Святлана Алексіевіч (Svyatlana Alyeksiyevich): Người biên niên cho vùng đất không tưởng

 “Tôi đang tìm kiếm một thể loại cho phép mình có thể đánh giá được gần đúng nhất cái cách tôi thấy và nghe cõi sống này. Cuối cùng tôi chọn thể loại về những tiếng nói và những lời tự thuật thực sự của con người. Ngày nay khi con người và thế giới trở nên đa diện và đa dạng, khi chúng ta cuối cùng nhận ra con người quả thực bí ẩn và khôn dò như thế nào, thì một câu chuyện về một cuộc đời, hay nói đúng ra là cái chứng cứ tài liệu về câu chuyện này, sẽ mang chúng ta đến gần thực tại nhất.”

– Alyeksiyevich

Ảnh: Vasily Fedosenko/Reuters

Ảnh: Vasily Fedosenko/Reuters

Svyatlana Alyeksiyevich sinh ngày 31/5/1948 tại thị trấn Ivano-Frankovsk ở Ukraina trong một gia đình quân nhân. Cha của bà là người Belarus và mẹ của bà người Ukraina. Sau khi người cha giải ngũ và cả gia đình trở về quê hương Belarus, định cư tại một ngôi làng nơi đó cha mẹ của bà làm nghề dạy học. (Ông của người cha cũng là một thầy giáo làng.) Sau khi học xong, Alyeksiyevich làm phóng viên cho tờ báo địa phương ở thị trấn Narovl, vùng Gomel. Continue reading

Tawada Yōko – Celan đọc tiếng Nhật

Có một số người cho rằng văn ‘hay’ thì thực sự không thể dịch được. Trước khi biết đọc tiếng Đức, tôi nhận thấy ý nghĩ này an ủi làm sao vì tôi hoàn toàn không thể cảm nhận được văn học Đức, đặc thù là văn học giai đoạn hậu chiến. Tôi đã nghĩ tôi nên học ngay tiếng Đức và đọc những tác phẩm này trong bản gốc và rồi vấn đề của tôi với văn học Đức có thể sẽ tự tan biến.

Dù vậy, có những ngoại lệ, như những bài thơ của Paul Celan, mà tôi phát hiện thấy hoàn toàn lôi cuốn ngay cả trong bản dịch tiếng Nhật. Hết lúc này tới lúc khác nảy ra trong tôi ý thắc mắc có thể nào những bài thơ của ông lại không kém chất lượng bởi chúng có thể dịch được. Khi thắc mắc về ‘tính khả dịch’ của một tác phẩm, tôi không định nói rằng một bản sao hoàn hảo của một bài thơ có thể tồn tại trong một ngoại ngữ hay không, mà là bản dịch của nó có thể tự mình là một tác phẩm văn học hay không. Bên cạnh đó, sẽ là thiếu sót nếu tôi chỉ nói rằng những bài thơ của Celan là có thể dịch được. Đúng hơn, tôi có cảm giác rằng chúng đang chăm chú nhìn vào tiếng Nhật.

Sau khi tôi học đọc được văn học Đức trong nguyên gốc, tôi nhận ra rằng ấn tượng của mình chưa từng hão huyền. Tôi đã bị chiếm ngự còn hơn trước đó bởi câu hỏi vì sao những bài thơ của Celan có thể vươn tới một thế giới khác vốn nằm ngoài tiếng Đức. Đó hẳn phải có một vực sâu giữa những ngôn ngữ mà tất cả từ ngữ sa vào.

Continue reading

J. E. Cirlot – Tiên nữ

Một hình tượng thường mang một trong hai dạng: như một nữ nhân điểu hay như một nữ nhân ngư. Những tiên nữ trong thần thoại Hi-lạp được coi là con gái của dòng sông Achelous và nữ thần Calliope; và Ceres biến họ thành chim. Chúng sống ở những vùng núi. Truyền thuyết quy cho chúng một tiếng hát ngọt ngào đến nỗi chúng có thể cám dỗ kẻ du hành, chỉ để nuốt sống y. Về sau, thần thoại làm hồi sinh những tiên nữ với đuôi cá có sào huyệt là những đảo đá và những vách đá và là những kẻ cũng hành xử giống những gì chị em chúng đã thực hiện với Nguyên tố khí. Thần thoại tiên nữ là một trong những thần thoại bền vững nhất trong mọi thần thoại; giữa vài người đi biển nó thậm chí còn dai dẳng đến tận ngày nay (8). Tài liệu có liên quan đến các tiên nữ này được tìm thấy trong tác phẩm của Aristotle, Pliny, Ovid, Hyginus, trong Physiologus (thế kỉ 2) và những sách ngụ ngôn về loài vật thời trung cổ. Continue reading

J. E. Cirlot – Nhân sư

Một hữu thể thần thoại bao gồm vài phần của con người và bốn phần của nhiều loài thú khác nhau. Nhân sư ở Thebes có đầu và ngực của một phụ nữ, thân mình của một con bò hoặc chó, các móng vuốt của một con sư tử, đuôi của một con rồng và đôi cánh của một con chim (8). Là hiện thân tối cao của điều bí ẩn, nhân sư bền bỉ canh gác một ý nghĩa tối hậu cần được giữ nguyên trạng mãi mãi vượt qua sự hiểu biết của con người. Jung nhìn thấy trong nó một sự tổng hợp của ‘Mẹ Khủng khiếp [Terrible Mother]’, một biểu tượng cũng đã ghi dấu trong thần thoại (31). Continue reading

J. E. Cirlot – Nhân ngưu

Một quái vật thần thoại nửa thân dưới là người và nửa thân trên là bò. Mê cung ở Crete đã được xây để khống chế con nhân ngưu. Quái vật này ăn thịt, và những người Athens bại trận bị bắt buộc cứ bảy năm một lần phải tiến cống bảy đồng nam và bảy trinh nữ cho nó ăn thịt. Cống lễ này đã được dâng nộp ba lần, nhưng vào dịp thứ tư Theseus đã tiêu trừ con nhân ngưu với sự trợ giúp của Ariadne và sợi chỉ thần kì của nàng (8). Mỗi thần thoại và truyền thuyết ám chỉ đến những cống lễ, những quái vật hay những anh hùng chiến thắng đều minh hoạ một hoàn cảnh vũ trụ (gồm cả những ý tưởng của thuyết Ngộ-đạo về đấng sáng tạo độc ác và về sự cứu thế), một ẩn ý xã hội (ví dụ, về một tình trạng bị áp bức bởi một bạo chúa, hay một tai hoạ, hay bởi một lực chống đối nào đó khác) và một tạo nghĩa tâm lí gắn liền với tập thể hay cá thể (ngụ ý ưu thế của con quái vật trong con người, và cống lễ và sự hiến tế mặt tốt đẹp của y: những ý tưởng, những tình cảm và những xúc cảm của y). Continue reading

J. E. Cirlot – Con người

Con người coi chính mình như một biểu tượng trong chừng mực y ý thức về sự hiện hữu của y. Nghệ thuật Hallstatt, ở Áo, cho thấy những ví dụ tinh tế về những cái đầu loài vật với hình dáng con người hiện ra phía trên. Ở Ấn-độ, ở New Guinea, cũng như ở phương Tây, đầu bò đực hay đầu bò đực thiến với một hình thể con người được vẽ giữa các sừng là một mẫu hình rất thông thường. Vì bò đực là một biểu tượng cho cha-trời, nên con người từ đó được coi như con trai của cả ngài và trần thế (22), cũng như một khả thể thứ ba, con trai của mặt trời và mặt trăng (49). Những ngụ ý trong các bình luận của Origen: ‘Hãy hiểu rằng bạn là một thế giới khác trong bức hoạ vi tế và rằng trong bạn là mặt trời, mặt trăng và luôn cả những vì sao’, được tìm thấy trong tất cả những truyền thống biểu tượng. Trong tư tưởng bí truyền của người Moslem, con người là biểu tượng của sự tồn tại phổ quát (29), một ý tưởng đã tìm được cách đi vào triết học đương thời trong sự định nghĩa về con người như ‘sứ giả của hiện hữu’; tuy nhiên, trong lí thuyết biểu tượng, con người không được định nghĩa chỉ bởi chức năng (vốn dành riêng cho ý thức của vũ trụ), mà đúng hơn bởi sự tương đồng, do đó y được coi là một hình ảnh của vũ trụ. Continue reading

J. E. Cirlot – Quạ

Vì màu đen của nó, quạ được kết nối với ý tưởng về sự khởi đầu (như đã được biểu thị trong những biểu tượng như đêm mẹ, bóng tối nguyên thuỷ, đất đai màu mỡ). Vì cũng kết nối với khí quyển, nó là một biểu tượng cho quyền năng phi thường, sáng tạo, và cho sức mạnh tâm linh. Vì khả năng bay lượn, nó được coi là một sứ giả. Và, tóm lại, quạ đã được phong cho một tạo nghĩa vũ trụ sâu rộng bởi nhiều người nguyên thuỷ. Thực vậy, đối với những người Anh-điêng Da đỏ ở Bắc Mĩ nó là đấng khai hoá vĩ đại và là đấng sáng tạo của thế giới khả kiến. Nó có một ý nghĩa tương tự đối với những người Celt và những bộ lạc German, cũng như ở Siberia (35). Continue reading

Alice Munro – Những mặt trăng của sao Mộc

Tôi tìm thấy cha tại khoa tim mạch, trên tầng tám Bệnh viện Đa khoa Toronto. Ông nằm trong một phòng đôi. Giường kia để trống. Ông nói bảo hiểm y tế của ông chỉ chi trả cho một giường trong phòng thường thôi, và ông lo sẽ bị tính thêm chi phí.

“Ba không hề yêu cầu phòng đôi,” ông nói.

Tôi nói rằng các phòng thường có lẽ hết chỗ rồi.

“Không. Ba thấy có vài giường trống lúc họ đẩy xe lăn của ba đi ngang qua mà.”

“Vậy là do ba phải mắc vào cái kia,” tôi nói. “Ba đừng lo. Nếu tính thêm chi phí, họ sẽ thông báo cho ba biết mà.”

“Chắc vậy,” ông nói. “Họ không muốn lắp đặt mớ thiết bị đó trong phòng thường. Ba nghĩ chúng dành cho ba.”

Tôi nói chắc chắn là vậy rồi.

Continue reading

Jorge Luis Borges – Akutagawa Ryūnosuke, Hà Đồng

Thales đã đo bóng của một kim tự tháp để xác định chiều cao của nó; Pythagoras và Plato đã giảng về sự đầu thai của những linh hồn; bảy mươi người sao chép bản thảo, tách li trên hòn đảo của Pharos, trong bảy mươi ngày đã cho ra đời bảy mươi bản dịch Pentateuch tương đồng; Virgil, trong sách thứ hai của Georgics, đã suy ngẫm về những thứ tơ lụa tinh nhã được dệt bởi những người Trung-hoa; và ngày xưa, những người cưỡi ngựa ở ngoại thành Buenos Aires hẳn đã cùng tranh tài trong một trận polo, trò chơi của người Ba-tư. Dù giả hay thật, những truyện này (mà người ta nên thêm vào, giữa nhiều truyện khác, sự có mặt của Attila trong những khổ thơ của Elder Edda) đánh dấu những giai đoạn liên tục trong một tiến trình phức tạp và muôn thuở vẫn đang tiếp diễn: sự khám phá phương Đông của những xứ sở phương Tây. Tiến trình này, có thể nói, có chiều ngược lại của nó: phương Tây bị khám phá bởi phương Đông. Chiều khác này thuộc về những người truyền đạo trong những chiếc áo choàng màu vàng nghệ mà một vị hoàng đế theo đạo Phật đã phái tới Alexandria, cuộc chinh phục Tây-ban-nha Kitô-giáo của Islam-giáo, và những cuốn sách mê hoặc và đôi khi rất đáng sợ của Akutagawa.

Continue reading

Koenraad Elst – Tại sao 12?

 

Koenraad Elst

Tại sao 12?

Duy Đoàn chuyển ngữ
Nguyễn Tiến Văn hiệu đính

Bài này xử lí một vấn đề của biểu tượng học: có gì đặc biệt về số 12? Theo lịch sử, sự ưu ái dành cho số 12 phải quay về lại Hoàng đạo. Do vậy, lá cờ mười hai ngôi sao của Liên minh châu Âu được thiết kế, trong một cuộc thi công khai, bởi một người sùng mến Miriam Đồng trinh, người đã nghĩ đến đoạn Khải huyền trong đó vị trinh nữ thiên giới xuất hiện trong một hình tròn mười hai ngôi sao; và “mười hai ngôi sao” này, tiếng Hebrew là mazzalot (từ đó ra từ mazzel!, “điềm lành”, gốc là “ngôi sao may mắn”, “cấu hình sao có lợi – beneficial stellar configuration”), là một biểu đạt chuẩn mực chỉ đến Hoàng đạo, phép chia mặt phẳng Hoàng đạo (Ecliptic) [1] thành mười hai phần bằng nhau, mỗi phần đại diện là một biểu tượng: Bạch-dương, Kim-ngưu, Song-tử, Cự-giải, Sư-tử, Xử-nữ, Thiên-bình, Hổ-cáp, Nhân-mã, Ma-kết, Bảo-bình, Song-ngư.

Mặc dù chúng ta công nhận mối nối kết mật thiết giữa chiêm tinh học và cấu trúc biểu tượng của Hoàng đạo, nhưng điều đó nằm ngoài phạm vi của bài viết để bàn về những thành tích mà chiêm tinh học tự nhận. Thực vậy, chúng ta cho rằng cả kho truyện về các ngôi sao bao gồm Hoàng đạo đã có trước cách người ta dùng nó làm công cụ dành cho bói toán, và điều đó đáng phân tích thuần tuý như một lối tạo dựng biểu tượng, bất kể giới bói toán dùng nó ra sao. Ngược lại với những gì một số chiêm tinh gia khẳng định, thiên văn học xa xưa hơn chiêm tinh học rất nhiều. Nhưng khác với chiêm tinh học, xu hướng tự nhiên trong việc đọc ra “những khuôn mặt trên trời”, hay trong trường hợp này là những hình ảnh trong các nhóm sao, cũng xưa cũ tương đương với chính hành vi ngắm sao trời vậy.

Continue reading