Roger Ebert – Về bộ phim Tōkyō Monogatari (1953) của Ozu Yasujirō

Tokyo Story

Gần như không có cốt truyện nào có thể đơn giản hơn. Một cặp vợ chồng già lên thành phố thăm con cháu. Những đứa con đều bận rộn, và cặp vợ chồng già làm đảo lộn sinh hoạt hằng ngày của họ. Theo một cách lặng lẽ mà không ai kịp nhận ra, chuyến đi trở nên tồi tệ. Cặp vợ chồng trở về quê. Vài ngày sau, bà mẹ chết. Lúc này đến lượt những người con phải lên đường.

Từ những yếu tố ít ỏi như vậy, Ozu Yasujirō đã làm nên một trong những bộ phim vĩ đại nhất mọi thời đại. “Câu chuyện Tokyo” (1953) không có những giật gân và cảm xúc được sắp đặt; nó lờ đi những khoảnh khắc mà một bộ phim kém cạnh hơn sẽ khai thác. Nó không cố gắng trói buộc những xúc cảm của chúng ta mà muốn chia sẻ sự đồng cảm của mình. Bộ phim làm điều này tuyệt đến nỗi tôi gần như rơi nước mắt trong khoảng 30 phút cuối phim. Nó làm điện ảnh trở nên cao quý. Nó muốn nói rằng một bộ phim có thể đưa chúng ta tiến thêm một bước chống lại những khiếm khuyết của bản thân.

Bộ phim làm được điều này với những nhân vật quen thuộc đến nỗi chúng ta có thể nhận ra họ ngay lập tức — đôi khi là ở ngay trong gương. Bộ phim được làm khoảng 50 năm trước ở Nhật, bởi một người đàn ông được sinh ra 100 năm trước, và nó nói về gia đình của chúng ta, bản tính của chúng ta, những khiếm khuyết và sự vụng về của ta trong cuộc kiếm tìm tình yêu và ý nghĩa. Không phải cuộc sống làm cho chúng ta bận rộn đối với gia đình. Chính chúng ta đã sắp xếp chúng như vậy để phòng cho chúng ta không phải đối mặt với những câu hỏi lớn về tình yêu, sự nghiệp và cái chết. Chúng ta trốn vào những thứ hiển nhiên, những câu chuyện vụn vặt và những thứ phiền toái. Khi có cơ hội sum họp gia đình để chia sẻ những mong muốn và điều lo âu, chúng ta lại nói về thời tiết và xem TV. Continue reading

Advertisements

Clarice Lispector – Một trăm năm cho sự tha thứ

 

Clarice Lispector

Một trăm năm cho sự tha thứ

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Rachel Klein

Ai chưa từng ăn trộm sẽ không hiểu được tôi. Và ai chưa từng ăn trộm hoa hồng sẽ không bao giờ có thể hiểu được tôi. Khi tôi còn nhỏ, tôi đã ăn trộm hoa hồng.

Ở Recife đường sá nhiều vô kể. Những con đường của giới giàu sang có mấy toà lâu đài nho nhỏ xếp thành hàng, cái nào cái nấy đều ngự ở giữa những khu vườn rộng lớn. Cô bạn tôi và tôi thích chơi trò đoán xem toà lâu đài nho nhỏ này thuộc về ai. “Cái trắng này của tớ.” “Không, tớ đã bảo cậu rồi, những cái màu trắng của tớ hết.” “Nhưng cái này có trắng hoàn toàn đâu. Nó có mấy cửa sổ màu xanh lục mà.”Có những ngày bọn tôi đứng rất lâu tựa mặt vào hàng rào, nhìn vào trong.

Đó là cách câu chuyện bắt đầu. Ngày nọ, trong khi chơi trò “căn nhà này của tớ”, bọn tôi dừng lại trước một căn nhà trông như toà thành nhỏ. Ở sau lưng căn nhà, bọn tôi có thể thấy một khu vườn cây ăn quả rộng mênh mông, và trước căn nhà là những luống đất được chăm sóc kĩ càng, ở đó người ta trồng hoa.

Bỗng, trong chính luống hoa đó bật lên một đoá hồng nửa mở nửa khép với sắc hồng thẫm. Tôi ngẩn người ra, nhìn chằm chằm một cách thích thú vào đoá hồng cao ngạo này, vốn chưa trở thành đàn bà. Và rồi xảy thế này: từ sâu thẳm trong tim, tôi muốn đoá hồng này dành cho chính mình. Tôi muốn nó, a, tôi muốn nó ghê lắm. Và không có cách chi lấy được nó cả. Nếu người làm vườn có ở đó, tôi ắt hẳn sẽ hỏi xin đoá hồng kia, dù lúc nào cũng biết rằng ông ấy sẽ xua bọn tôi đi chỗ khác như cách người ta xua đi lũ trẻ phá phách vậy. Không thấy người làm vườn nào, không một bóng người. Và do có ánh mặt trời nên người ta đóng hết cửa sổ lại. Đây là con đường không có xe điện đi ngang qua và hiếm khi thấy có chiếc xe hơi nào. Giữa sự lặng yên nơi tôi và sự lặng yên nơi đoá hồng, có một niềm khát khao sở hữu nó – một thứ chỉ thuộc về tôi mà thôi. Tôi muốn mình có thể tóm lấy nó. Tôi muốn ngửi nó cho đến khi ngất đi, cho đến khi mắt mờ đi bởi choáng ngợp trước mùi hương này.  Continue reading

Larry Rohter – George Orwell: Cuộc đời qua những bức thư

 

Larry Rohter

George Orwell: Cuộc đời qua những bức thư

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

George Orwell đã có một cuộc đời tuy ngắn ngủi nhưng vô cùng năng động, ông làm rất nhiều việc, từ sĩ quan cảnh sát tại Miến-điện, làm rửa chén tại Pháp, sống lang thang tại Anh, tham gia chiến đấu tại Tây-ban-nha, phóng viên chiến trường ở Đức và làm nông tại Hebrides. Giống như nhiều người ở thời đại mình – ông sinh năm 1903 và mất năm 1950 – ông viết thư rất nhiều, và đặc biệt những bức thư của ông có khả năng thu hút và sâu sắc, một phần nhờ vào vốn sống dồi dào mà ông có được từ cuộc đời mình.

“George Orwell: A Life in Letters” (George Orwell: Cuộc đời trong những bức thư) là một tuyển tập được chọn lựa kĩ càng những bản văn thường ngày đáng lưu ý nhất của ông, được viết trong giai đoạn 20 năm từ thời Đại Suy thoái đến Thế chiến II. Peter Davison là người tuyển lựa và chú giải những bức thư này, đồng thời cũng là chủ biên cho bộ “Toàn tập các tác phẩm” của George Orwell gồm 20 quyển, và ở đây ông đã chắt lọc lại những gì tinh tuý của Orwell, với tư cách một nhà tư tưởng, để thành một cuốn sách có định dạng và kích cỡ vừa phải.

Những bức thư này xuất hiện một năm sau ấn bản những nhật kí của Orwell vốn tập trung vào các chi tiết cụ thể mà thường là dư thừa về đời sống thường nhật của ông, trong đó nêu cả số lượng trứng do gà nhà ông đẻ ra. Cuốn sách này cũng có chút giống vậy, nhưng thường được dùng làm nền để Orwell trình bày chi tiết những chủ đề nặng kí hơn, thường là bằng những thuật ngữ vẫn còn vang vọng tới ngày nay. Continue reading

Clarice Lispector – Câu chuyện thứ năm

 

Clarice Lispector

Câu chuyện thứ năm

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Eloah F. Giacomelli

Câu chuyện này có lẽ có nhan đề là “Những bức tượng”. Một nhan đề khả dĩ khác có lẽ là “Chuyện giết chóc”. Hay thậm chí là “Cách giết bọn gián”. Do đó tôi sẽ kể ít nhất là ba câu chuyện, toàn bộ đều chân thật bởi vì các câu chuyện không bác bỏ lẫn nhau. Mặc dù chỉ có một câu chuyện duy nhất, nhưng chúng có thể là một ngàn lẻ một câu chuyện, nếu tôi có được một ngàn lẻ một đêm.

Câu chuyện đầu tiên, “Cách giết bọn gián”, bắt đầu thế này: Tôi than phiền về chuyện có gián. Có bà kia nghe được lời than phiền ấy. Bà ta đưa tôi công thức tiêu diệt chúng. Tôi phải trộn một hỗn hợp gồm đường, bột mì, và thạch cao với tỉ lệ bằng nhau. Bột mì và đường sẽ dụ chúng, còn thạch cao sẽ làm bộ đồ lòng của chúng khô cứng lại. Tôi làm theo chỉ dẫn. Chúng chết queo. Continue reading

[Điểm phim] Barbara (2012) của Christian Petzold

 

Barbara (2012)

Sau hơn 20 năm kể từ ngày bức tường Berlin sụp đổ, thì đề tài Đông-Tây nước Đức có vẻ vẫn còn đó rất nhiều điều để các nhà làm phim khai thác. Barbara là một phim với đề tài như thế, nói về một nước Đức xưa cũ của Christian Petzold, một nhà làm phim thuộc hàng tài danh nhất của nước Đức hiện thời. Phim Barbara này đã mang lại cho Petzold giải thưởng Gấu Bạc ở hạng mục đạo diễn xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Berlin năm 2012. Ngoài ra phim còn đoạt giải Bester Spielfilm tại Deutscher Filmpreis (German Film Awards), giải thưởng điện ảnh cao quý nhất của nước Đức.

Bộ phim xoay quanh một nữ bác sĩ cùng tên với nhan đề phim, xảy ra tại một vùng hẻo lánh nào đó ở Đông Đức vào những năm cuối thập niên 1980. Ngày ngày cô đạp xe đi làm ở một bệnh viện nhỏ tại địa phương, nơi cô buộc phải công tác như một hình phạt cho việc dám nộp đơn xin visa xuất ngoại. Ở thị trấn này, cô bị giám sát chặt chẽ, cùng với những đợt soát nhà bất chợt để ngăn ngừa cô có những món đồ không hợp ý chính thể. Continue reading

Phỏng vấn Orhan Pamuk trên tờ New Republic

Pankaj Mishra thực hiện

Orhan Pamuk bàn về vụ Quảng trường Taksim, những tác động của phim truyền hình, và lí do tại sao tương lai tiểu thuyết nằm ở phương Đông.

Duy Đoàn chuyển ngữ

Hồi cuối tháng Năm [2013], xảy ra vụ phản đối ôn hoà chống lại kế hoạch phá huỷ một công viên ở Quảng trường Taksim tại Istanbul, và nó bùng phát trở thành những cuộc biểu tình chống lại vị thủ tướng ngày càng độc tài của Thổ-nhĩ-kì, ông Recep Tayyip Erdoğan. Khi tôi tới Istanbul vào buổi chiều cuối tháng Sáu thì những người chống đối đã bắt đầu rút về. Nhưng các lực lượng an ninh đã trở nên tàn bạo hơn; tôi có thể ngửi thấy mùi hơi cay chiều hôm đó khi cảnh sát đuổi theo những người chống đối sang những con phố nhỏ. Rồi chiều hôm sau tôi rời khỏi Istanbul đầy náo loạn, đi bằng phà tới một hòn đảo nơi không cho phép dùng xe hơi, rồi leo lên xe ngựa từ bến phà để đến căn hộ ven biển của Orhan Pamuk, đó là một chuyến đi chậm rãi sang một cõi sống khác – một nơi điền viên tĩnh mịch mùa hè của giới tư sản Istanbul mà giờ đây phần lớn bị bỏ hoang.

Pamuk dường như tràn đầy sinh lực ở quang cảnh biển cả nơi có những chiếc du thuyền bạc màu và những bến tàu mục nát. Vốn là một tay bơi cừ khôi, ông đắm mình trong làn nước dập dềnh của Biển Marmara trước và sau giờ làm việc mỗi ngày. Vào bữa ăn tối, ông thả bộ đến một trong những nhà hàng nằm kế cạnh bến phà, một sự tự do ấp ủ lâu nay sau những lời doạ giết nhận được hồi năm 2005 từ những kẻ thế tục dân tộc chủ nghĩa thích dùng nắm đấm vốn khinh bỉ những ám chỉ rõ ràng của Pamuk về những hành động tàn ác chống lại các sắc tộc thiểu số. Continue reading

J. E. Cirlot – Tính biểu tượng của Janus

J. E. Cirlot

Tính biểu tượng của Janus

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Jack Sage

Janus là một vị thần La-mã với hình tượng hai gương mặt được nối với nhau dọc theo đường thẳng từ tai đến hàm, và hai gương mặt này nhìn về hai hướng đối nghịch nhau. Như tất thảy các biểu tượng khác đồng thời hướng về bên phải và bên trái, thì Janus là biểu tượng của cái toàn thể – của lòng ham muốn làm chủ vạn vật. Bởi có tính nhị nguyên, nên nó có thể được xem như biểu đạt cho tất cả mọi cặp đối lập – tức là, tương đương với thần thoại Song-tử (Gemini). Dường như về mặt căn bản thì người La-mã liên hệ Janus với số mệnh, thời gian và chiến tranh. Hai gương mặt xoay về phía quá khứ và tương lai, biểu thị sự nhận thức về lịch sử và sự tiên tri (chim ưng hai đầu cũng có sự tạo nghĩa tương tự). Nhưng theo như Guénon đã có lí khi chỉ ra rằng thực tế hai đầu là trở ngại đối với sự hiểu biết về vận mệnh đích thực, vốn nằm trong ‘hiện tại vĩnh hằng’ (25). Điều này cắt nghĩa tại sao nhiều người (chẳng hạn những người ở vùng Bắc Âu) đã sáng chế ra những biểu tượng tương tự nhưng với ba đầu được sắp theo dạng tam giác xoay vòng, theo kiểu mẫu của Janus, nhưng với cái đầu thứ ba hướng về phía trước. Thần Hekate tam hình thức cũng được biểu tượng theo cách này (59). Janus còn biểu trưng cho sự hợp nhất giữa những quyền năng của linh mục và quốc vương (28). Marius Schneider đề xuất rằng Janus cũng có thể được đồng nhất với vùng đồi núi Mars có hai đỉnh và, hệ quả là, với toàn bộ biểu tượng về sự Nghịch đảo và hi sinh lẫn nhau. Continue reading

João Guimarães Rosa – Bờ thứ ba của dòng sông

João Guimarães Rosa

Bờ thứ ba của dòng sông

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Barbara Shelby

Cha tôi là người có ý thức trách nhiệm, nề nếp và bộc trực. Và theo như lời mấy người đáng tin cậy mà tôi dò hỏi được, thì ông có những phẩm chất này từ hồi mới lớn hoặc ngay từ lúc bé thơ. Theo kí ức chính tôi, ông không vui nhộn hơn cũng chẳng sầu muộn hơn những người quen khác. Có lẽ có chút trầm lặng hơn. Chính mẹ tôi, chứ không phải cha, mới là người cai quản ngôi nhà. Bà la mắng chúng tôi hàng ngày – chị tôi, anh tôi, và tôi. Nhưng ngày nọ cha tôi bỗng đặt hàng một chiếc thuyền.

Ông rất nghiêm túc về con thuyền. Nó được làm đặc biệt dành cho ông, bằng gỗ cây trinh nữ. Nó đủ cứng cáp để trụ suốt hai mươi hay ba mươi năm và kích cỡ vùa đủ cho một người. Mẹ tôi càu nhàu vụ này dữ lắm. Phải chăng chồng bà bất thần sẽ đi đánh cá? Hay đi săn? Cha không nói gì hết. Nhà chúng tôi cách con sông chưa đầy một dặm, xung quanh đó thật bí ẩn, tĩnh mịch, và quá rộng đến mức chúng tôi không thể nhìn sang bờ bên kia.

Tôi không thể quên cái ngày người ta giao đến chiếc thuyền có mái chèo kia. Cha tôi không biểu lộ vui mừng hay cảm xúc nào khác. Ông chỉ đội nón như vẫn thường lệ và chào tạm biệt chúng tôi. Ông không mang theo thức ăn mà cũng chẳng gói ghém thứ gì. Chúng tôi tưởng mẹ sẽ chửi rủa om sòm, nhưng bà không nói gì. Bà trông nhợt nhạt và tự cắn môi mình, nhưng tất cả những gì bà nói là:

“Nếu ông đi, thì đi luôn đi. Đừng bao giờ quay về!”  Continue reading

Timothy Shary – Lịch sử phát triển phim thiếu nhi

Timothy Shary

Phim thiếu nhi

Duy Đoàn chuyển ngữ

Phim thiếu nhi có thể được chia thành hai hạng mục: những phim đặc biệt dành cho trẻ em, và những phim làm về trẻ em dành cho bất kì đối tượng khán giả nào. Sự phân biệt này rất quan trọng, khi mà nhiều phim nổi tiếng có những diễn viên trẻ em, như The Exorcist (1973) và The Sixth Sense (1999) rõ ràng không có ý dành cho trẻ em. Tuy vậy chính trong những phim như thế nền công nghiệp điện ảnh đã đại diện trẻ em, phản ánh những quan niệm của xã hội về tuổi thơ. Thường thì ngay cái định nghĩa về tuổi thơ cũng tuỳ thuộc vào phim, thay đổi từ thế hệ này sang thế hệ kế tiếp và trong những bối cảnh khác nhau.

Phim dành cho trẻ em trước Disney

Những rạp chiếu phim của nền công nghiệp điện ảnh thời kì đầu thường trưng ra những bộ phim hấp dẫn mọi lứa tuổi và mọi người dân thay vì dành đặc biệt cho trẻ em. Những người gác-dan luân lí ở đầu thập niên 1900 lo lắng về việc trẻ em tự mình đi xem phim bởi vì điều đó có thể sẽ khích lệ bọn trẻ cúp học hoặc trở nên quen thuộc với những nhân vật ương ngạnh ở trong phim lẫn trong rạp chiếu phim. Mặc dù trẻ em có xuất hiện trong nhiều bộ phim thuộc kỉ nguyên ban đầu của điện ảnh, nhưng vai trò của chúng gần như chỉ là những nhân vật phụ kèm theo những hoạt động của người lớn, chẳng hạn như nhân vật cô bé giải thoát người cha trong phim The Great Train Robbery (1903) hoặc nhiều nhân vật trẻ em là nạn nhân của những vụ bắt cóc trong những bộ phim như The Adventures of Dollie (D. W. Griffith, 1908).

Tuy vậy, theo nghiên cứu của Richard deCordova, đến thập niên 1910 thì Hollywood thực sự đã quan tâm đến đối tượng khán giả là trẻ em. Đến năm 1913, những buổi chiếu phim ban chiều cho trẻ em trở nên phổ biến ở nhiều rạp chiếu bóng, và những tổ chức như National Board of Review’s Committee on Films for Young People không chỉ xúc tiến các buổi chiếu phim như thế ở tầm quốc gia mà còn khuyến khích các hãng phim làm thêm nhiều phim thích hợp cho trẻ em, mặc dù thực ra trẻ em vẫn thích những phim nhắm đến người lớn hơn. Sau đó năm 1925, Motion Picture Producers and Distributors Association (MPPDA – Hiệp hội các nhà sản xuất và phân phối phim) dưới quyền của Will Hays (1879-1954) đã bắt đầu nỗ lực xác định những bộ phim thích hợp cho trẻ em. Tới màu thu năm 1925, MPPDA đã tổ chức những chương trình năm-mươi-hai buổi chiếu phim, với nhiều bộ phim được biên tập và đặt tựa lại để dành cho các bạn nhỏ. Những chương trình này được đưa ra bán như những lô đặc biệt dành cho các rạp hát, và chủ rạp chiếu bóng được kí hợp đồng chỉ để chiếu những bộ phim do chương trình chọn ra suốt những buổi chiếu phim chiều thứ Bảy. MPPDA đã dùng cách tiếp cận này để xúc tiến tinh thần trách nhiệm của các hãng phim và đồng thời khuyến khích trẻ em trở thành những khách hàng trung thành với điện ảnh. Continue reading

Hồ Tài Huệ Tâm (Giáo sư Đại học Harvard) – Gái nước Nam

Hồ Liễu dịch

Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh
Tục ngữ Việt nam

Trích trong cuốn Thuyết cấp tiến và cội nguồn của Cách mạng Việt nam / Radicalism and the Origins of the Vietnamese Revolution, Hue-Tam Ho Tai, Ấn quán Đại học Harvard, 1992, trang 88–113.

 

Vào năm 1925, ngoại tôi cho chụp một bức ảnh chụp hai cô con gái đầu, dì và mẹ. Nhìn lúng túng trong áo dài và kiểu tóc chải chuốt, hai thiếu nữ, ở độ tuổi 17 và 12, dường như e lệ và chưa chạm với đời. Còn tồn tại một bức ảnh khác của Nguyễn Trung Nguyệt, dì hai, chụp chỉ bốn năm sau đó. Trong bức ảnh ấy, dì không còn mặc lễ phục nhiều màu diêm dúa của một cô con gái nhà Nho, nhưng mặc áo bà ba của phụ nữ nông dân. Dì ngó đăm đăm vào máy ảnh với đôi mắt thách thức: đó là một hình phạm nhân của công an. Tôi đã tìm thấy nó trong văn khố của Sở An ninh Pháp.

Vào lúc bị bắt, dì Nguyệt phụ trách việc tuyển mộ phụ nữ vào Việt nam Thanh niên Đồng chí hội, một tổ chức chống thực dân mà Nguyễn Ái Quốc đã thành lập trong những người Việt lưu vong ở Trung quốc năm 1925. Dì trải qua tám năm kế tiếp của đời mình trong nhà tù sau khi qua một phiên toà gây chấn động, trong suốt phiên toà thanh danh của dì bị nát tan và dì bị đóng dấu là một phần tử cách mạng nguy hiểm. Câu chuyện về sự can dự ngắn ngủi và bi đát của dì Nguyệt vào chính trị cách mạng là đáng quan tâm không bởi những khía cạnh lâm li của nó, nhưng bởi dì quá là một sản phẩm của thời mình. Tuy vậy, trong khi hầu hết những người đương thời dì trong cuộc Cách mạng Việt nam thường tiến cấp từ sự nổi dậy nhân thân tới việc dấn thân chính trị, bản thân dì Nguyệt làm một hành trình khác. Chính chữ hiếu đã dẫn dì tới chủ nghĩa ái quốc và tới nữ quyền.

Như Nguyễn An Ninh, Nguyễn Trung Nguyệt cũng xuất thân từ một gia đình mật thiết thiên về học thuật và những tình tự chống thực dân. Và như ông ấy, dưới ảnh hưởng của những người thân quyến ái quốc, dì trở thành một người nổi dậy đầy bổn phận, một người nhiệt liệt bài trừ thánh tượng. Nguyễn An Ninh kêu gọi một giới trẻ dường như trung lập về giới tính nhưng thực sự là phái nam để kết hợp sự tìm kiếm của giới này về tự do nhân thân với sự độc lập quốc gia. Nguyễn Trung Nguyệt đại diện cho cuộc hôn nhân của nữ quyền với chủ nghĩa chống thực dân bên trong Cách mạng Việt nam. Mãi tới khi dì dời nhà sau những cuộc bãi trường của học sinh năm 1926, dì Nguyệt đã không lộ ra những dấu hiệu muốn nêu lên lí tưởng về giải phóng phụ nữ. Nhưng trong lúc dì trưởng thành, vai trò của phụ nữ ở Việt nam đã trở thành một điểm chủ chốt của sự đối đầu giữa những người tiến bộ và những người bảo thủ về văn hoá. Hơn nữa, vì những tranh chấp về văn hoá và đạo đức thường có một tầng ngầm chính trị, vấn đề của phụ nữ vận hành như một thuyết ngôn về tự do, trong đó những khác biệt giữa những mối quan tâm về nhân thân và quốc gia trở nên mơ hồ và hoà lẫn với nhau.  Continue reading