Lawrence T. White – Nhật Bản là thiên đường của người mất đồ

Những người quan sát am hiểu nhiều thì nhất trí rằng: nếu bạn mất ví tiền, máy ảnh, điện thoại hoặc bất kì thứ gì khác giá trị, bạn có nhiều khả năng tìm được vật đó ở Tokyo hơn là ở New York.

Ví dụ, năm 1995, tỷ lệ tìm lại được những đồ vật bị mất ở Grand Central Terminal ở thành phố New York là khoảng 20%. Ở Shinjuku Station, Tokyo, những chủ sở hữu tìm được đồ bị mất của họ là khoảng 80%.

Năm 2003, giáo sư luật Mark West ở đại học Michigan tiến hành một thực nghiệm để xác minh ấn tượng rằng người Nhật có nhiều khả năng trả lại những món đồ bị mất hơn người Mĩ. Ông bỏ 100 cái điện thoại di động và 20 cái ví tiền ở 2 địa điểm khác nhau – Manhattan (New York) và Shinjuku (Tokyo). Mỗi cái ví có 20 đôla.

West khám phá ra người New York trả lại 77 cái điện thoại và 8 ví tiền (trong đó 2 ví không còn tiền). Ở Tokyo, họ trả lại 95 cái điện thoại và 17 ví tiền. Điều thú vị là, ở Tokyo, gần như tất cả số điện thoại và ví tiền được trả lại đều được đem đến một đồn cảnh sát được gọi là koban phân bố ở khắp thành phố. Ở New York, rất ít đồ vật bị mất được đem đến đồn cảnh sát; những người trả lại có thể liên lạc trực tiếp với chủ sở hữu hoặc để lại món đồ ở một cửa hàng gần đó.

Làm thế nào chúng ta có thể giải thích về tỷ lệ trả đồ cao ở Nhật? Một số người quan sát nói rằng người Nhật có thể trung thực và tốt bụng hơn. Những người khác thì cho rằng bản chất theo chủ nghĩa tập thể của xã hội Nhật chuyển thành một sự quan tâm đến những người khác. Tuy nhiên, những tuyên bố đó không được ủng hộ bởi bằng chứng theo kinh nghiệm.

Cuối những năm 1990, nhà xã hội học Toshio Yamagishi khảo sát hơn 1,400 người ở Nhật và Mĩ. Ông hỏi họ nhất trí hay không nhất trí với những câu như “Tôi không muốn bất lương trong bất kì tình huống nào” và phát hiện thấy người Mĩ, không phải người Nhật, có nhiều khả năng miêu tả về bản thân họ là trung thực và quan tâm đến sự công bằng.

Trong nghiên cứu khác, các nhà nghiên cứu người Nhật đã kiểm tra sự trung thực của trẻ em Mĩ và Nhật độ tuổi từ 3-6. Nhà nghiên cứu giấu một món đồ chơi và bảo đứa trẻ không được lén nhìn. Đa số trẻ em đã lén nhìn và sau đó nói dối về việc lén nhìn. Điều này đúng với mọi đứa trẻ, bất kể sắc tộc của chúng.

Vì vậy, có ít lý do để tin rằng người Nhật thường xuyên trả lại đồ bị mất hơn vì họ trung thực hơn người Mĩ. Thay vào đó, giáo sư West cho rằng hệ thống mất-và-tìm ở Nhật đơn giản là hoạt động hiệu quả hơn ở Mĩ.

Để ủng hộ lập luận của mình, ông đã phỏng vấn nhiều người ở Nhật và Mĩ. Đa số người Nhật biết rằng một ai đó giữ lại tài sản bị mất thì sẽ bị phạt hoặc bỏ tù, và họ biết rằng những người trả lại đồ có quyền hợp pháp nhận được một phần thưởng (thường là 10% giá trị của món đồ bị mất). Họ cũng biết rằng những món đồ bị mất có thể được đem đến một koban. Ngược lại, người Mĩ nhìn chung là không biết các luật địa phương liên quan đến tài sản bị mất.

Sự khác biệt giữa hệ thống mất-và-tìm ở Tokyo và New York đã minh hoạ cho một sự thật về tâm lý học xã hội: Những yếu tố dự báo mạnh mẽ nhất về hành vi con người có thể tìm thấy ở những đặc điểm của hoàn cảnh, chứ không phải ở những đặc điểm của con người. Trong trường hợp này, người Nhật có tỷ lệ trả lại đồ bị mất cao hơn không phải vì họ trung thực hoặc tốt bụng hơn người Mĩ. Họ có tỷ lệ trả đồ cao hơn vì (a) Người Nhật biết luật pháp, (b) dễ dàng để trả lại một món đồ bị mất ở một koban gần đó (c) dễ dàng tìm được món đồ bị mất ở koban, và (d) những người trả lại đồ biết họ sẽ nhận được một phần thưởng tài chính khi chủ sở hữu nhận lại đồ bị mất của họ.

 

Thanh Hằng dịch

Source:

West, M. D. (2005). Law in Everyday Japan: Sex, Sumo, Suicide, and Statutes. Chicago: University of Chicago Press.

Nguồn
http://www.psychologytoday.com/blog/culture-conscious/201405/japan-is-loser-s-paradise

Advertisements

[National Geographic] Việc trồng trọt tác động đến tư duy con người

Tác giả: Ed Yong

Duy Đoàn chuyển ngữ

What you farm affects your thinking

Ảnh: Jim Richardson, National Geographic Creative

 

Lúa gạo và lúa mì không chỉ làm lương thực cho nhân loại. Chúng còn tác động đến cách họ tư duy – theo rất nhiều cách khác nhau.

Đây là kết quả một nghiên cứu được công bố vào ngày 9/5/2014 trên tập sang Science, trong đó họ so sánh những người đến từ những vùng khác nhau của Trung-quốc. Các nhà nghiên cứu, dẫn đầu là Thomas Talhelm thuộc trường University of Virginia (Charlottesville, Mĩ), đã phát hiện rằng những người đến từ những vùng trồng lúa gạo có lối tư duy tương thuộc nhau nhiều hơn và hướng đến tổng thể hơn so với những người đến từ những khu vực trồng lúa mì.

Talhelm cho rằng những khác biệt này nảy sinh bởi vì người ta cần hợp tác nhiều hơn và nỗ lực chung nhiều hơn trong việc trồng lúa gạo so với việc trồng lúa mì. Để gieo trồng và gặt hái lúa được thành công, các nông dân phải làm việc cùng nhau nhằm tạo dựng nên những hệ thống tưới tiêu phức tạp và thiết lập những trao đổi lao động với nhau. Qua thời gian, nhu cầu làm việc nhóm này đã nuôi dưỡng tâm lí tương thuộc và hướng đến tập thể. Tuy nhiên, lúa mì lại có thể phát triển độc lập, thế nên những nông dân lúa mì trở thành những người cá nhân chủ nghĩa hơn. Continue reading

Jennifer Kunst – Làm thế nào để thuần hoá sự ganh tỵ của bạn


Nhà phân tâm học Melanie Klein từng có một mối quan hệ đặc biệt với con quái vật mắt xanh, sự ganh tỵ. Bà dành rất nhiều thời gian để lắng nghe mọi người ở mọi lứa tuổi. Bà nghe từ họ những kinh nghiệm phổ biến về sự ganh tỵ trong cuộc sống hằng ngày.

Sự ghen tỵ gây đau khổ vì 2 nguyên nhân chính – một là chúng ta có thể đều ý thức được mình đang ghen tỵ, và hai là sự ghen tỵ nằm trong vô thức, chúng ta ít nhận ra được. Trải nghiệm có ý thức về sự ghen tỵ là khao khát mãnh liệt muốn có thứ mà người khác có. Nó là nỗi mong muốn nhức nhối, sự khao khát đau khổ, nỗi thèm muốn đến phát điên khi thấy người khác có thứ đó, tận hưởng thứ đó, thậm chí khoe khoang thứ đó. Sắc đẹp, tiền bạc, của cải vật chất, quyền lực – chúng ta ngưỡng mộ chúng và muốn có chúng.

Một cách có ý thức, điều rất đau khổ về khía cạnh này của sự ghen tỵ là nó dựa trên một cảm giác bị tước đoạt. Chúng ta cảm thấy nhỏ bé. Chúng ta cảm thấy không đủ đầy. Chúng ta cảm thấy nghèo. Chúng ta cảm thấy có một điều gì đó sai trái với chúng ta. Chúng ta thậm chí cảm thấy một thứ gì đó đau đớn sâu sắc hơn nhiều: chúng ta có thể cảm thấy mình như kẻ thất bại. Continue reading

Dino Buzzati – Con gián nọ

 

Dino Buzzati

Con gián nọ

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Rebecca Heath

 

Về nhà trễ, tôi giẫm phải một con gián ngoài hành lang khi nó đang chạy lỉnh đi giữa hai chân tôi (nó vẫn còn ở đó, đen xịt nổi lên trên gạch sàn nhà) và sau đó tôi vào nhà tắm. Cô nàng đang ngủ. Tôi nằm xuống kế nàng, tắt đèn và nhìn qua cửa sổ mở tôi thấy bầu trời và một khúc bờ tường. Trời thật nóng, tôi không ngủ được, những sự kiện từ quá khứ quay trở lại ám ảnh tôi, những mối nghi ngờ cũng thế, một sự ngờ vực chung chung nào đó cho ngày hôm sau. Cô nàng khẽ rên rỉ.

“Chuyện gì vậy?”, tôi hỏi.

Nàng mở to mắt với ánh nhìn hững hờ rồi làu bàu, “Em sợ.”

“Sợ gì vậy?”, tôi hỏi.

“Sợ chết? Và tại sao chứ?”

Nàng nói, “Em mơ thấy…” Nàng rúc người sát vào chút nữa.

“Mà em mơ thấy gì vậy?”

“Em mơ thấy em đang ở một vùng quê, em đang ngồi ở bờ sông và em nghe tiếng la hét từ đằng xa… và em sắp chết.”

“Ở bờ sông ư?”

“Đúng vậy,” nàng nói, “em nghe tiếng bọn ếch… chúng đang nhảy rột rột.”

“Lúc đó là thời điểm nào?”

“Vào buổi chiều và em nghe thấy tiếng la hét.”

“Thôi, ngủ đi em, gần hai giờ rồi.”

“Hai giờ ư?” Nhưng cô nàng đã quay trở lại giấc ngủ. Continue reading

Umberto Eco – Trang Web vẫn cứ ở đây

 

Umberto Eco

Trang Web vẫn cứ ở đây

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Alastair McEwen

 

Cách đây không lâu tôi có công bố một bức thư ngỏ gửi đến cháu trai của tôi, khuyến khích nó phát triển trí nhớ của mình bằng cách (trong số nhiều cách khác) kháng cự lại niềm thôi thúc lấy mọi thông tin từ Internet. Đổi lại, cộng đồng mạng cáo buộc tôi vào tội chống Internet. Nhưng điều đó cũng giống giống việc bảo rằng nếu ai đó chỉ trích những người chạy quá nhanh trên quốc lộ hoặc lái xe trong lúc say xỉn thì đó là người chống lại xe hơi.

Trái lại, khi đáp lại bài báo gần đây của tôi về các thí sinh trẻ tham dự cuộc thi đố, những người đã để lộ ra sự ngu dốt của thế hệ mình bằng cách đoán Hitler và Mussolini vẫn còn sống vào thập niên 1960 và 1970, thì kí giả Ý Eugenio Scalfari đã chỉ trích tôi (một cách đằm thắm) trên tờ tạp chí L’Espresso về cái sự thừa mứa đối nghịch lại, bảo rằng tôi tin cậy quá nhiều vào Internet ở vai trò một nguồn thông tin.

Scalfari, sáng lập viên tờ báo La Repubblica, để ý thấy rằng Web, với những tác động đồng nhất đối với những kí ức tập thể nhân tạo của nó, gần như không cho người trẻ chút động lực nào để rèn luyện trí nhớ của bản thân. Sau rốt, tại sao lại bận tâm việc ghi nhớ một sự kiện khi mà lúc nào nó cũng có sẵn đó chỉ với một cú nhấp chuột? Scalfari còn nhận xét rằng mặc dù việc dùng Internet mang lại cho ta cảm giác nối kết mình với phần còn lại thế giới, nhưng kì cùng nó lại là một bản án cô độc mà ta tự áp đặt. Continue reading

Umberto Eco – Những người lãng quên lịch sử

 

Umberto Eco

Những người lãng quên lịch sử

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Alastair McEwen

 

Đó là sự thật hiển nhiên khi cho rằng người trẻ thiếu mất kiến thức lịch sử tổng quát. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi, đối với nhiều người trẻ thì quá khứ đã dần trải ra thành một quầng tinh vân to lớn. Đó là lí do tại sao, trong một bức thư công khai được công bố trên tờ tạp chí Ý L’Espresso, gần đây tôi khuyên đứa cháu trai đang độ tuổi thiếu niên hãy luyện tập trí nhớ của nó bằng cách học thuộc lòng những bài thơ dài.

Tôi sợ rằng những thế hệ trẻ ngày nay đang có nguy cơ đánh mất đi sức mạnh của kí ức cá nhân lẫn kí ức tập thể. Những cuộc khảo sát đã hé lộ cho biết những loại quan niệm sai lầm cứ tồn tại dai dẳng trong đầu những người trẻ được cho là có học thức: chẳng hạn, tôi đọc được rằng nhiều sinh viên đại học Ý tin rằng Aldo Moro là lãnh đạo của tổ chức quân sự Lữ đoàn Đỏ (Brigate Rosse), trong khi thực tế ông ấy là thủ tướng Ý và Lữ đoàn Đỏ chịu trách nhiệm cho cái chết ông ấy vào năm 1978. Continue reading

Anatole Broyard – Chuyện cho mượn sách

 

Anatole Broyard

Chuyện cho mượn sách

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Kì nghỉ hè là khoảng thời gian dành cho đọc sách, và bạn bè thường gặp tôi hỏi mượn sách bởi vì tôi có nhiều sách hơn đa số mọi người. Trong tâm trí ngây thơ của mình thì họ không biết được tôi sẽ trải qua những gì khi cho mượn một quyển sách. Họ không hiểu rằng tôi nghĩ mình như đang dâng cho họ tình yêu, chân lí, cái đẹp, minh triết, và niềm an ủi chống lại cái chết. Họ cũng không hồ nghi rằng cảm giác của tôi khi cho mượn sách cũng giống như cảm giác của những ông bố khi để con gái họ sống chung với một gã nào đó mà chẳng cưới xin gì cả.

Nói vậy không có nghĩa là ta không có niềm vui thích nào khi cho mượn sách. Mỗi người đều mang trong người một chút chất truyền giáo, khi cuốn sách làm tôi xúc động thì tôi muốn nhét nó vào túi áo từng người. Nếu cuốn sách như vậy được nhiều người tìm đọc thì thế giới này hẳn sẽ trở thành nơi tốt đẹp và đáng yêu hơn. Nhưng người ta lại không hỏi mượn mấy cuốn sách dạng này. Liệu có bao nhiêu người bạn từng hỏi mượn cuốn The Collected Poems of Elizabeth Bishop (Tuyển tập thơ của Elizabeth Bishop), hay cuốn The Waning of the Middle Ages (Sự suy yếu của thời trung đại) của Johan Huizinga?

Một động cơ ít cao quý hơn khi cho mượn sách chính là đơn giản tò mò muốn xem chuyện gì sẽ xảy ra, tựa như đứa trẻ tò mò muốn biết điều gì xảy ra khi cho mấy món đồ chơi đụng nhau. Ấn một quyển sách đầy uy lực vào tay ai đó cũng giống như cho một vị khách trong bữa tối thưởng thức một thứ rượu mạnh có thể làm cho họ cư xử hoặc ngu ngơ hoặc rất chi là hoan hỉ.  Một số độc giả thậm chí “ngất đi” sau khi hấp thụ một quyển sách như vậy: họ gạt bỏ cái trải nghiệm đó bởi vì họ không thể xử lí nổi nó. Continue reading

Hope Reese – Tại sao học triết? ‘Để thách thức quan điểm của bạn’

 

Hope Reese

Tại sao học triết? ‘Để thách thức quan điểm của bạn’

Phỏng vấn Rebecca Newberger Goldstein, tác giả cuốn Plato at the Googleplex: Why Philosophy Won’t Go Away

Duy Đoàn chuyển ngữ

Vào thời điểm mà những tiến bộ trong khoa học và công nghệ đã làm thay đổi nhận thức của chúng ta về bản thân con người mình xét về mặt tinh thần lẫn thế chất, thì thật dễ dàng gạt bỏ lĩnh vực triết học và cho nó là thứ quá xưa cũ. Stephen Hawking còn cả tiếng bảo rằng triết học đã chết.

Nhưng Rebecca Newberger Goldstein không cho là vậy. Goldstein, một triết gia và tiểu thuyết gia, học triết học tại trường Barnard và sau đó lấy bằng Ph.D về triết ở trường Princeton University. Bà đã viết nhiều cuốn sách, đoạt được giải MacArthur “Genius Award” vào năm 1996, và đi dạy ở nhiều trường đại học, trong đó có Barnard, Columbia, Rutgers, và Brandeis.

Cuốn sách mới vừa ra mắt của bà, Plato at the Googleplex: Why Philosophy Won’t Go Away, cung cấp cho người đọc cái nhìn sâu vào bên trong tiến trình đầy ý nghĩa – và thường vô hình – mà triết học đã tạo nên. Tôi nói chuyện với Goldstein về ý kiến của bà trong cuộc tranh luận khoa học với triết học, làm thế nào chúng ta có thể đo lường được những tiến bộ của triết học, và tại sao sự hiểu biết về triết học vẫn là điều quan trọng đối với cuộc sống chúng ta ngày nay.

Hồi còn nhỏ, bà đã bắt gặp cuốn The Story of Philosophy của Will Durant. Thế những suy nghĩ ban đầu khi đó của bà là gì?

Tôi lớn lên ở một hộ gia đình Do-thái giáo Chính thống (Orthodox Jewish) rất sùng đạo và dường như mọi người đều có quan điểm vững chắc về hết thảy những loại vấn đề lớn lao. Tôi hứng thú với chuyện làm thế nào họ biết những điều mà dường như họ có biết, hoặc họ khẳng định có biết. Đó là cái mà giờ tôi gọi là vấn đề nhận thức luận (epistemology). Tôi được phép đọc rất nhiều loại sách, và tôi chọn lấy cuốn The Story of Philosophy. Khi ấy hẳn là tôi được 11 hay 12 tuổi. Và chương về Platon… đó là trải nghiệm đầu tiên của tôi về một dạng cảm giác đê mê mang tính trí tuệ. Tôi bị lôi hẳn ra bên ngoài bản thân mình. Có nhiều thứ khi đó tôi không hiểu, nhưng có điều gì đó trừu tượng và vĩnh hằng nằm bên dưới tất thảy những hiện tượng luôn biến đổi của cõi sống này. Ông ta dùng từ “ảo ảnh” (phantasmagoria), vốn là một trong những từ tôi phải tra từ điển, và có thể đó là một trong rất ít lần tôi tiếp cận từ đó. Tôi có thể chẳng hiểu gì về những điều mình đang đọc, nhưng tôi lại bị hút vào cuốn đó. Continue reading

Izzy Kalman – Ý nghĩa đích thực của quy tắc vàng: yêu kẻ thù của bạn

Quy tắc vàng: Nó là quy tắc đạo đức hoàn thiện, cơ bản được khuyến khích bởi tất cả các tôn giáo và hệ đạo đức. Ngày nay, nhiều tổ chức chống-bắt nạt đang chào đón Quy tắc Vàng như là giải pháp cho sự bắt nạt. Tuy nhiên, tôi sẽ giải thích, rất ít người thực sự hiểu được nó đang dạy chúng ta điều gì.

Trong khi thuật ngữ Quy tắc Vàng được đặt ra chỉ cách đây vài trăm năm, thì quy tắc này đã được nhận ra từ hàng ngàn năm. Công thức quen thuộc nhất của nó là: Yêu tha nhân/hàng xóm như bản thân bạn; Hãy đối xử với người khác như bạn muốn họ đối xử với bạn; Điều bạn không thích thì đừng làm nó cho người khác.

Cách đây 2400 năm Aristotle đưa ra một bằng chứng hợp lý là cách tốt nhất để sống cuộc sống của chúng ta là Quy tắc Vàng. Ông giải thích rằng nếu mọi người sống theo Quy tắc Vàng, thì chúng ta sẽ không cần đến chính phủ – chúng ta sẽ sống hòa thuận mà không cần đến bất kì nhà cầm quyền nào (theo tác giả Mortimer Adler trong cuốn sách Aristotle for Everyone). Continue reading

10 bộ phim tuyệt vời dựa trên những cuốn sách kinh điển dành cho trẻ em

Tác giả: Samuel Wigley

Một quyển sách hay đọc lúc giờ đi ngủ sẽ là thứ khơi gợi nên trí tưởng tượng ở trẻ nhỏ, nhưng tái dựng sự huyền ảo đó lên màn ảnh quả là bài toán không dễ chút nào. Sau đây là 10 bộ phim tuyệt vời có thể làm được chuyện đó.

The Wizard of Oz (1939)

Đạo diễn: Victor Fleming

The Wizard of Oz

Dorothy sống ở giữa những vùng thảo nguyên rộng lớn của Kansas với chú Henry, một người nông dân, và thím Em, vợ của người nông dân đó. Căn nhà thì nhỏ, bởi vì người ta phải dùng xe ngựa chở gỗ từ nhiều dặm đường đến để xây căn nhà đó.

The Wonderful Wizard of Oz của L. Frank Baum (1900)

The Wonderful Wizard of Oz

Cuốn tiểu thuyết The Wonderful Wizard of Oz mở đầu khiêm nhường như thế. Đây là câu chuyện về một cô bé buồn chán ở một vùng nông trại, và trong một cơn gió xoáy cô bé này được đưa tới vùng đất Oz huyền ảo. Những phiên bản sân khấu và phiên bản điện ảnh thuở ban đầu của tác phẩm này bắt đầu xuất hiện ngay sau khi cuốn sách được xuất bản, và Sam Raimi là đạo diễn gần nhất chuyển thể câu chuyện này, với bộ phim Oz the Great and Powerful (2013).

Nhưng phiên bản âm nhạc năm 1939 của MGM mới là phiên bản đáng nói nhất, gần như che phủ tác phẩm văn học gốc bằng cách dùng những kĩ thuật quay phim màu Technicolor tuyệt vời khi thể hiện những chi tiết như Con đường Gạch Vàng, Thành phố Ngọc lục bảo, mụ Phù thuỷ Xấu xa Tây phương, và những người bạn đồng hành thân thiện của Dorothy như tay Bù nhìn, Người Thiếc và Sư tử Nhút nhát. Diễn viên Judy Garland đã hớp hồn cả thế giới khi vào vai cô bé Dorothy mặc áo bông kẻ ô và mơ tới một nơi huyền ảo xa xăm nào đó. Continue reading