Umberto Eco – Những người lãng quên lịch sử

 

Umberto Eco

Những người lãng quên lịch sử

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Alastair McEwen

 

Đó là sự thật hiển nhiên khi cho rằng người trẻ thiếu mất kiến thức lịch sử tổng quát. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi, đối với nhiều người trẻ thì quá khứ đã dần trải ra thành một quầng tinh vân to lớn. Đó là lí do tại sao, trong một bức thư công khai được công bố trên tờ tạp chí Ý L’Espresso, gần đây tôi khuyên đứa cháu trai đang độ tuổi thiếu niên hãy luyện tập trí nhớ của nó bằng cách học thuộc lòng những bài thơ dài.

Tôi sợ rằng những thế hệ trẻ ngày nay đang có nguy cơ đánh mất đi sức mạnh của kí ức cá nhân lẫn kí ức tập thể. Những cuộc khảo sát đã hé lộ cho biết những loại quan niệm sai lầm cứ tồn tại dai dẳng trong đầu những người trẻ được cho là có học thức: chẳng hạn, tôi đọc được rằng nhiều sinh viên đại học Ý tin rằng Aldo Moro là lãnh đạo của tổ chức quân sự Lữ đoàn Đỏ (Brigate Rosse), trong khi thực tế ông ấy là thủ tướng Ý và Lữ đoàn Đỏ chịu trách nhiệm cho cái chết ông ấy vào năm 1978. Continue reading

Anatole Broyard – Chuyện cho mượn sách

 

Anatole Broyard

Chuyện cho mượn sách

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Kì nghỉ hè là khoảng thời gian dành cho đọc sách, và bạn bè thường gặp tôi hỏi mượn sách bởi vì tôi có nhiều sách hơn đa số mọi người. Trong tâm trí ngây thơ của mình thì họ không biết được tôi sẽ trải qua những gì khi cho mượn một quyển sách. Họ không hiểu rằng tôi nghĩ mình như đang dâng cho họ tình yêu, chân lí, cái đẹp, minh triết, và niềm an ủi chống lại cái chết. Họ cũng không hồ nghi rằng cảm giác của tôi khi cho mượn sách cũng giống như cảm giác của những ông bố khi để con gái họ sống chung với một gã nào đó mà chẳng cưới xin gì cả.

Nói vậy không có nghĩa là ta không có niềm vui thích nào khi cho mượn sách. Mỗi người đều mang trong người một chút chất truyền giáo, khi cuốn sách làm tôi xúc động thì tôi muốn nhét nó vào túi áo từng người. Nếu cuốn sách như vậy được nhiều người tìm đọc thì thế giới này hẳn sẽ trở thành nơi tốt đẹp và đáng yêu hơn. Nhưng người ta lại không hỏi mượn mấy cuốn sách dạng này. Liệu có bao nhiêu người bạn từng hỏi mượn cuốn The Collected Poems of Elizabeth Bishop (Tuyển tập thơ của Elizabeth Bishop), hay cuốn The Waning of the Middle Ages (Sự suy yếu của thời trung đại) của Johan Huizinga?

Một động cơ ít cao quý hơn khi cho mượn sách chính là đơn giản tò mò muốn xem chuyện gì sẽ xảy ra, tựa như đứa trẻ tò mò muốn biết điều gì xảy ra khi cho mấy món đồ chơi đụng nhau. Ấn một quyển sách đầy uy lực vào tay ai đó cũng giống như cho một vị khách trong bữa tối thưởng thức một thứ rượu mạnh có thể làm cho họ cư xử hoặc ngu ngơ hoặc rất chi là hoan hỉ.  Một số độc giả thậm chí “ngất đi” sau khi hấp thụ một quyển sách như vậy: họ gạt bỏ cái trải nghiệm đó bởi vì họ không thể xử lí nổi nó. Continue reading

Hope Reese – Tại sao học triết? ‘Để thách thức quan điểm của bạn’

 

Hope Reese

Tại sao học triết? ‘Để thách thức quan điểm của bạn’

Phỏng vấn Rebecca Newberger Goldstein, tác giả cuốn Plato at the Googleplex: Why Philosophy Won’t Go Away

Duy Đoàn chuyển ngữ

Vào thời điểm mà những tiến bộ trong khoa học và công nghệ đã làm thay đổi nhận thức của chúng ta về bản thân con người mình xét về mặt tinh thần lẫn thế chất, thì thật dễ dàng gạt bỏ lĩnh vực triết học và cho nó là thứ quá xưa cũ. Stephen Hawking còn cả tiếng bảo rằng triết học đã chết.

Nhưng Rebecca Newberger Goldstein không cho là vậy. Goldstein, một triết gia và tiểu thuyết gia, học triết học tại trường Barnard và sau đó lấy bằng Ph.D về triết ở trường Princeton University. Bà đã viết nhiều cuốn sách, đoạt được giải MacArthur “Genius Award” vào năm 1996, và đi dạy ở nhiều trường đại học, trong đó có Barnard, Columbia, Rutgers, và Brandeis.

Cuốn sách mới vừa ra mắt của bà, Plato at the Googleplex: Why Philosophy Won’t Go Away, cung cấp cho người đọc cái nhìn sâu vào bên trong tiến trình đầy ý nghĩa – và thường vô hình – mà triết học đã tạo nên. Tôi nói chuyện với Goldstein về ý kiến của bà trong cuộc tranh luận khoa học với triết học, làm thế nào chúng ta có thể đo lường được những tiến bộ của triết học, và tại sao sự hiểu biết về triết học vẫn là điều quan trọng đối với cuộc sống chúng ta ngày nay.

Hồi còn nhỏ, bà đã bắt gặp cuốn The Story of Philosophy của Will Durant. Thế những suy nghĩ ban đầu khi đó của bà là gì?

Tôi lớn lên ở một hộ gia đình Do-thái giáo Chính thống (Orthodox Jewish) rất sùng đạo và dường như mọi người đều có quan điểm vững chắc về hết thảy những loại vấn đề lớn lao. Tôi hứng thú với chuyện làm thế nào họ biết những điều mà dường như họ có biết, hoặc họ khẳng định có biết. Đó là cái mà giờ tôi gọi là vấn đề nhận thức luận (epistemology). Tôi được phép đọc rất nhiều loại sách, và tôi chọn lấy cuốn The Story of Philosophy. Khi ấy hẳn là tôi được 11 hay 12 tuổi. Và chương về Platon… đó là trải nghiệm đầu tiên của tôi về một dạng cảm giác đê mê mang tính trí tuệ. Tôi bị lôi hẳn ra bên ngoài bản thân mình. Có nhiều thứ khi đó tôi không hiểu, nhưng có điều gì đó trừu tượng và vĩnh hằng nằm bên dưới tất thảy những hiện tượng luôn biến đổi của cõi sống này. Ông ta dùng từ “ảo ảnh” (phantasmagoria), vốn là một trong những từ tôi phải tra từ điển, và có thể đó là một trong rất ít lần tôi tiếp cận từ đó. Tôi có thể chẳng hiểu gì về những điều mình đang đọc, nhưng tôi lại bị hút vào cuốn đó. Continue reading

Izzy Kalman – Ý nghĩa đích thực của quy tắc vàng: yêu kẻ thù của bạn

Quy tắc vàng: Nó là quy tắc đạo đức hoàn thiện, cơ bản được khuyến khích bởi tất cả các tôn giáo và hệ đạo đức. Ngày nay, nhiều tổ chức chống-bắt nạt đang chào đón Quy tắc Vàng như là giải pháp cho sự bắt nạt. Tuy nhiên, tôi sẽ giải thích, rất ít người thực sự hiểu được nó đang dạy chúng ta điều gì.

Trong khi thuật ngữ Quy tắc Vàng được đặt ra chỉ cách đây vài trăm năm, thì quy tắc này đã được nhận ra từ hàng ngàn năm. Công thức quen thuộc nhất của nó là: Yêu tha nhân/hàng xóm như bản thân bạn; Hãy đối xử với người khác như bạn muốn họ đối xử với bạn; Điều bạn không thích thì đừng làm nó cho người khác.

Cách đây 2400 năm Aristotle đưa ra một bằng chứng hợp lý là cách tốt nhất để sống cuộc sống của chúng ta là Quy tắc Vàng. Ông giải thích rằng nếu mọi người sống theo Quy tắc Vàng, thì chúng ta sẽ không cần đến chính phủ – chúng ta sẽ sống hòa thuận mà không cần đến bất kì nhà cầm quyền nào (theo tác giả Mortimer Adler trong cuốn sách Aristotle for Everyone). Continue reading

10 bộ phim tuyệt vời dựa trên những cuốn sách kinh điển dành cho trẻ em

Tác giả: Samuel Wigley

Một quyển sách hay đọc lúc giờ đi ngủ sẽ là thứ khơi gợi nên trí tưởng tượng ở trẻ nhỏ, nhưng tái dựng sự huyền ảo đó lên màn ảnh quả là bài toán không dễ chút nào. Sau đây là 10 bộ phim tuyệt vời có thể làm được chuyện đó.

The Wizard of Oz (1939)

Đạo diễn: Victor Fleming

The Wizard of Oz

Dorothy sống ở giữa những vùng thảo nguyên rộng lớn của Kansas với chú Henry, một người nông dân, và thím Em, vợ của người nông dân đó. Căn nhà thì nhỏ, bởi vì người ta phải dùng xe ngựa chở gỗ từ nhiều dặm đường đến để xây căn nhà đó.

The Wonderful Wizard of Oz của L. Frank Baum (1900)

The Wonderful Wizard of Oz

Cuốn tiểu thuyết The Wonderful Wizard of Oz mở đầu khiêm nhường như thế. Đây là câu chuyện về một cô bé buồn chán ở một vùng nông trại, và trong một cơn gió xoáy cô bé này được đưa tới vùng đất Oz huyền ảo. Những phiên bản sân khấu và phiên bản điện ảnh thuở ban đầu của tác phẩm này bắt đầu xuất hiện ngay sau khi cuốn sách được xuất bản, và Sam Raimi là đạo diễn gần nhất chuyển thể câu chuyện này, với bộ phim Oz the Great and Powerful (2013).

Nhưng phiên bản âm nhạc năm 1939 của MGM mới là phiên bản đáng nói nhất, gần như che phủ tác phẩm văn học gốc bằng cách dùng những kĩ thuật quay phim màu Technicolor tuyệt vời khi thể hiện những chi tiết như Con đường Gạch Vàng, Thành phố Ngọc lục bảo, mụ Phù thuỷ Xấu xa Tây phương, và những người bạn đồng hành thân thiện của Dorothy như tay Bù nhìn, Người Thiếc và Sư tử Nhút nhát. Diễn viên Judy Garland đã hớp hồn cả thế giới khi vào vai cô bé Dorothy mặc áo bông kẻ ô và mơ tới một nơi huyền ảo xa xăm nào đó. Continue reading

Etgar Keret – Chất keo điên rồ

 

Etgar Keret

Chất keo điên rồ

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Cô ta bảo, “Đừng có đụng vào đó,” và tôi hỏi, “Cái gì thế?”

“Keo dán đấy,” cô nàng nói. “Thứ keo đặc biệt. Loại siêu hạng.”

“Em mua nó làm gì vậy?”

“Bởi vì em cần nó,” cô nói. “Nhiều thứ xung quanh đây đang cần dán lại.”

“Chẳng có thứ gì ở đây cần dán lại hết,” tôi nói. “Anh ước gì mình hiểu được nguyên do tại sao em mua mấy thứ này.”

“Cùng một nguyên do tại sao em cưới anh thôi,” cô ta đáp trả lại. “Để giết thời gian.”

Tôi không muốn cãi nhau, thế là tôi giữ im lặng, và cô ta cũng vậy.

“Nó có tốt không, cái keo dán đó?” tôi hỏi. Cô ta đưa tôi thấy tấm hình trên hộp keo, trong đó có anh chàng kia đang treo chúc đầu xuống từ cái trần nhà sau khi ai đó phết keo lên hai đế giày của anh ta..

“Chẳng có keo nào có thể thật sự làm con người ta dính chặt như vậy,” tôi nói. “Họ chỉ chụp tấm hình lộn ngược lại thôi. Anh ta đứng trên sàn nhà. Họ chỉ đặt cái bộ đèn trên sàn nhà để làm nó giống trần nhà thôi. Em có thể biết ngay nếu nhìn cái cửa sổ. Họ đặt cái móc rèm hướng ra sau. Nhìn xem.” Tôi chỉ tay vào cái cửa sổ trong bức hình. Cô ấy không nhìn. “Tám giờ rồi,” tôi nói. “Anh phải chạy đi thôi.” Tôi cầm cái cặp lên và hôn lên má cô ấy. “Anh sẽ về trễ. Anh phải làm việc…”

“Em biết,” cô nói. “Anh tùm lum việc mà.”

Continue reading

Biểu tượng của chim cu gáy

Một biểu tượng của lòng trung thành và của  tình thân ái giữa người với người (8). Nó được tìm thấy trong nhiều phúng dụ và thi thoảng bị lầm với chim bồ câu.

Trịnh Ngọc Thìn dịch

18/3/2014

Chú thích của tác giả:

(8): B. G. P. Diccionario universal de la mitología. Barcelona, 1835

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Turtle Dove ” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

10 điều bất thường thú vị về trí nhớ mà mọi người nên biết

Nhiều người nói rằng họ có trí nhớ kém, nhưng phần lớn là sai. Cách hoạt động của trí nhớ có thể gây bất ngờ, gây thất vọng, kỳ lạ – nhưng không hẳn là ‘kém’.Đối với đa số chúng ta thì vấn đề không nằm ở trí nhớ của chúng ta, mà nằm ở sự hiểu biết của chúng ta về cách hoạt động của trí nhớ.

Sau đây là 10 điều bất thường thú vị của trí nhớ đem lại một sự hiểu biết tốt hơn về thứ làm chúng ta nhớ – hoặc quên.

[Image: leaking_head2.jpg]

1.Bối cảnh là vua

Thứ chúng ta có thể ghi nhớ phụ thuộc một phần vào tình huống và trạng thái tinh thần của chúng ta vào thời điểm đó. Đó là vì trí nhớ của chúng ta làm việc bằng cách liên tưởng.

Bản thân bối cảnh có thể chỉ về mọi kiểu sự việc: một số sự việc thì dễ dàng hơn để ghi nhớ ở một địa điểm nào đó, những sự việc khác thì dễ nhớ hơn khi chúng ta trải nghiệm về những mùi cụ thể, hoặc khi chúng ta đang có những trạng thái cảm xúc đặc biệt.

Một nghiên cứu chứng minh điều này bằng cách yêu cầu những người lặn biển học danh sách các từ hoặc là dưới nước 15ft hoặc học trên cạn (Godden & Baddeley, 1975).

Hóa ra khi họ học các từ dưới nước, họ đã nhớ được 32% số từ khi được kiểm tra dưới nước, nhưng chỉ nhớ được 21% khi được kiểm tra trên cạn.

Tất nhiên trí nhớ của chúng ta phức tạp hơn nhiều so với danh sách các từ. Nhưng nghiên cứu khẳng định rằng đối với trí nhớ thì bối cảnh rất quan trọng. Continue reading

Peter Gray – Thiếu thốn việc chơi đùa

 

Peter Gray

Thiếu thốn việc chơi đùa

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Lời người dịch: Đây là bài viết của nhà tâm lí học Peter Gray, bàn về chuyện chơi đùa của trẻ con và tầm quan trọng của nó.

The play deficit

 

Hồi thập niên 1950, lúc tôi còn bé, mấy đứa trẻ tụi tôi có hai môi trường giáo dục. Chúng tôi có trường học (vốn chẳng phải là thứ to tát giống như ngày nay), và chúng tôi còn có cái mà tôi gọi là “nền giáo dục săn bắt – hái lượm”. Gần như ngày nào sau giờ học, chúng tôi cũng chơi cùng với những đám trẻ đủ mọi lứa tuổi, thường là chơi đến lúc tối mịt. Chúng tôi chơi suốt những ngày cuối tuần và suốt cả mùa hè dài đằng đẵng. Chúng tôi có thời giờ khám phá đủ kiểu, và cũng có thời giờ để cảm thấy chán chường và tìm cách hết chán, có thời giờ để gặp đủ mọi rắc rối và tìm cách thoát khỏi chúng, có thời giờ để mộng mơ, có thời giờ để lao vào chìm đắm trong đủ mọi thú vui, và có cả thời giờ đọc truyện tranh hay đọc bất kì thứ nào tuỳ ý thay vì chỉ đọc sách ở trường. Những gì tôi học được ở nền giáo dục săn bắt – hái lượm rất quý giá đối với cuộc sống trưởng thành của mình, hơn hẳn những gì tôi học được ở trường lớp, và tôi nghĩ những người cùng lứa tuổi với tôi hẳn cũng nghĩ giống thế nếu họ có thời giờ suy nghĩ về điều này.

Hơn 50 năm trôi qua, nước Mĩ hiện nay đang dần dần giảm đi các cơ hội chơi đùa của bọn trẻ, và chuyện tương tự cũng xảy ra ở nhiều nước khác. Trong cuốn sách Children at Play: An American History (2007), Howard Chudacoff cho rằng nửa đầu thế kỉ 20 là ‘thời kì hoàng kim’ đối với việc tự do chơi đùa của bọn trẻ. Vào khoảng năm 1900, nhu cầu lao động trẻ em đã giảm xuống, do vậy trẻ em lúc này có nhiều thời giờ rảnh. Nhưng sau đó, từ khoảng năm 1960 hoặc trước đó một chút, người lớn bắt đầu xén bớt sự tự do ấy bằng cách tăng giờ học hành của bọn trẻ, và thậm chí còn làm giảm việc tự do chơi đùa một mình của trẻ, thậm chí khi chúng hết giờ học và không phải làm bài tập.  Những môn thể thao do người lớn điều khiển bắt đầu thay thế những trò trẻ con; những lớp học ngoại khoá do người lớn chủ trì bắt đầu thay thế những thú vui con trẻ; và những nỗi sợ hãi của các bậc cha mẹ khiến họ thậm chí còn cấm con mình ra ngoài chơi với những đứa trẻ khác, cấm tụi nhỏ đi xa khỏi nhà mà không ai giám sát. Có nhiều lí do cho những đổi thay này nhưng cái tác động đó, qua nhiều thập niên, đã liên tục làm suy giảm một cách đáng kể những cơ hội chơi đùa của bọn trẻ và những cơ hội khám phá theo cách riêng của chúng. Continue reading

Susan Sontag – Một bức thư gửi Borges

Susan Sontag

Một bức thư gửi Borges

Duy Đoàn chuyển ngữ

13/6/1996, New York

Borges thân mến,

Bởi vì văn tài của ông luôn được đặt bên dưới cung vĩnh hằng, nên dường như không quá kì quặc khi thảo một bức thư gửi cho ông. (Borges, mười năm rồi đó!) Nếu có một nhân vật đương thời nào dường như được số mệnh an bài là bất tử trong văn chương, thì đó là ông. Ông quả thật là một sản phẩm của thời đại ông, của văn hoá ông, và tuy vậy ông biết cách vượt thoát thời đại ông, văn hoá ông, theo những phương cách dường như rất đỗi huyền ảo. Điều này liên quan đến sự cởi mở và rộng lượng ở sự chú tâm ông có được. Ông là nhà văn ít hướng về mình nhất, minh bạch nhất trong số các nhà văn, cũng như là nhà văn tinh vi nhất. Điều này cũng liên quan đến tính thuần khiết tự nhiên của tinh thần. Mặc dù ông đã sống giữa chúng tôi suốt một thời gian tương đối dài, nhưng ông đã hoàn thiện những cách thực hành về độ tinh tế và về độ phân li, những điều làm ông trở thành một lữ khách lão luyện trong tâm tưởng đến những thời đại khác nữa. Ông có cảm nhận về thời gian khác với những người khác. Những ý tưởng bình thường về quá khứ, hiện tại, và tương lai dường như tầm thường dưới cái nhìn của ông. Ông thích nói rằng mỗi khoảnh khắc thời gian đều chứa đựng quá khứ lẫn tương lai, trích (theo như tôi nhớ) lời thi sĩ Browning, người từng viết đại loại như “hiện tại là cái chốc lát mà ở đó tương lai tan vụn ra thành quá khứ.” Tất nhiên đó là một phần của lòng khiêm tốn nơi ông: sở thích tìm kiếm ý tưởng của mình trong những ý tưởng của các cây bút khác. Continue reading