Yêu thương con người, không yêu lạc thú

Abd al-Rahman đệ tam là một vị vua và một thủ lĩnh Hồi giáo của xứ Córdoba ở Tây Ban Nha thế kỷ thứ 10. Ông là người cai trị tối cao và sống trong sự xa hoa tuyệt đối. Đây là cách mà ông nhận định về cuộc sống của mình:

“Cho tới bây giờ, ta đã trị vì hơn 50 năm trong phồn thịnh và hoà bình; thần dân yêu thương ta, kẻ địch khiếp sợ ta, và các đồng minh kính nể ta. Giàu sang và địa vị, quyền lực và lạc thú đợi lệnh ta, và ta có tất cả mọi lời chúc tụng trên mặt đất này.”

Vinh hoa, phú quý, và lạc thú trên cả tưởng tượng. Nghe có vẻ quá hoàn hảo? Ông đã viết tiếp:

“Ta đã cẩn trọng và kiên trì đếm số ngày mà ta cảm nhận được niềm vui thuần khiết thật sự trong đời mình: chỉ vỏn vẹn có 14 ngày.”

Vấn đề của Abd al-Rahman, như ông đã nghĩ, không phải là sự hạnh phúc, mà là sự bất hạnh. Nếu điều đó nghe có vẻ như một sự phân biệt không hề có chút khác biệt nào, có lẽ bạn cũng có vấn đề tương tự như vị vua vĩ đại kia. Nhưng với một chút hiểu biết, bạn có thể tránh được sự khổ sở mà ông ấy đã chịu.

Thế nào là sự bất hạnh? Trực giác của bạn có thể mách bảo rằng “bất hạnh” đơn giản là đối lập của hạnh phúc, như bóng tối là sự thiếu vắng ánh sáng. Điều đó là không đúng. Hạnh phúc và sự bất hạnh chắc chắn là có liên hệ với nhau, nhưng chúng không thật sự là hai mặt đối lập. Ảnh chụp bộ não cho thấy nhiều khu vực của vỏ não bên trái hoạt động mạnh hơn so với với bên phải khi chúng ta cảm thấy hạnh phúc, trong khi vỏ não phải trở nên hoạt động mạnh hơn khi chúng ta không hạnh phúc. Continue reading

Graham Allison – Làm thế nào một cuộc thế chiến nữa có thể xảy ra?

 

Graham Allison

Làm thế nào một cuộc thế chiến nữa có thể xảy ra?

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Đánh giá những tương đồng và những khác biệt giữa năm 1914 và 2014.

Tháng [Bảy] này vào một thế kỉ trước, châu Âu đứng trước nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tàn khốc khiến cho các sử gia phải tạo ra một hạng mục mới: “Thế chiến”. Không nhà lãnh đạo nào ở thời điểm đó có thể hình dung vùng đất hoang tàn mà họ sẽ sống tại đó bốn năm sau. Tới năm 1918, mỗi nhà lãnh đạo đều đã mất đi thứ họ yêu dấu nhất: kaiser (hoàng đế Đức) bị truất bỏ, Đế chế Áo-Hung bị giải thể, tsar (Nga hoàng) bị giới Bolshevik lật đổ, nước Pháp chịu khổ cả một thế hệ, và nước Anh bị tước đi thời thanh xuân và của cải của mình. Một thiên niên kỉ làm chủ địa cầu của các nhà lãnh đạo Âu châu đã khựng lại lúc đó.

Điều gì gây nên tai ương này? Tổng thống John F. Kennedy thích châm chọc các vị đồng sự của mình bằng câu hỏi ấy. Khi đó ông ta sẽ nhắc cho họ nhớ câu trả lời ưa thích của mình, trích lại lời Thủ tướng Đức Theobald von Bethmann Hollweg:  “À, giá như chúng ta biết được.” Lúc xảy ra Cuộc khủng hoảng Tên lửa Cuba năm 1962, Kennedy tự thấy mình “mặt đối mặt” với nhà lãnh đạo Soviet Nikita Khrushchev, và đưa ra những quyết định mà ông biết có thể làm cả trăm triệu người chết ngay, khi đó ông chiêm nghiệm về những bài học năm 1914. Ở vài thời điểm quyết định, ông điều chỉnh những điều ông có khuynh hướng sẽ thực hiện để nỗ lực tránh lặp lại những sai lầm đó của các nhà lãnh đạo.

Khi họ chọn cách đáp ứng những cam kết, hay không, điều động quân đội trong sớm muộn, những kẻ tham gia vào Thế chiến thứ nhất đồng loạt tìm cách định hình khung nhận thức của công chúng về cuộc khủng hoảng này. Mỗi bên tìm cách trách cứ kẻ thù của mình. Sau cuộc thảm hoạ đó, những kẻ chiến thắng tự cho mình cái quyền đáng kể với các dữ kiện nhằm biện minh cho việc trừng phạt kẻ chiến bại. Hiệp ước Versailles áp đặt những hình phạt hà khắc đến mức tạo điều kiện nổ ra Thế chiến thứ nhì chỉ hai thập niên sau đó. Cũng dễ hiểu khi màn kịch lớn này đã định hình những giải thích của sử gia về các nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến. Nhưng như kết luận thẳng thừng từ cuốn sách xuất sắc nhất trong những cuốn sách mới về cuộc xung đột này, cuốn The Sleepwalkers, thì ta có thể tập hợp những bằng chứng có được nhằm ủng hộ cho một loạt những khẳng định gây thách thức. “Việc bùng nổ cuộc chiến năm 1914 không phải là một kịch bản kiểu Agatha Christie mà kết cuộc ta sẽ khám phá ra kẻ phạm tội đứng trên một xác chết nào đó trong phòng bảo quản với khẩu súng lục bốc khói,” Clark viết như thế. “Trong câu chuyện này không có khẩu súng bốc khói nào cả; hoặc, thay vào đó, là có một khẩu nằm trong tay của mọi nhân vật chính.” Continue reading

Joshua Rothman – Ý tưởng về tính riêng tư của Virginia Woolf

Virginia Woolf's idea of privacy

Ảnh: E. O. Hoppe/Mansell/Time Life Pictures/Getty

Joshua Rothman

Ý tưởng về tính riêng tư của Virginia Woolf

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Những ngày này, khi ta dùng từ “tính riêng tư”, thì nó thường mang nghĩa chính trị. Chúng ta quan tâm đến người khác và cách họ có thể ảnh hưởng đến mình. Ta nghĩ về cách họ có thể dùng thông tin về chúng ta cho mục đích của riêng họ, hoặc can thiệp vào những quyết định mà đúng ra là của ta. Ta để tâm đến những dòng ngăn cách đời sống công cộng với đời sống riêng tư. Chúng ta có cái mà bạn có thể gọi là cảm thức về tính riêng tư của một công dân.

Đó là một cách nghĩ quan trọng về tính riêng tư, hiển nhiên rồi. Nhưng còn có những cách khác. Một trong số đó đã được bày tỏ vô cùng ấn tượng ở tác phẩm “Mrs. Dalloway”, trong một cảnh nổi tiếng ở đầu sách. Đó là một cảnh hồi tưởng, từ lúc mà Clarissa [Dalloway] còn là một thiếu nữ. Đêm nọ, cô nàng ra ngoài đi dạo với một số người bạn: hai cậu trai phiền hà, Peter Walsh và Joseph Breitkopf, và một cô gái, Sally Seton. Sally hấp dẫn, thông minh, có kiểu Bohemia – sở hữu “một dạng phóng túng, như thể cô nàng có thể nói bất kì điều gì, làm bất kì điều gì.” Hai cậu trai đi ở phía trước, lạc mình trong cuộc chuyện trò tẻ nhạt về Wagner, trong khi hai cô gái bị bỏ lại đằng sau. “Đoạn, xuất hiện cái thời khắc tuyệt diệu nhất trong cả đời nàng khi đi ngang qua một cái bình bằng đá với những bông hoa ở trong.” Sally cầm lên một đoá hoa từ cái bình và hôn lên môi Clarissa:

“Cả cõi sống này như thể lộn ngược xuống vậy! Những người kia biến mất, nơi đây nàng một mình cùng với Sally. Và nàng cảm thấy rằng mình đã được trao một món quà, được gói ghém lại, và được bảo là hãy giữ nó, chứ đừng nhìn vào nó – một viên kim cương, một thứ chi đó quý giá vô ngần, được gói ghém lại, cái mà, khi họ đi bộ (đi lên đi xuống, đi lên đi xuống), nàng khám phá ra, hoặc cái mà ánh hào quang toả khắp, sự mạc khải, cảm giác tín ngưỡng đó!”

Woolf thường hình dung cuộc sống theo cách này: như một món quà mà bạn được trao cho, cái mà bạn phải giữ cho mình và trân trọng nó nhưng không bao giờ mở ra. Việc mở nó ra sẽ xua đi cái không khí đó, sẽ làm tiêu tan ánh hào quang kia – và ánh hào quang của cuộc đời là thứ khiến đời này đáng sống. Thật khó để nói việc giữ lấy cuộc sống mà không nhìn vào nó có thể mang ý nghĩa chi; đó là một trong những câu đố của những tác phẩm của bà. Nhưng nó có liên quan chi đó tới bí ẩn của việc gìn giữ cuộc sống; tới việc để lại những thứ không được mô tả, không được chỉ rõ, và không được biết đến; tới những cảm xúc tận hưởng nhất định, chẳng hạn như tính tò mò, ngạc nhiên, ham muốn, và tính đề phòng. Nó phụ thuộc vào cảm thức càng lúc càng lớn về sự quý giá và mỏng manh của cuộc sống, và phụ thuộc vào quan niệm kiểu Heisenberg rằng, khi phải dùng tới những trực giác trừu tượng nhất và thuộc về tinh thần nhiều nhất của chúng ta, thì việc nhìn quá sát sao sẽ làm thay đổi những điều ta cảm nhận. Nói cách khác, nó liên quan đến một dạng riêng tư nội tại, mà nhờ đó bạn che chở bản thân mình không chỉ tránh khỏi những cặp mắt xoi mói của người khác, mà còn tránh khỏi chính mình nữa. Hãy gọi nó là cảm thức riêng tư của một nghệ sĩ. Continue reading

[Scientific American] Thế giới không có ý chí tự do

Tác giả: Azim F. Shariff & Kathleen D. Vohs

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Vào tháng 7 năm 2008, Brian Thomas, một công nhân ngành thép đã nghỉ hưu, cùng cô vợ Christine lái chiếc xe dã ngoại đến một ngôi làng nhỏ ven biển ở xứ Wales. Cảm thấy phiền nhiễu từ đám đàn ông đang phô diễn ầm ĩ trên mấy chiếc xe máy, hai vợ chồng này chuyển tới bãi đậu xe của một quán trọ gần đó. Sau đó vào buổi đêm, Thomas mơ thấy một trong những tay cưỡi xe máy kia đột nhập vào xe. Khi ngủ, anh nhầm vợ mình với tay cưỡi xe máy tưởng tượng kia và bóp cổ cô ấy đến chết. Anh ta đã kể câu chuyện này như thế.

Năm sau đó, bồi thẩm đoàn phải quyết định liệu Thomas có phạm tội sát nhân không. Bồi thẩm đoàn biết được rằng anh đã mắc phải chứng mộng du từ thuở nhỏ. Một bác sĩ tâm thần lão luyện giải thích rằng Thomas không nhận thức được mình đang làm gì khi bóp cổ vợ mình và anh ta không chọn cách tấn công cô ấy bằng ý thức của mình. Thomas sau đó được tự do.

Những vụ như thế buộc người ta phải xem xét việc có ý chí tự do có ý nghĩa gì. Trong lúc mộng du, bộ não rõ ràng có thể chỉ thị cho hành động của người ta mà không cần đến sự hợp tác hoàn toàn của ý thức. Gần đây, càng lúc càng nhiều triết gia và những nhà khoa học thần kinh lập luận – dựa trên sự hiểu biết hiện thời về bộ não con người – rằng ở chừng mực nào đó thì hết thảy chúng ta đều mộng du ở mọi thời điểm. Thay vì làm chủ cuộc sống theo ý hướng bản thân, chúng ta hoàn toàn bị đưa đẩy bởi những sự kiện quá khứ và những mưu đồ của tâm trí vô thức diễn ra bên dưới. Thậm chí khi chúng ta tỉnh thức hoàn toàn, thì ý chí tự do chỉ là một ảo tưởng.

Các triết gia với quan điểm này đã lập luận rằng toàn bộ các sinh vật đều bị ràng buộc bởi các quy luật vật lí của một vũ trụ mà trong đó mọi hành động đều là kết quả của những sự kiện trước. Con người là những sinh vật. Do đó, hành vi con người là kết quả từ một chuỗi nhân quả phức hợp vốn dĩ vượt khỏi tầm kiểm soát của ta hoàn toàn. Vũ trụ này đơn giản là không cho phép có ý chí tự do. Những nghiên cứu khoa học thần kinh gần đây đã tiếp thêm nhiên liệu cho quan niệm đó bằng cách đề xuất ý rằng cái trải nghiệm của sự chọn lựa có ý thức là kết quả của những tiến trình xử lí não bộ bên dưới vốn là thứ sinh ra hành động con người, chứ không phải là nguyên nhân của những tiến trình đó. Bộ não chúng ta quyết định mọi thứ mình làm mà không cần “ta” giúp – chỉ là cảm giác giống như ta làm được vậy mà thôi.

Tất nhiên không phải ai cũng đồng ý, và cuộc tranh luận về sự tồn tại của ý chí tự do sẽ tiếp tục trào lên. Tuy nhiên, chúng tôi cảm thấy hiếu kì về một vấn đề liên quan cũng có tầm quan trọng tương đương: Chuyện gì xảy đến khi niềm tin của con người vào ý chí tự do – cho dù có được biện minh hay không – lại bị lung lay? Liệu một xã hội thời hậu ý chí tự do (post-free will), hoặc nói đúng hơn là một xã hội sau cái thời người ta có niềm tin vào ý chí tự do, thì sẽ trông ra sao? Nghiên cứu của chúng tôi trong vấn đề này đã đưa ra những manh mối cho một câu trả lời, một số làm người ta thấy bất an. Cụ thể, chúng tôi thấy được những dấu hiệu cho biết nếu thiếu đi niềm tin vào ý chí tự do thì kết cuộc là cấu trúc xã hội sẽ bị phá huỷ tan tành. Continue reading

David Rock – Tâm trí con người suy nghĩ lan man gần một nửa số thời gian trong ngày

Một nghiên cứu mới bởi Daniel Gilbert và Matthew Killingsworth đã xác minh điều mà tất cả chúng ta từng nghi ngờ: hầu hết chúng ta làm những việc được gọi là “tâm trí suy nghĩ lan man” gần một nửa số thời gian, chính xác là 46.9%. Chúng ta không tập trung vào thế giới bên ngoài hoặc nhiệm vụ trước mặt, mà chúng ta thẩm tra những suy nghĩ của riêng chúng ta. Điều không may là, nghiên cứu trên 2,250 người, hầu hết hoạt động này không làm chúng ta cảm thấy hạnh phúc.

Nghiên cứu được thiết kế để xác định kiểu hoạt động nào mà con người làm trong suốt một ngày, và hoạt động nào làm họ hạnh phúc nhất. Suy nghĩ lan man (mindwandering) chỉ là một trong số 22 hoạt động mà con người có thể liệt kê.

Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy con người hạnh phúc nhất khi quan hệ tình dục, tập thể dục hoặc trò chuyện. Họ ít hạnh phúc nhất khi nghỉ ngơi, làm việc hoặc sử dụng máy vi tính ở nhà.

Mọi người thông báo rằng họ suy nghĩ lan man không ít hơn 30% trong tổng thời gian, trong suốt mọi việc, trừ lúc quan hệ tình dục. Và mọi người thông báo rằng họ không hạnh phúc trong lúc suy nghĩ lan man. Gần một nửa thời gian chúng ta suy nghĩ lan man làm cho chúng ta không hạnh phúc! Do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi quá nhiều truyền thống tôn giáo và tâm linh cố gắng cầu khẩn mọi người “hãy sống trong hiện tại”.

Liệu con người có đang suy nghĩ lan man hay không hóa ra là một yếu tố dự báo tốt về hạnh phúc hơn những hoạt động thực sự mà con người đang làm. Hãy nghĩ về một ngụ ý của phát hiện này: nó giải thích lí do tại sao địa ngục của một người (ví dụ, lau nhà) có thể là thiên đường của người khác, nếu họ thấy bản thân họ đang tập trung vào nhiệm vụ. Continue reading

Jack Schafer – Hiểu tâm lý con người qua những từ họ nói

Những manh mối từ ngữ

Nếu đôi mắt là cửa sổ tâm hồn thì từ ngữ là cánh cổng đi đến tâm trí. Từ ngữ đại diện cho những suy nghĩ. Để hiểu được suy nghĩ của người khác, bạn cần nghe những từ mà anh ấy nói hoặc viết. Những từ ngữ nhất định phản ánh những đặc điểm hành vi của người nói hoặc viết chúng. Tôi gọi những từ đó là những manh mối từ ngữ. Những manh mối từ ngữ làm tăng khả năng dự đoán được những đặc điểm hành vi của con người bằng cách phân tích những từ họ chọn khi họ nói hoặc viết. Một mình những manh mối từ ngữ không thể xác định được những nét tính cách của một người, nhưng chúng đem lại những hiểu biết sâu sắc về quá trình suy nghĩ và những đặc điểm hành vi của một người. Những giả thiết có thể được phát triển dựa trên những manh mối từ ngữ và sau đó được kiểm tra bằng cách sử dụng thông tin thêm thu được từ người đó hoặc sự làm chứng của người thứ 3.

Bộ não con người hiệu quả một cách khó tin. Khi chúng ta suy nghĩ, chúng ta chỉ sử dụng những động từ và danh từ. Những tính từ, phó từ và những phần khác của lời nói được thêm vào trong suốt sự thay đổi của những ý nghĩ vào ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ viết. Những từ chúng ta thêm đó phản ánh chúng ta là ai và chúng ta đang nghĩ gì.

Câu cơ bản bao gồm 1 chủ ngữ và 1 động từ. Ví dụ, câu đơn giản “Tôi đi bộ” bao gồm đại từ “Tôi” là chủ ngữ và từ “đi bộ” là động từ. Bất kì từ nào được thêm vào cấu trúc câu cơ bản này làm thay đổi chất lượng của danh từ hoặc hành động của động từ. Những sự thay đổi có chủ tâm đó đem lại những manh mối về những đặc điểm tính cách và hành vi của người nói hoặc người viết.

Những manh mối từ ngữ cho phép những người quan sát phát triển những giả thiết hoặc đưa ra những phỏng đoán liên quan đến những đặc điểm hành vi của người khác. Ví dụ, trong câu “Tôi đi bộ nhanh”, manh mối từ ngữ “nhanh” truyền tải 1 cảm giác khẩn trương, nhưng nó không mang đến lí do cho sự khẩn trương. Một người có thể “đi bộ nhanh” vì anh ấy đang trễ một cuộc hẹn hoặc lo trễ một cuộc hẹn. Ngườicó ý thức (Conscientious) xem bản thân họ là đáng tin và không muốn trễ hẹn. Người muốn đi đúng giờ có xu hướng tôn trọng những chuẩn tắc xã hội và muốn sống theo những kì vọng của người khác. Người có đặc điểm hành vi này là những nhân viên tốt vì họ không muốn làm sếp của họ thất vọng. Người “đi bộ nhanh” khi họ gặp phải những mối đe dọa. Một mối đe dọa có thể xuất hiện trong khi đang đi bộ qua một khu hàng xóm xấu. Gặp thời tiết xấu cũng có thể là 1 mối đe dọa. Đi bộ nhanh đế tránh sét làm giảm nguy cơ bị sét đánh hoặc bị ướt. Con người có thể thêm từ “nhanh” với nhiều lí do khác nhau, nhưng có một lí do cụ thể cho sự lựa chọn của họ. Continue reading

Margaret Atwood – Những đoạn kết có hậu

 

Margaret Atwood

Những đoạn kết có hậu

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

John và Mary gặp nhau.

Chuyện gì xảy đến tiếp theo?

Nếu bạn muốn một cái kết có hậu, hãy thử trường hợp A.

A. John và Mary yêu nhau và cưới nhau. Cả hai đều có việc làm xứng đáng và lương cao, và họ đều thấy công việc mình làm thật hào hứng và kích thích. Họ mua một căn nhà duyên dáng. Giá bất động sản tăng lên. Sau rốt, khi họ có thể thuê một người làm ở tại nhà mình, thì họ có được hai đứa con, và dành hết thời giờ cho chúng. Bọn trẻ lớn lên khoẻ mạnh. John và Mary có đời sống tình dục hào hứng và kích thích và có những người bạn xứng đáng. Họ đi nghỉ mát vui vẻ bên nhau. Họ nghỉ hưu. Cả hai đều có những thú vui mà họ thấy thật hào hứng và kích thích. Sau rốt họ chết. Đến đây câu chuyện kết thúc.

B. Mary phải lòng yêu John nhưng John thì không yêu Mary. Anh ta chỉ dùng thân xác cô nàng cho những lạc thú riêng mình và để làm vừa lòng đại khái cho cái tôi của mình. Anh đến căn hộ của cô hai lần mỗi tuần và cô nàng nấu bữa tối cho anh ta, bạn sẽ để ý thấy là anh ta thậm chí không nghĩ cô nàng đáng giá để dẫn ra ngoài ăn nữa, và sau khi ăn xong bữa tối anh ta giao cấu với cô nàng và sau đó đi ngủ, còn cô nàng thì rửa chén đĩa để anh ta không nghĩ là cô nàng bề bộn khi để chén đĩa dơ bẩn nằm khắp nơi, và thoa thêm lớp son môi để trông thật tươi tắn khi anh ta thức dậy, nhưng khi thức dậy thì anh ta thậm chí còn không để ý tới, anh ta mang vớ, mặc quần cụt, quần dài, áo, cà-vạt, và mang giày vào, một trình tự đảo ngược so với trình tự anh cởi chúng ra. Anh không cởi đồ Mary ra, cô nàng tự mình cởi ra, cô nàng làm như thể lần nào cô nàng muốn nó đến chết vậy, không hẳn là vì cô nàng thích chuyện tình dục, cô nàng không thích, nhưng cô nàng muốn John nghĩ là cô nàng có thích bởi vì nếu họ làm chuyện đó đều đặn thì chắc chắn anh ta sẽ quen mùi cô nàng, anh ta sẽ trở nên phụ thuộc vào cô nàng và họ sẽ cưới nhau, nhưng John đi ra cửa mà thậm chí không một lời chúc ngủ ngon và ba ngày sau anh trở lại vào sáu giờ và họ làm lại toàn bộ chuyện đó.

Mary thấy kiệt sức. Khóc sẽ làm gương mặt bạn tệ đi, ai cũng biết chuyện đó và Mary cũng thế nhưng cô nàng không ngừng lại được. Những người ở chỗ làm để ý tới. Bạn cô nàng bảo rằng John là một con chuột, một con lợn, một con chó, anh ta không xứng với cô nàng, nhưng cô nàng không tin điều đó. Bên trong John, cô nàng nghĩ, là một John khác, tốt hơn. John khác này sẽ xuất hiện như con bướm chui ra từ kén vậy, như thằng hề nhảy ra khỏi cái hộp, như cái hột từ quả mận khô vậy, nếu John đầu tiên ấy bị ép lại vừa đủ. Continue reading

Tâm lý học ý chí

Tham khảo sách “ The willpower instinct “ của Kelly McGonigal

Khi người nào đó nói rằng, “ tôi không có ý chí”, điều họ ám chỉ ở đây là ,” tôi có vấn đề trong việc nói “không” khi trái tim, dạ dày.. của tôi muốn nói “có”.
Ý chí gồm 3 yếu tố sau : (1) Biết nói “không” khi bạn cần phải nói “không”, (2) Biết nói “có” khi bạn cần phải nói “có”, (3) Khả năng ghi nhớ những gì bạn thực sự mong muốn.

Tại sao con người có ý chí ?

Cách đây 100,000 năm , những trách nhiệm của bạn trong cuộc sống chỉ đơn giản là (1) Tìm thức ăn , (2) duy trì nòi giống và (3) Tránh kẻ thù.

Bạn sống trong bộ lạc và phụ thuộc vào mọi người để sinh tồn. Sống trong cộng đồng đòi hỏi sự hợp tác và chia sẻ các nguồn lực – bạn không thể lấy những gì bạn muốn. Ví dụ, nếu bạn ăn trộm thịt của người khác thì bạn sẽ bị khai trừ khỏi nhóm hoặc thậm chí bị giết.

Bạn cần những người trong bộ lạc chăm sóc bạn nếu bạn ốm hoặc bị thương , hoặc khi bạn không đi săn bắt, hái lượm được.

Như vậy, nhu cầu hòa hợp, hợp tác, duy trì những mối quan hệ đã gây áp lực lên bộ não loài người, buộc họ phát triển những chiến lược tự kiểm soát bản thân- đó là khả năng kiểm soát những thôi thúc của bản thân giúp chúng ta trở thành con người trọn vẹn.

Tất cả chúng ta khi sinh ra đều có sức mạnh ý chí, nhưng một số người trong chúng ta sử dụng khả năng này nhiều hơn những người khác. Những người có khả năng kiểm soát tốt sự chú ý, cảm xúc và những hành động của mình thì họ thường có cuộc sống khỏa mạnh và hạnh phúc hơn. Những mối quan hệ của họ thường kéo dài hơn và đem lại nhiều thỏa mãn. Họ kiếm được nhiều tiền và thành công trong sự nghiệp. Họ có khả năng kiểm soát tốt stress, xử lý những xung đột và vượt qua nghịch cảnh. Họ thậm chí sống lâu hơn.

Khả năng tự kiểm soát bản thân ( self-control) là 1 dự báo tốt về sự thành công trong học tập hơn cả trí thông minh, nó là yếu tố quyết định của nhà lãnh đạo thành công còn hơn cả uy tín, và sự kiểm soát bản thân quan trọng hơn cả sự thấu cảm trong 1 cuộc hôn nhân hạnh phúc (bí mật để kéo dài cuộc hôn nhân của bạn có lẽ là học cách làm thế nào để giữ mồm giữ miệng ). Continue reading

Jason Plaks – Tâm trí quan tâm đến địa vị xã hội nhiều như thế nào

Điều gì làm một người là đáng nhớ? Trực giác cho thấy nếu một ai đó có những đặc điểm ngoại hình khác thường, ăn mặc sáng tạo, hoặc nói những điều khác lạ trong trò chuyện, chúng ta nhớ người đó tốt hơn. Nhưng còn những đặc điểm tinh tế hơn thì sao?

Nghiên cứu gần đây bởi một nhóm các nhà nghiên cứu do Nathaniel Ratcliff dẫn đầu (đại học Penn State) cho rằng tâm trí con người cực kỳ nhạy cảm trước quyền lực. Những người với địa vị xã hội cao được người khác nhớ tốt hơn so với những người có địa vị xã hội thấp hơn.

Trong một nghiên cứu, họ cho những người tham gia xem một loạt khuôn mặt trên một màn hình máy tính. Mỗi khuôn mặt được trình chiếu với một cái nhãn nghề nghiệp ở dưới – đôi lúc đó là 1 nghề có địa vị cao (CEO, bác sĩ), lúc khác là 1 nghề có địa vị thấp (thợ cơ khí, thợ sửa ống nước). Sau khi xem một loạt ảnh 20 khuôn mặt địa vị cao và 20 khuôn mặt địa vị thấp được trộn lẫn ngẫu nhiên, những người tham gia hoàn thành 1 nhiệm vụ 5 phút (mục đích gây sao lãng). Sau đó các nhà nghiên cứu trình chiếu một loạt ảnh 80 khuôn mặt, một nửa trong số đó là những khuôn mặt mà người tham gia đã xem lúc trước và 1 nửa là số khuôn mặt mới. Nhiệm vụ của người tham gia là cho biết với mỗi khuôn mặt, liệu đó là khuôn mặt họ đã xem trước đây hay là 1 khuôn mặt mới.

Các kết quả cho thấy những người tham gia quả thật phân biệt tốt hơn những khuôn mặt cũ với khuôn mặt mới khi những khuôn mặt có địa vị cao so với địa vị thấp.

Trong một nghiên cứu thứ 2, các nhà nghiên cứu đã thay đổi cách tiến hành một chút. Đầu tiên, thay vì chỉ ra nghề nghiệp của mỗi khuôn mặt với 1 từ, mỗi khuôn mặt được trình chiếu với quần áo giúp nhận diện nghề nghiệp. Ví dụ, 1 bác sĩ mặc áo khoác trắng và ống nghe quanh cổ. Thứ hai, thay vì đơn giản là nhớ lại những khuôn mặt, những người tham gia chơi một trò chơi gọi là Concentration. Người tham gia di chuyển 2 bức ảnh trên màn hình máy tính để tạo ra sự hoàn chỉnh (2 hình cho thấy cùng 1 người). Ratcliff và cộng sự phát hiện thấy những người tham gia có thể ghép hình dễ dàng hơn đối với những đối tượng có địa vị cao so với địa vị thấp. Nói cách khác, họ không chỉ nhớ những khuôn mặt địa vị cao tốt hơn mà họ còn nhớ vị trí của những người đó tốt hơn.

Những phát hiện đó nói với chúng ta điều gì? Chúng làm sáng tỏ việc làm thế nào những động cơ (một cách tự động và hiệu quả) của chúng ta có thể ảnh hưởng đến tri giác, nhận thức của chúng ta. Có lẽ, bạn bị thúc đẩy chú ý nhiều đến một người quyền lực hơn một người không quyền lực vì, theo định nghĩa, một người quyền lực có nhiều sự kiểm soát hơn đối với những kết quả của bạn. Như vậy, bạn phải có nhiệm vụ thu thập càng nhiều thông tin mà bạn có thể về người này để biết cách làm thế nào hành xử trước người đó. Điều thú vị là những sự tính toán đó dường như xảy ra một cách tự động, nằm ngoài ý thức. Hơn nữa, những sự toan tính đó mở rộng ngay cả đối với những người có địa vị cao chỉ tồn tại qua những bức ảnh – nói cách khác, những người không thực sự có bất kỳ ảnh hưởng nào đối với những kết quả của bạn. Nó gần như là mọi người có thói quen rà soát quyền lực.

Thanh Hằng dịch

Nguồn: http://www.psychologytoday.com/blog/in-the-eye-the-beholder/201107/are-powerful-people-more-memorable

Jason Plaks – Tại sao con người sẵn sàng để những điều xấu xảy ra

Về mặt đạo đức, điều nào tồi tệ hơn: Đẩy một người xuống biển cho chết đuối hoặc không làm gì để cứu 1 ai đó rõ ràng đang sắp chết đuối?Nhiều nghiên cứu tâm lý đã chứng minh về “thành kiến không làm” (omission bias): Khi xem xét cách tốt nhất để làm hại, nếu được lựa chọn, số đông mọi người chọn ‘không hành động’ thay vì hành động, ngay cả nếu cả 2 sự lựa chọn đều dẫn đến cùng kết quả xấu. Trong thực tế, con người có xu hướng chọn không hành động ngay cả khi “không hành động” dẫn đến nhiều nguy hại hơn là hành động.

 

Những nghiên cứu khác đã chứng minh 1 hiệu ứng tương tự đối với việc đánh giá về những hành động của người khác: mọi người đánh giá 1 người đầu độc một nạn nhân là đáng trách hơn so với một người không đưa thuốc giải độc cho nạn nhân.

Liệu 2 hiện tượng trên chỉ phản ánh về 1 thành kiến nằm bên dưới sự ưa thích của mọi người đối với sự không hành động, tính trì trệ và duy trì tình trạng hiện tại? Hoặc có thể chúng có 1 mối quan hệ thú vị và tinh tế hơn?

Một số nghiên cứu gần đây chứng minh điều thứ 2. Peter DeScioli, John Christner, và Robert Kurzban lập luận trong 1 bài báo gần đây rằng 1 hiện tượng này giải thích cho hiện tượng kia: nói cách khác, mọi người sẵn sàng chọn lựa ‘không hành động’ hơn vì họ biết rằng, nhìn chung, người khác khoan dung đối với những người không hành động hơn là những người hành động. Theo DeScioli và các cộng sự, khi con người muốn thực hiện 1 hành động vô đạo đức, họ dường như biết qua trực giác rằng họ sẽ ít nhận được sự chỉ trích hơn nếu họ làm nó thông qua sự ‘không hành động’ hơn là thông qua hành động công khai, có thể thấy được. Khi làm như vậy, họ có thể lựa chọn 1 hành động cân bằng giữa việc gây ra nguy hại lớn nhất và duy trì được bề ngoài không vô đạo đức. Continue reading