một trình tự đảo ngược so với trình tự anh cởi chúng ra. Anh không cởi đồ Mary ra, cô nàng tự mình cởi ra, cô nàng làm như thể lần nào cô nàng muốn nó đến chết vậy, không hẳn là vì cô nàng thích chuyện tình dục, cô nàng không thích, nhưng cô nàng muốn John nghĩ là cô nàng có thích bởi vì nếu họ làm chuyện đó đều đặn thì chắc chắn anh ta sẽ quen mùi cô nàng, anh ta sẽ trở nên phụ thuộc vào cô nàng và họ sẽ cưới nhau, nhưng John đi ra cửa mà thậm chí không một lời chúc ngủ ngon và ba ngày sau anh trở lại vào sáu giờ và họ làm lại toàn bộ chuyện đó.

Mary thấy kiệt sức. Khóc sẽ làm gương mặt bạn tệ đi, ai cũng biết chuyện đó và Mary cũng thế nhưng cô nàng không ngừng lại được. Những người ở chỗ làm để ý tới. Bạn cô nàng bảo rằng John là một con chuột, một con lợn, một con chó, anh ta không xứng với cô nàng, nhưng cô nàng không tin điều đó. Bên trong John, cô nàng nghĩ, là một John khác, tốt hơn. John khác này sẽ xuất hiện như con bướm chui ra từ kén vậy, như thằng hề nhảy ra khỏi cái hộp, như cái hột từ quả mận khô vậy, nếu John đầu tiên ấy bị ép lại vừa đủ. Continue reading