Dave Kehr – Về đạo diễn Jacques Tati

Jacques Tati

Dave Kehr

Về đạo diễn Jacques Tati

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Cha của Tati đã thất vọng khi con trai mình không tham gia vào công việc kinh doanh của gia đình, phục chế và đóng khung những bức hoạ xưa cũ. Tuy thế trong những phim của Jacques Tati, nghệ thuật đóng khung – chọn lựa các đường biên, và khai thác những giới hạn của hình ảnh – đã đạt được tầm cao biểu hiện mới. Thay vì phục chế lại các bức hoạ xưa cũ, Tati phục dựng lại nghệ thuật hài kịch hình ảnh, mang đến một mật độ và nét sắc sảo mới ở các chi tiết, một nét sáng sủa mới về mặt bố cục. Ông là một trong số ít những nghệ sĩ điện ảnh – những người khác gồm có Griffith, Eisenstein, Murnau, Bresson – được cho là có thể chuyển hoá phương tiện truyền đạt ở cấp độ căn bản nhất, để phát hiện ra một lối nhìn mới.

Sau sự nghiệp ngắn ngủi làm cầu thủ rugby, Tati bước vào khu vực sân khấu tạp kĩ của Pháp vào đầu thập niên 1930; lối diễn của ông là dùng kịch câm giễu nhại những ngôi sao thể thao thời đó. Một số buổi trình diễn của ông được quay lại thành những đoạn phim ngắn vào thập niên 1930 (và ông xuất hiện với vai diễn phụ trong hai phim của Claude Autant-Lara), nhưng ông không quay lại việc đạo diễn mãi đến khi kết thúc chiến tranh, với bộ phim ngắn năm 1947 L’Ecole des facteurs. Hai năm sau, phim ngắn đó được mở rộng thành phim truyện, Jour de fête. Ở đây Tati vào vai một anh bưu tá làng, người bị choáng trước những phương pháp “hiện đại, hiệu quả” mà anh ta thấy được trong một phim ngắn nói về hệ thống bưu điện tại Mĩ, và anh bưu tá này quyết định cải tiến quá trình hoạt động của mình để nó mượt mà hơn. Chủ đề châm biếm xuyên suốt toàn bộ tác phẩm của Tati – sự lạnh lùng của công nghệ hiện đại – đã vững chắc, mà quan trọng hơn là phong cách hình ảnh của ông cũng vậy. Nhiều cảnh hoạt kê trong Jour de fête phụ thuộc vào cách dùng những đường khung và những đối tượng tiền cảnh để làm mờ đi sự kiện hài hước – không đẩy cảnh hoạt kê đó tới bến, mà giấu nó đi và tinh lọc nó, để buộc người xem phải trực cảm, và đôi lúc phải sáng tạo, câu chuyện cười cho bản thân mình. Continue reading

Advertisements

[Từ điển triết học Cambridge] apeiron

Duy Đoàn chuyển ngữ

Apeiron, thuật ngữ Hi-lạp nghĩa là ‘cái vô hạn’ hoặc ‘cái bất tận’, sau tiến triển thêm để biểu thị ‘cái bất định’. Anaximandros trình làng thuật ngữ này cho triết học bằng cách nói rằng nguồn của vạn vật là apeiron. Có một mối bất đồng ý kiến về việc ông ta dùng thuật ngữ này ý chỉ cái vô tận về mặt không gian, vô tận về mặt thời gian, hay bất định lượng. Có vẻ ông ta có ý dùng thuật ngữ này để chuyển tải ý nghĩa đầu tiên, nhưng hai nghĩa còn lại cùng tình cờ áp dụng được vào cái vô tận về mặt không gian. Sau Anaximandros, Anaximenēs tuyên bố không khí vô hạn chính là nguyên lí đầu tiên của mình, và Xenophanēs làm cho mặt đất phẳng mở rộng xuống dưới không có ranh giới nào, và có thể hướng ra ngoài theo bề ngang cũng không có giới hạn nào. Parmenidēs lập luận rằng “cái-tồn-tại” phải được giữ bên trong những ranh giới xác định. Nhưng môn đệ của ông Melissos một lần nữa lập luận rằng cái-tồn-tại phải vô tận – về thời gian lẫn không gian – bởi vì nó có thể vô thuỷ vô chung. Một môn đệ khác của Parmenidēs, Zenon xứ Elea, lập luận rằng nếu có nhiều bản thể, thì các nghịch lí sẽ trỗi dậy, bao gồm những hệ quả rằng các bản thể vừa hữu hạn vừa vô hạn (apeira) về mặt con số, và chúng quá nhỏ đến mức không có được kích thước và quá lớn đến mức có kích thước vô hạn. Phản bác nhất nguyên luận, Anaxagóras lập luận ủng hộ lượng bất định các nguyên tố vốn có kích thước vô hạn ở mỗi nguyên tố, và Philolaos, triết gia theo phái Pythagoras, đã lập những cái hữu hạn (perainonta) và những cái vô hạn (apeira) là những nguyên lí từ đó vạn vật được cấu thành. Các nhà nguyên tử luận Leukippos và Dēmokritos hình dung về một vũ trụ vô tận, một phần đầy (một lượng vô hạn các nguyên tử) và một phần rỗng; và trong vũ trụ này có hằng hà sa số (apeiroi) các cõi sống. Cuối cùng Aristotelēs đi đến một nhận thức trừu tượng về apeiron như là ‘cái vô hạn’, ông tuyên bố giải quyết được những nghịch lí về cái vô tận bằng cách cấp phát những lượng thực sự có thể được phân chia vô hạn về mặt tiềm năng, nhưng không về mặt hiện thực (Physics III. 4-8). Sự phát triển khái niệm apeiron đã chứng tỏ làm thế nào mà các triết gia Hi-lạp mở rộng thành những ý niệm triết học trừu tượng hơn bao giờ hết từ những quan niệm tương đối cụ thể.  Continue reading

[Điểm phim] Le gamin au vélo (2011) của anh em nhà Dardenne

Le gamin au vélo (2011)

Nhan đề tiếng Anh: The Kid with a Bike

Đạo diễn: Jean-Pierre Dardenne, Luc Dardenne

IMDb: http://www.imdb.com/title/tt1827512

Rotten Tomatoes: http://www.rottentomatoes.com/m/the_kid_with_a_bike/

—–

“Chúng ta chắc chắn, rằng đồng cảm là một nguyên lí rất mạnh mẽ trong bản tính con người.”

– David Hume, A Treatise of Human Nature (Luận văn về bản tính con người)

Đây là phim đoạt được giải Grand Prix ở Liên hoan phim Cannes năm 2011. Với phim này, anh em nhà Dardenne đã góp vào thêm một bộ phim tuyệt vời nữa cho danh sách những phim Pháp ngữ về đề tài trẻ em, bên cạnh những tuyệt tác như Les quatre cents coups (1959) của François Truffaut , L’enfance nue (1968) của Maurice Pialat, Au revoir les enfants (1987) của Louis Malle, v.v..

Phim có cốt truyện đơn giản với lối dẫn chuyện cũng đơn giản không kém, nhưng đó là một phong cách đơn giản đến tuyệt vời của anh em nhà Dardenne. Nội dung phim dễ làm người xem liên tưởng ngay đến tuyệt tác Les quatre cents coups (1959) của François Truffaut: nhân vật chính là một cậu bé tầm 11-12 tuổi, cũng gặp rắc rối với gia đình mình, cũng bơ vơ lạc lõng để rồi tự mình dấn vào cuộc hành trình đi tìm nơi nương náu cho tâm hồn, rồi cũng phạm tội, v.v.. Không rõ anh em nhà Dardene có ý làm phim này để tỏ lòng tưởng nhớ đến Truffaut hay không mà có một sự nối kết thú vị giữa phần kết phim Les quatre cents coups với phần mở đầu ở phim Le gamin au vélo này: cậu bé trong Les quatre cents coups ở cuối phim bị đưa vào trại giáo dưỡng dành cho trẻ vị thành niên phạm tội, còn phim này mở màn bằng cảnh cậu bé Cyril đang cố trốn khỏi viện cô nhi.  Continue reading

David Foster Wallace – Đây là nước

 

David Foster Wallace

Đây là nước

Duy Đoàn trích chọn và chuyển ngữ

 

Có hai con cá con đang bơi cùng nhau, và chúng nó tình cờ gặp một con cá già hơn đang bơi theo hướng khác, con cá này gật đầu chào tụi nó và nói, “Chào buổi sáng các chàng trai, nước thế nào rồi?” Và hai chàng cá bơi tiếp một đoạn, sau đó rốt cuộc một con nhìn con kia rồi nói, “Nước là cái quái gì nhỉ?”

Nếu các bạn lo là tôi dự định tự trình hiện mình ra đây như một con cá già thông thái sắp giải thích nước là gì cho những con cá trẻ như các bạn, thì xin đừng lo. Tôi chẳng phải con cá già gì đâu. Cái ý của câu chuyện cá này đơn thuần là vầy, những thực tại hiển nhiên nhất, thường gặp nhất, quan trọng nhất lại thường là những cái khó thấy nhất và khó nói đến nhất. Khi phát biểu thành một câu tiếng Anh, tất nhiên đây chỉ là một lời vô vị tầm thường, nhưng sự thật là khi lối sống của người trưởng thành suốt ngày cứ lặn ngụp trong công việc thì những lời vô vị tầm thường có thể có tầm quan trọng sống-chết.

Phần lớn những thứ mà tôi thường tự động đoan chắc về nó, hoá ra hoàn toàn sai và ảo tưởng. Đây là một ví dụ về cái sai thậm tệ về một điều mà tôi thường tự động quả quyết chắc chắn: Mọi thứ theo kinh nghiệm trực tiếp của bản thân đều hậu thuẫn cho điều tôi tin tưởng trong lòng rằng tôi là cái rốn tuyệt đối của vũ trụ, là kẻ thực nhất, sống động và quan trọng nhất đang tồn tại. Chúng ta hiếm khi nói về kiểu tự đặt mình vào trung tâm một cách tự nhiên và căn bản thế này, bởi vì cả xã hội ghê tởm nó. Nhưng tất cả chúng ta hầu hết đều vậy. Nó là thiết lập mặc định (default-setting) của chúng ta, được gắn cứng vào bảng thần kinh của ta ngay từ mới sinh ra. Hãy nghĩ về điều đó: Không có trải nghiệm nào các bạn có mà các bạn không ở vào vị trí trung tâm tuyệt đối. Cõi sống như các bạn trải nghiệm nó nằm ngay đó trước mặt bạn, hoặc đằng sau bạn, bên trái hoặc bên phải bạn, trên TV của bạn, hoặc trên màn hình của bạn, hoặc bất kì thứ gì đi nữa. Những ý nghĩ và cảm giác của người khác bằng cách chi đó phải được truyền đạt tới bạn, nhưng cái của bạn thì ngay tức thì, rất khẩn cấp, rất thực. 

Xin đừng lo, tôi chẳng có giảng đạo cho các bạn nghe về lòng từ bi hoặc phải hướng đến kẻ khác hoặc về những cái gọi là đức tính đâu. Đây đâu phải vấn đề về đức tính. Nó là vấn đề về chuyện tôi chọn làm cái việc mà phần nào sẽ biến đổi hoặc sẽ giúp tôi thoát khỏi thiết lập mặc định tự nhiên dính cứng trong tôi, vốn sẽ đặt nặng cái tôi ở trung tâm đúng nghĩa của nó, và sẽ thấy và diễn giải mọi thứ thông qua thấu kính của cái tôi. Những ai có thể điều chỉnh cái thiết lập mặc định của mình theo cách này thường được xem là người “thích nghi tốt”, điều mà tôi đề nghị với các bạn đây không phải là một từ ngẫu nhiên đâu. Continue reading

Rocco Capozzi – Những tiếng nói mới trong nền văn học hiện đại Ý

Rocco Capozzi

Những tiếng nói mới trong nền văn học hiện đại Ý

Duy Đoàn chuyển ngữ

Ở Ý kể từ thập niên 1980 đã bắt đầu phổ biến hiện tượng văn chương đề cập đến khái niệm hậu hiện đại về chuyện làm lại hoặc trở lại những lối kể chuyện kinh điển. Ở đây chỉ nhắc đến một vài ví dụ, như Sogni di sogni của Tabucchi (Những giấc mơ của những giấc mơ, 1992) trình hiện một tác phẩm hư cấu siêu văn chương (metaliterary) mang chất khôi hài dựa trên những giấc mơ mà những người nổi tiếng có lẽ kinh qua, trong khi Itaca per semptre (Mãi mãi Itaca, 1998) của Luigi Malerba (1927-?), một câu chuyện kể lại tác phẩm Odyssey của Homer, cho người đọc thấy Penelope ở vai trò trung tâm cuốn tiểu thuyết khi cô nàng tranh chấp về mặt tâm lí với người chồng của mình. Nàng buộc Ulysses giải thích lí do tại sao chàng đi biền biệt suốt thời gian dài mới về nhà và tại sao nàng lại là người cuối cùng được cho biết nhân dạng đích thực của kẻ hành khất già đã hạ sát nhiều người theo đuổi nàng. Malerba đặt câu hỏi, liệu có phải Ulysses không tin cậy Penelope bằng con trai chàng và bà vú già của chàng? Liệu Ulysses giờ đây đã sẵn sàng rời quê hương một lần nữa, đi theo lời tiên tri vốn buộc anh phải sống một cuộc đời lang thang đây đó? Những đoạn đối thoại xúc cảm của Malerba và sự trao đổi qua lại được Malerba dàn dựng tuyệt đẹp giữa Penelope, Ulysses, và con trai họ Telemacus đã khiến Itaca per sempre thành một dạng văn học siêu hư cấu cực kì thú vị. Continue reading

Joyce Carol Oates tự phỏng vấn bản thân

Duy Đoàn chuyển ngữ

Được rồi, ta hãy đi thẳng đến vấn đề – người đọc của chúng ta, với sự tò mò ngày càng được khuấy động từ truyền thông xã hội, đang háo hức muốn biết: Điều gây lúng túng nhất xảy đến cho bà gần đây là gì?

Ý bà nói với tư cách một “nhà văn” – hay chỉ nói chung chung thôi?

Đừng có thận trọng thế chứ! Mối lưu tâm trong lòng bà, ít nhất cũng là mối lưu tâm tối thiểu, bắt nguồn từ chuyện bà là một “nhà văn”.

À – hôm bữa lúc tôi đi tới tiệm tạp hoá, ở gian hàng bơ sữa, có người phụ nữ nhìn tôi chằm chằm và hỏi với vẻ thăm dò, “Có phải cô là nhà văn nào đó không nhỉ?” Tôi khẽ lắc đầu ra ý bảo không phải, như thể tôi không nghe câu hỏi đó, và từ từ đi chỗ khác mà không ngoái nhìn lại…

Rồi sau đó?

Rồi sau đó có người biết tôi tiến lại nói thật lớn, “Chào Joyce!” – và người phụ nữ kia hẳn có nghe thấy…

Chuyện đó thật ngượng nhỉ! Việc bà phủ nhận chính cái tôi nhà văn của mình, và ngay khi vừa thốt ra thì có người tới làm lộ tẩy bà! Liệu đây có phải là một loại khiêm nhường lố bịch không?

Tôi không thể giải thích cho người phụ nữ kia rằng: “Tôi ngay bây giờ không phải ‘Joyce Carol Oates’, mà chỉ là người đi mua đồ ở tiệm tạp hoá thôi. Và gian bơ sữa này thật rét mướt.” Continue reading

[Điểm phim] Trafic (1971)

Trafic (1971)

Phim cuối cùng về nhân vật Hulot lừng danh của Jacques Tati, và cũng gần như được xem là phim cuối cùng trong sự nghiệp điện ảnh của ông (mặc dù năm 1974 ông còn làm 1 phim nữa, nhưng phim đó là dạng phim lẻ chiếu truyền hình nên gần như không tính vào).

Lần này Monsieur Hulot lao vào chuyến phiêu lưu khác, cũng trong cái cõi sống cơ giới đảo điên này, khi phải đem mẫu xe hơi mới nhứt của công ti sang dự triển lãm ôtô quốc tế tại Amsterdam. Chuyến đi nom có vẻ giản đơn nhưng Hulot và các cộng sự liên tục gặp phải bất trắc: nào hết xăng, nào xẹp lốp, rồi còn bị đụng xe. Và Monsieur Hulot rốt cuộc cũng vượt qua hết trở ngại để tới đích. Có vẻ Tati dùng chuyến hành trình dài này như để kết lại chuỗi câu chuyện về Monsieur Hulot, trong đó những đặc điểm điển hình của phong cách hài Tati gần như được điểm hết lại trong suốt chuyến đi. Continue reading

Scientific American Mind – Giúp trẻ yêu thích toán học

 

Giúp trẻ yêu thích toán học

Tác giả: John Mighton

Hình minh hoạ của Celia Johnson

Duy Đoàn chuyển ngữ

Với kế hoạch giảng dạy thích hợp, giáo viên có thể biến những em học sinh chật vật trở thành những nhà toán học tiềm năng. Bí mật ở đây là việc hướng dẫn kĩ lưỡng các em trong chuyến phiêu lưu vào thế giới những con số.

Tôi vẫn còn nhớ rõ cái ngày cách đây 14 năm, khi đó tôi gặp được một cô bé lớp sáu cao ráo và rất chi là nhút nhát tên là Lisa, cô bé ngồi ở bàn để chuẩn bị buổi học toán đầu tiên với tôi. Hiệu trưởng của Lisa đã khuyến nghị cô bé nên tham gia chương trinh phụ đạo miễn phí sau giờ học mà tôi đã khởi xướng ở căn hộ của mình cùng với mấy người bạn nữa. Mặc dù tôi đã yêu cầu vị hiệu trưởng kiếm giúp mình những em học sinh đang chật vật với môn toán, nhưng tôi thật sự chưa sẵn sàng để gặp Lisa.

Tôi đã lên kế hoạch tăng cường sự tự tin ở Lisa bằng cách dạy cô bé phép cộng các phân số. Theo kinh nghiệm làm gia sư trước đây, tôi biết trẻ con thường hình thành những nỗi âu lo về môn toán khi lần đầu tiên tiếp cận các phân số. Bởi vì bài học của tôi liên quan đến phép tính nhân, nên tôi hỏi Lisa liệu em ấy có gặp vấn đề gì trong việc ghi nhớ bất kì bảng cửu chương nào hay không, nhưng cô bé cứ ngây ra nhìn tôi chằm chằm. Cô bé không biết phép nhân nghĩa là gì. Ngay cả khái niệm đếm cách quãng hơn một cũng là điều lạ lẫm đối với em. Em ấy sợ hãi khi tôi đặt câu hỏi và lúc tôi đế cập đến những khái niệm đơn giản nhất thì em ấy cứ luôn miệng bảo, “Em không hiểu.”

Tôi không biết phải làm gì với Lisa, thế là tôi quyết định thử xem liệu cô bé có học được cách đếm cách quãng hai con số hay không để cuối cùng cô bé có thể làm được phép nhân hai. Để làm dịu nỗi sợ của cô bé, tôi bảo rằng tôi chăc chắn em ấy đủ thông minh để học phép nhân. Tôi sợ có thể mình đưa ra lời khen giả tạo, nhưng lời khuyến khích của tôi dường như giúp em ấy tập trung được, và em ấy tiến bộ nhiều hơn tôi mong đợi. Continue reading

Scientific American Mind – Nghiên cứu khoa học về sự viết tay

 

Nghiên cứu khoa học về sự viết tay

Tác giả: Brandon Keim

Hình minh hoạ của Celia Johnson

Duy Đoàn chuyển ngữ

Tôi đang viết bài báo này bằng kiểu táo bạo, thử nghiệm ngược ngạo, dùng một kĩ thuật hiếm khi được thấy trong giới xuất bản hiện đại: viết tay, dùng bút và giấy, những dụng cụ xuất xứ từ cây cối này vốn chỉ được coi là những vật lạ kì mang tính lịch sử trong mắt giới mê công nghệ, giống như mấy tấm bản đất sét hay máy đánh chữ Remington.

Tại sao tôi lại làm điều như vậy trong thời đại bấm phím này? Một phần tôi làm vậy vì viết tay đang trở thành một hoạt động bên lề, ở ngoài xã hội và trong đời tôi. Chúng ta gõ chữ nhiều hơn bao giờ hết, và không phải điều gì bất thường khi ta gặp những người hoàn toàn ngưng dùng tay để viết, chữ viết của họ khô quắt như những chi cụt còn để lại vết tích.

Tôi luôn có cảm giác rằng suy nghĩ của tôi sẽ khác – cân nhắc hơn, phong phú hơn – khi thông qua bàn tay thay vì cỗ máy. Mấy người tôi gặp thường kể những câu chuyện giống vậy. Họ vẫn dùng bàn phím để chuyển tải phần lớn chữ nghĩa, nhưng vẫn dùng tay lập danh sách, ghi chú, phác thảo các đoạn văn hay sắp xếp ý nghĩa. Họ cũng cảm thấy viết tay liên quan đến trí óc theo một cách khác.

Chỉ cảm giác thôi chắc chắn thiếu tính khoa học. Nó có thể là ảo tưởng hoặc bị nhiều nhân tố làm xáo trộn, chẳng hạn khó khăn khi kiểm tra e-mail trên giấy, vốn không có liên quan gì đến những thuộc tính tri nhận của viết tay. Các nhà hoài nghi có thể khẳng định rằng trẻ em thời hiện đại, khi trải nghiệm bàn phím và màn hình, sẽ vận dụng được các thiết bị đó để có được kết quả tương đương. Chừng nào mà ta còn viết, thì chuyện đó ảnh hưởng ra sao có quan trọng gì?

Minh triết theo truyền thống cũng theo hướng vậy. Mọi cuộc chuyển dời công nghệ quan trọng ngàn năm có một đều gây ra mối bận tâm đau đầu: chúng ta lo lắng về chứng nghiện Internet, tình bạn trở nên tầm thường hơn do các phương tiện truyền thông xã hội, máy đọc sách điện tử thay thế sách giấy, màn hình điện tử sẽ biến bọn trẻ thành những kẻ nghiện ngập thế giới mô phỏng. Tuy vậy ngoại trừ cuốn The Missing Ink đáng yêu của Philip Hensher có đi dò xét phần lịch sử văn hoá của lối viết tay, thì chuyện kĩ thuật này mất dần, trọng tâm cho sự trỗi dậy của nền văn minh, phần lớn không được người đời lưu ý đến. Continue reading

Scientific American Mind – Đánh giá các phương pháp học tập

Scientific American Mind

Đánh giá các phương pháp học tập

Các tác giả: John Dunlosky, Katherine A. Rawson, Elizabeth J. Marsh, Mitchell J. Nathan & Daniel T. Willingham

Hình minh hoạ của Celia Johnson

Duy Đoàn chuyển ngữ

Nhìn chung giáo dục thường tập trung vào nội dung học tập, chẳng hạn đại số, các nguyên tố trong bảng tuần hoàn hay cách chia động từ. Nhưng tìm hiểu cách học cũng là điều quan trọng không kém, đi kèm nhiều lợi ích lâu dài. Điều đó có thể dạy bạn cách thu thập kiến thức nhanh và hiệu quả hơn cũng như cho phép bạn giữ được thông tin suốt nhiều năm thay vì trong nhiều ngày.

Hơn 100 năm nay, những nhà tâm lí học tri nhận và giáo dục đã phát triển và đánh giá vô số kĩ thuật, từ việc đọc lại tài liệu cho đến tóm tắt lại để tự kiểm tra bản thân. Một số chiến lược phổ biến rõ ràng có cải thiện thành tích của học viên, trong khi số khác lại tốn thời gian và không hiệu quả. Tuy vậy những thông tin này thường không được đưa vào áp dụng ở lớp học. Các giáo viên ngày nay không được cho biết những kĩ thuật học tập nào được các chứng cứ thực nghiệm hậu thuẫn, còn học viên thì không được dạy cách dùng những kĩ thuật đó sao cho hiệu quả. Thực tế, hai cách trợ giúp học tập mà các học viên đang dựa vào nhiều nhất lại không hiệu quả. Một trong hai cách này thậm chí còn làm suy giảm thành tích học tập.

Một nguyên do tiềm tàng chính là việc có quá nhiều nghiên cứu khiến chúng ta choáng ngợp, làm cho các nhà giáo dục và các học viên khó xác định những phương cách học tập thực tiễn và ích lợi nhất. Để đáp ứng thách thức này, chúng tôi điểm lại hơn 700 bài báo khoa học bàn về 10 kĩ thuật học tập thường được sử dụng nhất. Chúng tôi tập trung vào những chiến lược trông có vẻ dễ sử dụng và đạt mức hiệu quả rộng khắp. Chúng tôi cũng có cái nhìn sát sao hơn về một số phương pháp các học viên thường dùng.

Để được chúng tôi đưa ra giới thiệu ở đây, kĩ thuật đó phải hữu ích ở nhiều hoàn cảnh học tập khác nhau, chẳng hạn lúc học viên học một mình hay học chung nhóm. Nó phải trợ giúp học viên ở nhiều lứa tuổi khác nhau, có những năng lực khác nhau và những cấp độ hiểu biết ban đầu khác nhau – và nó phải được kiểm tra trong lớp học hoặc trong tình huống ngoài thế giới thực. Các học viên có thể dùng phương pháp đó để tinh thông nhiều môn khác nhau, và việc học tập của họ phải được hưởng lợi từ phương pháp đó bất kể trải qua loại hình kiểm tra gì. Những cách tiếp cận tốt nhất cũng phải dẫn đến những cải thiện dài lâu về mặt kiến thức và khả năng lĩnh hội.

Bằng cách dùng những tiêu chuẩn này, chúng tôi định ra hai phương pháp tối ưu rõ ràng. Chúng tạo ra những kết quả vững chắc, ổn định và thích hợp cho nhiều tình huống. Chúng tôi cũng đưa ra ba phương pháp khác để dự phòng những tình huống khác, và năm phương pháp – trong đó có hai cách trợ giúp học tập phổ biến – không được chúng tôi khuyến nghị, vì chúng chỉ hữu ích trong một số hoàn cảnh hạn chế nhất định hoặc vì chưa đủ chứng cứ để có thể đánh giá chúng cao hơn. Chúng tôi khuyến khích các nhà nghiên cứu khảo sát sâu thêm một số kĩ thuật chưa được kiểm nghiệm, nhưng học viên và giáo viên nên cẩn trọng khi dựa vào những kĩ thuật đó.

Những kĩ thuật vàng

1. Tự kiểm tra (self-testing)

Ra bài kiểm tra chính bản thân mình sẽ giúp đạt điểm cao  Continue reading