J. E. Cirlot – Chim

Mỗi sinh vật có cánh đều tượng trưng cho sự tinh thần hoá. Chim, theo Jung, là một sinh vật từ tâm đại diện cho những linh hồn hay những thiên thần, sự cứu đỡ siêu nhiên (31), những ý nghĩ và những bay bổng của huyễn tưởng (32). Truyền thống Hindu cho rằng chim chóc đại diện cho những trạng thái cao hơn của sự tồn tại. Trích một đoạn trong Upanishads [Áo nghĩa thư]: Hai con chim, bầu bạn không thể tách rời, trú ngụ cùng một cây; con đầu tiên ăn quả trên cây, con thứ hai để ý nhưng không ăn. Con chim đầu tiên là Jivâtmâ, và con thứ hai là Atmâ hay tri thức thuần tuý, tự do và vô điều kiện; và khi chúng kết giao không rời, thì không thể phân biệt được con này với con khác ngoại trừ trong một cảm giác ảo tưởng’ (26). Continue reading

Advertisements

Niall Ferguson – Paris và sự sụp đổ của La-mã

 

Niall Ferguson

Paris và sự sụp đổ của La-mã

Duy Đoàn chuyển ngữ

Lời người dịch: Bài viết của giáo sư sử học Niall Ferguson của trường Harvard University, đối chiếu sự vụ nước Pháp ngày 13/11 với sự vụ La-mã sụp đổ cách đây 16 thế kỉ. Ông có một cái nhìn đáng chú ý, tuy nhiên lại gay gắt vô cùng đối với tình trạng nhập cư.

 

Tôi sẽ không lặp lại những gì các vị đã đọc được hay nghe được. Tôi sẽ không nói rằng những gì xảy ra tại Paris vào tối thứ sáu là điều khủng khiếp chưa có tiền lệ, bởi vì không phải vậy. Tôi sẽ không nói rằng thế giới đứng về phía Pháp, bởi đó là cách nói rỗng tuếch. Tôi cũng không tán thưởng lời cam kết của Tổng thống Hollande về việc sẽ trả đũa “không thương tiếc”, bởi tôi không tin điều ấy. Thay vào đó, tôi sẽ cho bạn biết đây chính xác là cách thức mà một nền văn minh sụp đổ.

Đây là cách Edward Gibbon mô tả việc người Goth hạ bệ La-mã vào tháng Tám năm 410 thời Công nguyên:

“Trong giờ phút phóng túng hoang dại, khi mọi tình cảm bị khích động, và mọi kiềm hãm được tháo dỡ… một cuộc tàn sát dã man đã được thực hiện đối với người La-mã; và… các con phố của đô thành tràn ngập xác chết… Bất cứ lúc nào phe Rợ bị đối thủ khiêu khích, họ mở rộng hành vi giết chóc tràn lan sang những kẻ yếu, những kẻ vô tội, và những kẻ bất lực…”

Lúc này, đó chẳng phải mô tả những cảnh tượng mà ta đã chứng kiến tại Paris vào tối thứ sáu?

Đúng vậy, “History of the Decline and Fall of the Roman Empire” của Gibbon đã lột tả hồi cáo chung của La-mã như một cơn bùng tích tụ qua một thiên niên kỉ. Nhưng thế hệ các sử gia mới, như Bryan Ward-Perkins và Peter Heather, đã đưa ra khả năng rằng tiến trình suy vong của La-mã thực tế diễn ra bất thần – và đẫm máu – thay vì diễn ra êm ái: một sự “chiếm lĩnh đầy bạo lực… bởi những kẻ rợ xâm lăng” vốn đã tiêu huỷ một nền văn minh phức hợp trong khoảng thời gian chỉ một thế hệ. Continue reading

Jan Švankmajer – Thập giới mệnh

 

Jan Švankmajer

Thập giới mệnh

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

1. Hãy nhớ rằng chỉ có một hình thức ‘thi ca’. Đối nghịch với thi ca là công việc chuyên môn. Trước khi bạn bắt đầu làm phim, hãy làm thơ, vẽ tranh, tạo một bức ghép, viết tiểu thuyết, tiểu luận, v.v. Chỉ bằng cách trau dồi năng lực của bạn cho cái biểu hiện phổ quát thì bạn mới đảm bảo mình sản sinh ra được một bộ phim hay.

2. Hãy quy hàng những nỗi ám ảnh của bạn. Không có gì tốt hơn. Những nỗi ám ảnh là di vật của thời thơ ấu. Và những kho báu quý giá nhất bắt nguồn từ những cõi sâu thẳm của thời thơ ấu. Bạn cần luôn để cổng vào thời thơ ấu của mình được mở ra. Đây không phải chuyện về những kí ức đặc biệt, mà là về cảm giác. Đây không phải về ý thức, mà về vô thức. Hãy để dòng sông nội tại tự do tuôn chảy khắp bên trong bạn. Hãy tập trung vào nó nhưng đồng thời hãy thư giãn hoàn toàn. Khi làm phim, bạn cần 24 giờ bị nhận chìm ‘trong nó’. Chỉ khi đó thì những nỗi ám ảnh của bạn, thời thơ ấu của bạn, mới đi vào phim của bạn, mà bạn không biết đến một cách có ý thức. Và phim của bạn sẽ trở thành khúc khải hoàn cho ‘tính ấu trĩ’. Và đó là những gì toàn bộ chuyện này nói về. Continue reading

John Gray – Một Karl Marx đời thực

John Gray

Một Karl Marx đời thực

Duy Đoàn chuyển ngữ

Bài điểm sách cho cuốn Karl Marx: A Nineteenth-Century Life, của , Liveright, 648 trang, $35.00

Bằng nhiều cách thức, Jonathan Sperber đề xuất, Marx là “một khuôn mặt thủ cựu” với cái nhìn về tương lai được định khuôn theo những hoàn cảnh khác hoàn toàn so với bất kì hoàn cảnh nào phổ biến ngày nay:

“Quan điểm về Marx như một người đương thời có những ý tưởng định hình nên thế giới hiện đại là một quan điểm đã xong xuôi cả rồi và đến lúc cần một hiểu biết mới về ông như một khuôn mặt của một thời kì lịch sử trong quá khứ, một thời kì càng lúc càng cách xa chúng ta: thời đại của Cách mạng Pháp, của triết học Hegel, của những năm tháng đầu tiên của quá trình công nghiệp hoá tại Anh và của nền kinh tế chính trị bắt nguồn từ đó.”

Mục tiêu của Sperber là trình bày Marx theo đúng con người thực sự của ông – một nhà tư tưởng thế kỉ 19 để hết tâm trí mình vào những ý tưởng và sự kiện của thời mình. Nếu bạn thấy Marx theo cách này, nhiều cuộc tranh cãi vốn đã tạo sóng gió quanh di sản của ông hồi thế kỉ trước dường như không lợi ích gì, thậm chí không liên quan gì. Nếu khẳng định Marx phần nào “chịu trách nhiệm về mặt trí thức” cho chủ nghĩa cộng sản thế kỉ 20, thì khẳng định đó có vẻ hết sức lầm lạc; nhưng chuyện tương tự cũng xảy ra đối với phe biện hộ Marx như một người theo dân chủ cấp tiến, bởi vì cả hai quan điểm đều “phóng chiếu ngược vào những tranh luận về thế kỉ 19 của những thời đại sau đó”. Continue reading

Jorge Luis Borges – Simurgh

Simurgh là một con chim bất tử làm tổ trong những cành nhánh của Cây Tri thức; Richard Burton so sánh nó với đại bàng vốn, theo Edda Văn xuôi, hiểu biết về nhiều thứ và làm tổ trong những cành nhánh của Cây Thế giới, Yggdrasil.

Cả Thalaba (1801) của Southey và Temptation of Saint Anthony [Sự cám dỗ của Thánh Anthony] (1874) của Flaubert đều nhắc đến Simorg Anka; Flaubert giáng cấp nó thành một kẻ hầu hạ cho Hoàng hậu xứ Sheba, và mô tả nó như thể có bộ lông màu cam như vảy kim loại, một cái đầu nhỏ óng bạc với khuôn mặt người, bốn cánh, một bộ vuốt của kền kền, và một cái đuôi dài, thật dài của chim công. Continue reading

Святлана Алексіевіч (Svyatlana Alyeksiyevich): Người biên niên cho vùng đất không tưởng

 “Tôi đang tìm kiếm một thể loại cho phép mình có thể đánh giá được gần đúng nhất cái cách tôi thấy và nghe cõi sống này. Cuối cùng tôi chọn thể loại về những tiếng nói và những lời tự thuật thực sự của con người. Ngày nay khi con người và thế giới trở nên đa diện và đa dạng, khi chúng ta cuối cùng nhận ra con người quả thực bí ẩn và khôn dò như thế nào, thì một câu chuyện về một cuộc đời, hay nói đúng ra là cái chứng cứ tài liệu về câu chuyện này, sẽ mang chúng ta đến gần thực tại nhất.”

– Alyeksiyevich

Ảnh: Vasily Fedosenko/Reuters

Ảnh: Vasily Fedosenko/Reuters

Svyatlana Alyeksiyevich sinh ngày 31/5/1948 tại thị trấn Ivano-Frankovsk ở Ukraina trong một gia đình quân nhân. Cha của bà là người Belarus và mẹ của bà người Ukraina. Sau khi người cha giải ngũ và cả gia đình trở về quê hương Belarus, định cư tại một ngôi làng nơi đó cha mẹ của bà làm nghề dạy học. (Ông của người cha cũng là một thầy giáo làng.) Sau khi học xong, Alyeksiyevich làm phóng viên cho tờ báo địa phương ở thị trấn Narovl, vùng Gomel. Continue reading

Tawada Yōko – Celan đọc tiếng Nhật

Có một số người cho rằng văn ‘hay’ thì thực sự không thể dịch được. Trước khi biết đọc tiếng Đức, tôi nhận thấy ý nghĩ này an ủi làm sao vì tôi hoàn toàn không thể cảm nhận được văn học Đức, đặc thù là văn học giai đoạn hậu chiến. Tôi đã nghĩ tôi nên học ngay tiếng Đức và đọc những tác phẩm này trong bản gốc và rồi vấn đề của tôi với văn học Đức có thể sẽ tự tan biến.

Dù vậy, có những ngoại lệ, như những bài thơ của Paul Celan, mà tôi phát hiện thấy hoàn toàn lôi cuốn ngay cả trong bản dịch tiếng Nhật. Hết lúc này tới lúc khác nảy ra trong tôi ý thắc mắc có thể nào những bài thơ của ông lại không kém chất lượng bởi chúng có thể dịch được. Khi thắc mắc về ‘tính khả dịch’ của một tác phẩm, tôi không định nói rằng một bản sao hoàn hảo của một bài thơ có thể tồn tại trong một ngoại ngữ hay không, mà là bản dịch của nó có thể tự mình là một tác phẩm văn học hay không. Bên cạnh đó, sẽ là thiếu sót nếu tôi chỉ nói rằng những bài thơ của Celan là có thể dịch được. Đúng hơn, tôi có cảm giác rằng chúng đang chăm chú nhìn vào tiếng Nhật.

Sau khi tôi học đọc được văn học Đức trong nguyên gốc, tôi nhận ra rằng ấn tượng của mình chưa từng hão huyền. Tôi đã bị chiếm ngự còn hơn trước đó bởi câu hỏi vì sao những bài thơ của Celan có thể vươn tới một thế giới khác vốn nằm ngoài tiếng Đức. Đó hẳn phải có một vực sâu giữa những ngôn ngữ mà tất cả từ ngữ sa vào.

Continue reading

J. E. Cirlot – Tiên nữ

Một hình tượng thường mang một trong hai dạng: như một nữ nhân điểu hay như một nữ nhân ngư. Những tiên nữ trong thần thoại Hi-lạp được coi là con gái của dòng sông Achelous và nữ thần Calliope; và Ceres biến họ thành chim. Chúng sống ở những vùng núi. Truyền thuyết quy cho chúng một tiếng hát ngọt ngào đến nỗi chúng có thể cám dỗ kẻ du hành, chỉ để nuốt sống y. Về sau, thần thoại làm hồi sinh những tiên nữ với đuôi cá có sào huyệt là những đảo đá và những vách đá và là những kẻ cũng hành xử giống những gì chị em chúng đã thực hiện với Nguyên tố khí. Thần thoại tiên nữ là một trong những thần thoại bền vững nhất trong mọi thần thoại; giữa vài người đi biển nó thậm chí còn dai dẳng đến tận ngày nay (8). Tài liệu có liên quan đến các tiên nữ này được tìm thấy trong tác phẩm của Aristotle, Pliny, Ovid, Hyginus, trong Physiologus (thế kỉ 2) và những sách ngụ ngôn về loài vật thời trung cổ. Continue reading

J. E. Cirlot – Nhân sư

Một hữu thể thần thoại bao gồm vài phần của con người và bốn phần của nhiều loài thú khác nhau. Nhân sư ở Thebes có đầu và ngực của một phụ nữ, thân mình của một con bò hoặc chó, các móng vuốt của một con sư tử, đuôi của một con rồng và đôi cánh của một con chim (8). Là hiện thân tối cao của điều bí ẩn, nhân sư bền bỉ canh gác một ý nghĩa tối hậu cần được giữ nguyên trạng mãi mãi vượt qua sự hiểu biết của con người. Jung nhìn thấy trong nó một sự tổng hợp của ‘Mẹ Khủng khiếp [Terrible Mother]’, một biểu tượng cũng đã ghi dấu trong thần thoại (31). Continue reading

J. E. Cirlot – Nhân ngưu

Một quái vật thần thoại nửa thân dưới là người và nửa thân trên là bò. Mê cung ở Crete đã được xây để khống chế con nhân ngưu. Quái vật này ăn thịt, và những người Athens bại trận bị bắt buộc cứ bảy năm một lần phải tiến cống bảy đồng nam và bảy trinh nữ cho nó ăn thịt. Cống lễ này đã được dâng nộp ba lần, nhưng vào dịp thứ tư Theseus đã tiêu trừ con nhân ngưu với sự trợ giúp của Ariadne và sợi chỉ thần kì của nàng (8). Mỗi thần thoại và truyền thuyết ám chỉ đến những cống lễ, những quái vật hay những anh hùng chiến thắng đều minh hoạ một hoàn cảnh vũ trụ (gồm cả những ý tưởng của thuyết Ngộ-đạo về đấng sáng tạo độc ác và về sự cứu thế), một ẩn ý xã hội (ví dụ, về một tình trạng bị áp bức bởi một bạo chúa, hay một tai hoạ, hay bởi một lực chống đối nào đó khác) và một tạo nghĩa tâm lí gắn liền với tập thể hay cá thể (ngụ ý ưu thế của con quái vật trong con người, và cống lễ và sự hiến tế mặt tốt đẹp của y: những ý tưởng, những tình cảm và những xúc cảm của y). Continue reading