Mối nguy hiểm của sự thờ ơ

Một trong những chủ đề của blog này qua nhiều năm là sự lây lan mục tiêu, quan điểm cho rằng chúng ta thường làm theo những mục tiêu của những người xung quanh chúng ta. Nhìn thấy một ai đó đang giúp đỡ người khác và bạn bạn đột nhiên muốn sống có ích. Nhìn thấy một ai đó đang gây hấn, và nó khiến bạn có nhiều khả năng đánh nhau với người khác.

Còn sự thờ ơ, vô cảm thì sao?

Nếu bạn nhìn thấy người khác thờ ơ với một công việc, liệu nó có tính lây lan?

Câu hỏi đó đã được khám phá trong một bài báo tháng 8/2014 (issue of the Journal of Personality and Social Psychology) bởi Pontus Leander, James Shah, và Stacey Sanders.

Họ cho rằng khi con người đang lưỡng lự trong sự cam kết với một mục tiêu của họ, thì sau đó việc tiếp xúc với sự thờ ơ vô cảm sẽ làm suy giảm động cơ theo đuổi một mục tiêu ở con người. Continue reading

Advertisements

Joe Navarro – Tại sao những tên quỷ đội lốt người thích trở thành thầy tu

Góc nhìn sâu sắc hơn đối với một hiện tượng nghiêm trọng.
xuất bản ngày 20 tháng 4 năm 2014 bơi Joe Navarro, M.A Trên Spycatcher Tweet

Dòng tít bắt mắt: “Nghề nghiệp nào có nhiều kẻ điên rồ nhất?” (đăng trên The Week, 30 tháng 10 năm 2013) đã gây ra một cuộc tranh luận tương đối gay gắt trên mạng, là bởi mỗi người đều có một đáp án của riêng mình hoặc một câu chuyện đáng ghê sợ. Dù vậy, đáng tiếc là chưa có nghề nghiệp nào xứng đáng đứng đầu danh sách. Và câu hỏi đặt ra ở đây là: tại sao một ngành nghề bất kì lại có nhiều kẻ có nhân cách bệnh hoạn (psychopath) hơn so với những ngành nghề còn lại?

Theo bài báo, vị trí CEOs thường hấp dẫn nhiều kẻ có nhân cách bệnh hoạn nhất (psychopath). Có thể là như vậy, nếu chúng ta xem xét đến Enron, Bernard Madoff, hay các bộ phim như “Con sói Phố Wall” (2013). Nhưng có một ngành nghề từng khiến tôi chú ý, bị bỏ qua suốt 30 năm qua, đó chính là các thầy tu, linh mục (xếp hạng thứ 8 sau các vị trí thuộc các lực lượng hành pháp, dựa theo bài báo). Tôi nói từ 30 năm trước là bởi người ta có thể cho rằng những kẻ biến thái điên rồ khó mà trở thành các linh mục, nhưng đó là sự thật khi các linh mục bị phát giác có liên quan đến vụ việc “các Linh mục thiên chúa giáo lạm dụng trẻ em”, Điều này đặt ra câu hỏi: tại sao những kẻ bị cho là có nhân cách bệnh hoạn (psychopath) lại hứng thú với việc trở thành linh mục? Thực tế cho thấy, có rất nhiều lợi ích khi trở thành linh mục, và những kẻ tâm lý biến thái thì nắm rất vững những lợi ích này – đầu tiên là việc được cảnh báo trước. Continue reading

Umberto Eco – Sức tưởng tượng ảo

 

Umberto Eco

Sức tưởng tượng ảo

Duy Đoàn chuyển ngữ

Bằng sức mạnh của máy tính và internet, liệu sách có bị biến đổi thành “cấu trúc siêu văn bản” vô hạn mà tại đó độc giả cũng là tác giả?

Ngày nay, tồn tại hai dạng sách: những cuốn để đọc và những cuốn để tham khảo. Với sách-để-đọc, bạn bắt đầu ở trang 1, chẳng hạn tại đó tác giả bảo bạn biết về một hành vi phạm tội. Bạn theo dõi đến cuối sách, khi đó bạn phát hiện ra ai có tội. Kết thúc cuốn sách; kết thúc trải nghiệm đọc. Chuyện tương tự xảy ra cho dù bạn đọc triết, Husserl chẳng hạn. Tác giả mở màn ở trang đầu, và dõi theo một chuỗi các tra vấn nhằm cho bạn thấy được cách ông ta đi đến kết luận.

Dĩ nhiên bách khoa thư không bao giờ được làm để đọc từ bìa này đến bìa nọ. Nếu tôi muốn biết liệu Napoleon có thể gặp Kant hay không, tôi lấy quyển K và N và phát hiện rằng Napoleon sinh năm 1769 và chết năm 1821, và Kant sinh năm 1724 và chết năm 1804. Có thể hai người này đã gặp nhau. Để biết chính xác, tôi tham khảo tiểu sử của Kant. Tiểu sử của Napoleon, người đã gặp nhiều người, có thể bỏ qua cuộc gặp gỡ với Kant; tiểu sử của Kant hẳn sẽ không bỏ qua thế.

Máy tính đang bắt đầu thay đổi tiến trình đọc. Với một siêu văn bản, ví dụ vậy, tôi có thể yêu cầu tất cả mọi trường hợp trong đó tên của Napoleon có liên kết với Kant. Tôi có thể làm việc đó trong vài giây. Siêu văn bản sẽ khiến bách khoa thư giấy bị lỗi thời. Nhưng mặc dù máy tính đang lan ra một hình thức đọc viết mới, nhưng chúng không thể thoả mãn tất cả các nhu cầu trí tuệ mà chúng kích thích. Continue reading

Theresa DiDonato – Làm sao bạn biết bạn đang yêu

(7 biểu hiện mà nghiên cứu cho thấy bạn đã tìm được tình yêu đích thực.)

Làm sao bạn biết bạn đang yêu ?

Câu trả lời có thể làm cuộc đời bạn thay đổi rất lớn, từ cách bạn tiếp xúc với người bạn đời hiện tại (hoặc tương lai) đến cách bạn nhìn nhận bản thân với những mục tiêu bạn có trong tương lai. Bạn nghĩ rằng có thể bạn đang yêu? Hãy có cái nhìn sâu hơn về vấn đề này bằng việc xem xét những biểu hiện mà nghiên cứu đã đưa ra về tình yêu và sự gắn kết.

1. Bạn nghiện người ấy.

Tình yêu thay đổi trí óc. Ở bước đầu của mối quan hệ, sự phấn chấn mà mọi người thường cảm thấy là do hoạt động thần kinh được tăng cường ở những vùng nhiều dopamine trong não – vùng được kết nối với hệ thống củng cố – và vùng não liên quan với sự mưu cầu phần thưởng. Còn có một số dấu vết cùa hoạt động trong não trước, vùng não liên kết với những suy nghĩ ám ảnh, một cảm giác kinh điển khi con người đang yêu (Aron, Fisher, Mashek, Strong, và Brown, 2005). Khi mối quan hệ được tiến triển lên sự gắn kết lâu dài, nghĩ về người ấy sẽ kích hoạt các trung khu tưởng thưởng cùng với những vùng não liên quan đến sự gắn kết, nhưng những ý nghĩ ám ảnh sẽ giảm bớt (Acevedo, Aron, Fisher, & Brown, 2011). Continue reading

8 nghiên cứu chứng minh sức mạnh của sự đơn giản

Nghiên cứu tâm lý học trên sự lưu loát về nhận thức cho thấy tại sao dễ hiểu = sinh lời nhiều hơn, dễ chịu hơn, thông minh hơn và an toàn hơn.

Bạn nghĩ chất phụ gia nào sau đây nguy hiểm hơn : Hnegripitrom hay Magnalroxate ?

Đa số mọi người sẽ nói Hnegripitrom nghe có vẻ nguy hiểm hơn. Nhưng thực chất chữ “Magnalroxate” dễ nghĩ hơn là “Hnegripitrom”, có lẽ vì nó dễ đọc hơn, và mọi người đánh đồng sự đơn giản với sự an toàn (sự thật là cả hai chữ đều được bịa ra).

Đây là một ví dụ của nghiên cứu tâm lý học về sự biến đổi nhận thức : ý nghĩ về những ý nghĩ khác. Một thứ có dễ nghĩ hay không – sự lưu loát về nhận thức – là một kiểu quan trọng của biến đổi nhận thức, với tất cả các kiểu lợi ích đến từ những điều dễ xử lý.

Dưới đây là 8 nghiên cứu ưa thích của tôi cho sự lưu loát về nhận thức, cho thấy cảm giác một điều gì đó dễ suy nghĩ có thể giải thích nhiều đến thế nào (hoặc ngược lại).

1. Bài viết phức tạp làm bạn có vẻ ngu ngốc

Nhiều người trong chúng ta đã từng làm như vậy ở trường : cố gắng gây ấn tượng với giáo viên với ngôn ngữ bóng bẩy và những câu văn phức tạp, cho rằng chúng sẽ làm cho ta có vẻ thông minh. Nhưng chúng tôi đã sớm phát hiện ra, đa số mọi người không thành công với ý nghĩ đó.

Điều này đã được kiểm chứng bởi một nghiên cứu thay đổi sự phức tạp trong bài viết để xem người đọc sẽ đánh giá trí thông minh của tác giả như thế nào. Kết quả là bài viết càng phức tạp, người đọc lại càng đánh giá trí thông minh của người viết thấp hơn (Oppenheimer, 2005).

Vậy nên nếu bạn muốn được xem là thông minh (ai mà lại không muốn chứ ?), hãy giữ bài viết của bạn đơn giản. Điều này hoàn toàn phù hợp với những lời khuyên tiêu chuẩn cho những ai muốn trở thành nhà văn. Đáng buồn là sự đơn giản có khi còn khó đạt được hơn là sự phức tạp.

(Chú thích : hoàn cảnh của nghiên cứu này là các học sinh nhận xét bài luận của học sinh khác. Nghiên cứu này có thể không mở rộng đến những kiểu bài viết hay người đọc khác.) Continue reading

Yêu thương con người, không yêu lạc thú

Abd al-Rahman đệ tam là một vị vua và một thủ lĩnh Hồi giáo của xứ Córdoba ở Tây Ban Nha thế kỷ thứ 10. Ông là người cai trị tối cao và sống trong sự xa hoa tuyệt đối. Đây là cách mà ông nhận định về cuộc sống của mình:

“Cho tới bây giờ, ta đã trị vì hơn 50 năm trong phồn thịnh và hoà bình; thần dân yêu thương ta, kẻ địch khiếp sợ ta, và các đồng minh kính nể ta. Giàu sang và địa vị, quyền lực và lạc thú đợi lệnh ta, và ta có tất cả mọi lời chúc tụng trên mặt đất này.”

Vinh hoa, phú quý, và lạc thú trên cả tưởng tượng. Nghe có vẻ quá hoàn hảo? Ông đã viết tiếp:

“Ta đã cẩn trọng và kiên trì đếm số ngày mà ta cảm nhận được niềm vui thuần khiết thật sự trong đời mình: chỉ vỏn vẹn có 14 ngày.”

Vấn đề của Abd al-Rahman, như ông đã nghĩ, không phải là sự hạnh phúc, mà là sự bất hạnh. Nếu điều đó nghe có vẻ như một sự phân biệt không hề có chút khác biệt nào, có lẽ bạn cũng có vấn đề tương tự như vị vua vĩ đại kia. Nhưng với một chút hiểu biết, bạn có thể tránh được sự khổ sở mà ông ấy đã chịu.

Thế nào là sự bất hạnh? Trực giác của bạn có thể mách bảo rằng “bất hạnh” đơn giản là đối lập của hạnh phúc, như bóng tối là sự thiếu vắng ánh sáng. Điều đó là không đúng. Hạnh phúc và sự bất hạnh chắc chắn là có liên hệ với nhau, nhưng chúng không thật sự là hai mặt đối lập. Ảnh chụp bộ não cho thấy nhiều khu vực của vỏ não bên trái hoạt động mạnh hơn so với với bên phải khi chúng ta cảm thấy hạnh phúc, trong khi vỏ não phải trở nên hoạt động mạnh hơn khi chúng ta không hạnh phúc. Continue reading

Graham Allison – Làm thế nào một cuộc thế chiến nữa có thể xảy ra?

 

Graham Allison

Làm thế nào một cuộc thế chiến nữa có thể xảy ra?

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Đánh giá những tương đồng và những khác biệt giữa năm 1914 và 2014.

Tháng [Bảy] này vào một thế kỉ trước, châu Âu đứng trước nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tàn khốc khiến cho các sử gia phải tạo ra một hạng mục mới: “Thế chiến”. Không nhà lãnh đạo nào ở thời điểm đó có thể hình dung vùng đất hoang tàn mà họ sẽ sống tại đó bốn năm sau. Tới năm 1918, mỗi nhà lãnh đạo đều đã mất đi thứ họ yêu dấu nhất: kaiser (hoàng đế Đức) bị truất bỏ, Đế chế Áo-Hung bị giải thể, tsar (Nga hoàng) bị giới Bolshevik lật đổ, nước Pháp chịu khổ cả một thế hệ, và nước Anh bị tước đi thời thanh xuân và của cải của mình. Một thiên niên kỉ làm chủ địa cầu của các nhà lãnh đạo Âu châu đã khựng lại lúc đó.

Điều gì gây nên tai ương này? Tổng thống John F. Kennedy thích châm chọc các vị đồng sự của mình bằng câu hỏi ấy. Khi đó ông ta sẽ nhắc cho họ nhớ câu trả lời ưa thích của mình, trích lại lời Thủ tướng Đức Theobald von Bethmann Hollweg:  “À, giá như chúng ta biết được.” Lúc xảy ra Cuộc khủng hoảng Tên lửa Cuba năm 1962, Kennedy tự thấy mình “mặt đối mặt” với nhà lãnh đạo Soviet Nikita Khrushchev, và đưa ra những quyết định mà ông biết có thể làm cả trăm triệu người chết ngay, khi đó ông chiêm nghiệm về những bài học năm 1914. Ở vài thời điểm quyết định, ông điều chỉnh những điều ông có khuynh hướng sẽ thực hiện để nỗ lực tránh lặp lại những sai lầm đó của các nhà lãnh đạo.

Khi họ chọn cách đáp ứng những cam kết, hay không, điều động quân đội trong sớm muộn, những kẻ tham gia vào Thế chiến thứ nhất đồng loạt tìm cách định hình khung nhận thức của công chúng về cuộc khủng hoảng này. Mỗi bên tìm cách trách cứ kẻ thù của mình. Sau cuộc thảm hoạ đó, những kẻ chiến thắng tự cho mình cái quyền đáng kể với các dữ kiện nhằm biện minh cho việc trừng phạt kẻ chiến bại. Hiệp ước Versailles áp đặt những hình phạt hà khắc đến mức tạo điều kiện nổ ra Thế chiến thứ nhì chỉ hai thập niên sau đó. Cũng dễ hiểu khi màn kịch lớn này đã định hình những giải thích của sử gia về các nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến. Nhưng như kết luận thẳng thừng từ cuốn sách xuất sắc nhất trong những cuốn sách mới về cuộc xung đột này, cuốn The Sleepwalkers, thì ta có thể tập hợp những bằng chứng có được nhằm ủng hộ cho một loạt những khẳng định gây thách thức. “Việc bùng nổ cuộc chiến năm 1914 không phải là một kịch bản kiểu Agatha Christie mà kết cuộc ta sẽ khám phá ra kẻ phạm tội đứng trên một xác chết nào đó trong phòng bảo quản với khẩu súng lục bốc khói,” Clark viết như thế. “Trong câu chuyện này không có khẩu súng bốc khói nào cả; hoặc, thay vào đó, là có một khẩu nằm trong tay của mọi nhân vật chính.” Continue reading

Joshua Rothman – Ý tưởng về tính riêng tư của Virginia Woolf

Virginia Woolf's idea of privacy

Ảnh: E. O. Hoppe/Mansell/Time Life Pictures/Getty

Joshua Rothman

Ý tưởng về tính riêng tư của Virginia Woolf

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Những ngày này, khi ta dùng từ “tính riêng tư”, thì nó thường mang nghĩa chính trị. Chúng ta quan tâm đến người khác và cách họ có thể ảnh hưởng đến mình. Ta nghĩ về cách họ có thể dùng thông tin về chúng ta cho mục đích của riêng họ, hoặc can thiệp vào những quyết định mà đúng ra là của ta. Ta để tâm đến những dòng ngăn cách đời sống công cộng với đời sống riêng tư. Chúng ta có cái mà bạn có thể gọi là cảm thức về tính riêng tư của một công dân.

Đó là một cách nghĩ quan trọng về tính riêng tư, hiển nhiên rồi. Nhưng còn có những cách khác. Một trong số đó đã được bày tỏ vô cùng ấn tượng ở tác phẩm “Mrs. Dalloway”, trong một cảnh nổi tiếng ở đầu sách. Đó là một cảnh hồi tưởng, từ lúc mà Clarissa [Dalloway] còn là một thiếu nữ. Đêm nọ, cô nàng ra ngoài đi dạo với một số người bạn: hai cậu trai phiền hà, Peter Walsh và Joseph Breitkopf, và một cô gái, Sally Seton. Sally hấp dẫn, thông minh, có kiểu Bohemia – sở hữu “một dạng phóng túng, như thể cô nàng có thể nói bất kì điều gì, làm bất kì điều gì.” Hai cậu trai đi ở phía trước, lạc mình trong cuộc chuyện trò tẻ nhạt về Wagner, trong khi hai cô gái bị bỏ lại đằng sau. “Đoạn, xuất hiện cái thời khắc tuyệt diệu nhất trong cả đời nàng khi đi ngang qua một cái bình bằng đá với những bông hoa ở trong.” Sally cầm lên một đoá hoa từ cái bình và hôn lên môi Clarissa:

“Cả cõi sống này như thể lộn ngược xuống vậy! Những người kia biến mất, nơi đây nàng một mình cùng với Sally. Và nàng cảm thấy rằng mình đã được trao một món quà, được gói ghém lại, và được bảo là hãy giữ nó, chứ đừng nhìn vào nó – một viên kim cương, một thứ chi đó quý giá vô ngần, được gói ghém lại, cái mà, khi họ đi bộ (đi lên đi xuống, đi lên đi xuống), nàng khám phá ra, hoặc cái mà ánh hào quang toả khắp, sự mạc khải, cảm giác tín ngưỡng đó!”

Woolf thường hình dung cuộc sống theo cách này: như một món quà mà bạn được trao cho, cái mà bạn phải giữ cho mình và trân trọng nó nhưng không bao giờ mở ra. Việc mở nó ra sẽ xua đi cái không khí đó, sẽ làm tiêu tan ánh hào quang kia – và ánh hào quang của cuộc đời là thứ khiến đời này đáng sống. Thật khó để nói việc giữ lấy cuộc sống mà không nhìn vào nó có thể mang ý nghĩa chi; đó là một trong những câu đố của những tác phẩm của bà. Nhưng nó có liên quan chi đó tới bí ẩn của việc gìn giữ cuộc sống; tới việc để lại những thứ không được mô tả, không được chỉ rõ, và không được biết đến; tới những cảm xúc tận hưởng nhất định, chẳng hạn như tính tò mò, ngạc nhiên, ham muốn, và tính đề phòng. Nó phụ thuộc vào cảm thức càng lúc càng lớn về sự quý giá và mỏng manh của cuộc sống, và phụ thuộc vào quan niệm kiểu Heisenberg rằng, khi phải dùng tới những trực giác trừu tượng nhất và thuộc về tinh thần nhiều nhất của chúng ta, thì việc nhìn quá sát sao sẽ làm thay đổi những điều ta cảm nhận. Nói cách khác, nó liên quan đến một dạng riêng tư nội tại, mà nhờ đó bạn che chở bản thân mình không chỉ tránh khỏi những cặp mắt xoi mói của người khác, mà còn tránh khỏi chính mình nữa. Hãy gọi nó là cảm thức riêng tư của một nghệ sĩ. Continue reading

[Scientific American] Thế giới không có ý chí tự do

Tác giả: Azim F. Shariff & Kathleen D. Vohs

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Vào tháng 7 năm 2008, Brian Thomas, một công nhân ngành thép đã nghỉ hưu, cùng cô vợ Christine lái chiếc xe dã ngoại đến một ngôi làng nhỏ ven biển ở xứ Wales. Cảm thấy phiền nhiễu từ đám đàn ông đang phô diễn ầm ĩ trên mấy chiếc xe máy, hai vợ chồng này chuyển tới bãi đậu xe của một quán trọ gần đó. Sau đó vào buổi đêm, Thomas mơ thấy một trong những tay cưỡi xe máy kia đột nhập vào xe. Khi ngủ, anh nhầm vợ mình với tay cưỡi xe máy tưởng tượng kia và bóp cổ cô ấy đến chết. Anh ta đã kể câu chuyện này như thế.

Năm sau đó, bồi thẩm đoàn phải quyết định liệu Thomas có phạm tội sát nhân không. Bồi thẩm đoàn biết được rằng anh đã mắc phải chứng mộng du từ thuở nhỏ. Một bác sĩ tâm thần lão luyện giải thích rằng Thomas không nhận thức được mình đang làm gì khi bóp cổ vợ mình và anh ta không chọn cách tấn công cô ấy bằng ý thức của mình. Thomas sau đó được tự do.

Những vụ như thế buộc người ta phải xem xét việc có ý chí tự do có ý nghĩa gì. Trong lúc mộng du, bộ não rõ ràng có thể chỉ thị cho hành động của người ta mà không cần đến sự hợp tác hoàn toàn của ý thức. Gần đây, càng lúc càng nhiều triết gia và những nhà khoa học thần kinh lập luận – dựa trên sự hiểu biết hiện thời về bộ não con người – rằng ở chừng mực nào đó thì hết thảy chúng ta đều mộng du ở mọi thời điểm. Thay vì làm chủ cuộc sống theo ý hướng bản thân, chúng ta hoàn toàn bị đưa đẩy bởi những sự kiện quá khứ và những mưu đồ của tâm trí vô thức diễn ra bên dưới. Thậm chí khi chúng ta tỉnh thức hoàn toàn, thì ý chí tự do chỉ là một ảo tưởng.

Các triết gia với quan điểm này đã lập luận rằng toàn bộ các sinh vật đều bị ràng buộc bởi các quy luật vật lí của một vũ trụ mà trong đó mọi hành động đều là kết quả của những sự kiện trước. Con người là những sinh vật. Do đó, hành vi con người là kết quả từ một chuỗi nhân quả phức hợp vốn dĩ vượt khỏi tầm kiểm soát của ta hoàn toàn. Vũ trụ này đơn giản là không cho phép có ý chí tự do. Những nghiên cứu khoa học thần kinh gần đây đã tiếp thêm nhiên liệu cho quan niệm đó bằng cách đề xuất ý rằng cái trải nghiệm của sự chọn lựa có ý thức là kết quả của những tiến trình xử lí não bộ bên dưới vốn là thứ sinh ra hành động con người, chứ không phải là nguyên nhân của những tiến trình đó. Bộ não chúng ta quyết định mọi thứ mình làm mà không cần “ta” giúp – chỉ là cảm giác giống như ta làm được vậy mà thôi.

Tất nhiên không phải ai cũng đồng ý, và cuộc tranh luận về sự tồn tại của ý chí tự do sẽ tiếp tục trào lên. Tuy nhiên, chúng tôi cảm thấy hiếu kì về một vấn đề liên quan cũng có tầm quan trọng tương đương: Chuyện gì xảy đến khi niềm tin của con người vào ý chí tự do – cho dù có được biện minh hay không – lại bị lung lay? Liệu một xã hội thời hậu ý chí tự do (post-free will), hoặc nói đúng hơn là một xã hội sau cái thời người ta có niềm tin vào ý chí tự do, thì sẽ trông ra sao? Nghiên cứu của chúng tôi trong vấn đề này đã đưa ra những manh mối cho một câu trả lời, một số làm người ta thấy bất an. Cụ thể, chúng tôi thấy được những dấu hiệu cho biết nếu thiếu đi niềm tin vào ý chí tự do thì kết cuộc là cấu trúc xã hội sẽ bị phá huỷ tan tành. Continue reading

David Rock – Tâm trí con người suy nghĩ lan man gần một nửa số thời gian trong ngày

Một nghiên cứu mới bởi Daniel Gilbert và Matthew Killingsworth đã xác minh điều mà tất cả chúng ta từng nghi ngờ: hầu hết chúng ta làm những việc được gọi là “tâm trí suy nghĩ lan man” gần một nửa số thời gian, chính xác là 46.9%. Chúng ta không tập trung vào thế giới bên ngoài hoặc nhiệm vụ trước mặt, mà chúng ta thẩm tra những suy nghĩ của riêng chúng ta. Điều không may là, nghiên cứu trên 2,250 người, hầu hết hoạt động này không làm chúng ta cảm thấy hạnh phúc.

Nghiên cứu được thiết kế để xác định kiểu hoạt động nào mà con người làm trong suốt một ngày, và hoạt động nào làm họ hạnh phúc nhất. Suy nghĩ lan man (mindwandering) chỉ là một trong số 22 hoạt động mà con người có thể liệt kê.

Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy con người hạnh phúc nhất khi quan hệ tình dục, tập thể dục hoặc trò chuyện. Họ ít hạnh phúc nhất khi nghỉ ngơi, làm việc hoặc sử dụng máy vi tính ở nhà.

Mọi người thông báo rằng họ suy nghĩ lan man không ít hơn 30% trong tổng thời gian, trong suốt mọi việc, trừ lúc quan hệ tình dục. Và mọi người thông báo rằng họ không hạnh phúc trong lúc suy nghĩ lan man. Gần một nửa thời gian chúng ta suy nghĩ lan man làm cho chúng ta không hạnh phúc! Do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi quá nhiều truyền thống tôn giáo và tâm linh cố gắng cầu khẩn mọi người “hãy sống trong hiện tại”.

Liệu con người có đang suy nghĩ lan man hay không hóa ra là một yếu tố dự báo tốt về hạnh phúc hơn những hoạt động thực sự mà con người đang làm. Hãy nghĩ về một ngụ ý của phát hiện này: nó giải thích lí do tại sao địa ngục của một người (ví dụ, lau nhà) có thể là thiên đường của người khác, nếu họ thấy bản thân họ đang tập trung vào nhiệm vụ. Continue reading