[Điểm phim] Postřižiny (1980) của Jirí Menzel

Postriziny (1980)

 

Đạo diễn: Jirí Menzel

Bộ phim dựa trên tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Czech Bohumil Hrabal. Câu chuyện lấy bối cảnh xung quanh một nhà máy bia ở một thị trấn nhỏ của Tiệp-khắc, thời điểm có lẽ là vào thập niên 1920-1930.

Phim mở đầu bằng một câu đầy khoái cảm:

“Vaše podlomené zdraví, pivo upevní a spraví”

(“Feeling weak and pale, down a pint of ale”). Continue reading

Susan K Perry – 10 lầm tưởng về tình yêu

null

Tôi thích rất nhiều thứ: Màu xanh nước biển, những trái dâu và tình yêu. Nhưng tình yêu nam nữ, chính xác là gì?

Tùy thuộc vào người bạn hỏi.

Phần lớn chúng ta khá chắc chắn chúng ta biết thế nào là yêu khi ta cảm nhận thấy nó. Nhưng những xúc cảm, một trạng thái tinh thần, thì phức tạp và đa dạng hơn để bất cứ ai trong chúng ta, kể cả một chuyên gia, có thể miêu tả đầy đủ. Cái bạn trải qua tùy thuộc vào bộ phận nào của con voi bạn chạm vào.

Rất nhiều nhà tâm lý học, nhà triết học, thậm chí cả một nhà toán học đã viết các cuốn sách cho ta cái nhìn mới mẻ về tình yêu. Từ ba ấn bản này, tôi đã thu thập lại mười lầm tưởng phổ biến nhất, và những lý do của tác giả tại sao chúng lại không như ta vẫn nghĩ.

TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC, HAY LÀ NHỮNG GIẢ ĐỊNH SAI LẦM?

1. Tình yêu là một cảm xúc vô lý, bạn hoặc là “yêu” hoặc là “không yêu”

Điều đó là không đúng, theo nhà triết học Berit Brogaard, tác giả của cuốn Bàn về tình yêu: Những sự thật đơn giản về một cảm xúc phức tạp (On Romantic Love: Simple Truths about a Complex Emotion). Thực tế, tình yêu tuân theo cấp độ. Bạn có thể yêu một chút, yêu rất nhiều hoặc không yêu chút nào. Thỉnh thoảng những cảm giác của bạn khá lý trí; những lúc khác nó lại là vô lý.

2. Bạn không thể làm mình ngừng yêu hoặc chưa từng yêu

Nhưng bạn có thể. Bạn có thể dùng các chiến thuật để giúp bản thân thoát khỏi tình yêu mà bạn nghĩ là sai trái với bạn, theo lời Brogaard, tác giả của một cuốn sách là tập hợp thú vị các quan điểm mạnh mẽ, những câu chuyện có thật đầy chi tiết và tính đáng tin cậy về mặt học thuật.

3. Rơi vào tình yêu là một trạng thái sinh lí độc nhất

Không hẳn, Brogaard viết. Nó giống nhiều hơn với những gì xảy ra khi bạn phản ứng lại những nguy hiểm cảm thấy với sự tăng cao của cortisol và các hormones khác được chuẩn bị cho bạn để cao chạy xa bay hay chiến đấu. Do sự bí ẩn và hấp dẫn giới tính của đối tác tiềm năng mới, hạch hạnh nhân (amygdata) của bạn được hoạt hóa mạnh. Các chất dẫn truyền thần kinh báo hiệu cho tuyến thượng thận điều gì đó phấn khích, sợ hãi hay bí ẩn đang xảy ra. Như vậy, tình yêu có thể cảm nhận và hành động trong não bộ của bạn giống với cocaine. Continue reading

Jean Cocteau – Về bộ phim Orphée (1950)

Orphée (1950)

Jean Cocteau

Về bộ phim Orphée (1950)

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Robin Buss

 

Khi tôi thực hiện một bộ phim, nó là một giấc ngủ trong đó tôi đang mơ. Chỉ những người và những nơi chốn của giấc mơ đó mới là điều quan trọng. Tôi gặp khó khăn trong việc tiếp xúc với người khác, như một người đang ở trạng thái nửa thức nửa ngủ. Nếu một người đang ngủ và ai đó đi vào phòng của người này, thì người khác đó không hiện hữu. Anh ta hay cô ta chỉ hiện hữu nếu được đưa vào các sự kiện trong giấc mơ. Chủ nhật không phải một ngày thực sự để tôi nghỉ ngơi, tôi cố quay lại giấc ngủ càng nhanh càng tốt.

Chủ nghĩa hiện thực trong tính phi hiện thực là một cạm bẫy thường trực. Mọi người luôn có thể bảo tôi rằng điều này có thể, hay điều kia không thể; nhưng liệu chúng ta có hiểu được bất kì điều gì về những lối vận hành của số phận? Đây là một cơ chế bí ẩn mà tôi đã cố làm cho nó hiển hiện ra. Tại sao Tử thần của Orpheus lại ăn mặc theo cách này hay cách kia? Tại sao cô ta lại di chuyển trong một chiếc Rolls, và tại sao Heurtebise lại có thể dùng ý chí để hiện ra và biến mất trong một số trường hợp, nhưng lại quy phục trước quy luật của con người trong một số trường hợp khác? Đây là niềm trăn trở đời đời vốn luôn ám ảnh các nhà tư tưởng, từ Pascal cho đến các nhà thơ. Continue reading

[The Atlantic] Giá trị của việc ghi nhớ những khoảnh khắc thường nhật

Tác giả: Cody C. Delistraty

null

Việc ghi lại những sự kiện hằng ngày có vẻ như rất nhàm chán, nhưng những người tham gia một nghiên cứu gần đây lại cảm thấy vui nếu có những bút tích của chúng trong tương lai.

Vào dịp Giáng sinh, anh trai tôi, bố tôi, và con chó Labrador màu sôcôla lên xe và lái xuyên bang Washington để đến thăm ông bà. Chúng đã làm việc này từ khi tôi được sinh ra. Cả ba chúng tôi – trước khi anh trai và tôi đeo headphone vào và không còn biết trời trăng gì nữa – cố gắng có những cuộc nói chuyện ý nghĩa. Sau đó tôi sẽ trở lại trường ở Anh, anh trai tôi sẽ về lại trường ở California, và bố sẽ trở lại làm việc ở Washington, một tam giác Đại Tây Dương ngăn cách chúng tôi. Cả ba chúng tôi được ở bên nhau hai lần mỗi năm, nhiều nhất là vậy, nhưng trên xe hiếm có thứ gì mới được chia sẻ. Chúng tôi ôn lại kỷ niệm với mẹ; bàn luận về những triển vọng nghề nghiệp, các đội bóng chày, và sách (nếu may mắn); và thường chúng tôi sẽ đi đến một tranh cãi nhỏ về tôn giáo hay chính trị để kết thúc cuộc nói chuyện. Không có gì để ghi lại. Không có gì để nhớ.

Cuộc sống thường ngày có vẻ quá vô vị để viết lại. Tại sao lại ghi lại những cuộc trò chuyện thủ tục, thứ mà chúng ta đã làm cả triệu lần và sẽ còn làm thêm cả triệu lần nữa? Không phải là nhớ những việc trọng đại: những bước đi đầu tiên, tốt nghiệp, công việc, giải thưởng, hôn nhân, về hưu, kỳ nghỉ quan trọng hơn sao? Thế nhưng người ta rất hiếm khi nhận ra họ sẽ yêu thích đến mức nào khi họ nhìn lại những ngày nhàm chán ấy: một ngày ngồi đọc sách bên cửa sổ, một chuyến dã ngoại trong công viên với bạn bè. Những việc này không hề nổi bật khi chúng diễn ra, nhưng khi nhớ lại chúng lại là một cảm giác thích thú đặc biệt. “Ai lại bảo một ngày ngồi đọc sách là một ngày đẹp?” Annie Dillard viết. “Nhưng một cuộc sống để đọc sách – đó là một cuộc sống đẹp.” Continue reading

J. E. Cirlot – Mặt trăng

Tính biểu tượng của mặt trăng về tầm mức là rộng lớn và rất phức tạp. Quyền năng của vệ tinh này đã được ghi nhận bởi Cicero, khi ông nhận xét rằng ‘Mỗi tháng mặt trăng hoàn tất cùng một quỹ đạo được thực hiện bởi mặt trời trong một năm… Nó góp phần rất lớn vào sự trưởng thành của các loài cây bụi và sự sinh trưởng của các loài động vật.’ Điều này giúp giải thích vai trò quan trọng của những nữ thần mặt trăng như Ishtar, Hathor, Anaitis, Artemis. Con người, từ những thuở ban đầu, đã nhận thức được mối liên hệ giữa mặt trăng và thuỷ triều, và sự kết nối huyền bí hơn nữa giữa chu kì trăng và chu kì sinh lí của người nữ. Krappe – cũng như Darwin – tin rằng điều này tiếp nối một sự thực rằng sự sống của động vật có nguồn gốc từ những biển nước và rằng nguồn gốc này đã truyền một nhịp điệu cho sự sống còn kéo dài nhiều triệu năm. Như ông nhận xét, mặt trăng do đó trở thành ‘Chủ tể của người nữ’. Continue reading

J. E. Cirlot – Ánh sáng

Theo truyền thống, ánh sáng ngang với tinh thần (9). Ély Star khẳng định rằng sự ưu việt của tinh thần có thể được nhận ra ngay lập tức bởi cường độ chiếu sáng của nó. Ánh sáng là biểu hiện của luân lí, của trí tuệ và bảy đức tính (54). Sự trắng sáng của nó ám chỉ một tổng hoà của Toàn thể (the All). Ánh sáng của bất kì màu sắc đã có nào đều sở hữu tính biểu tượng tương ứng với màu sắc ấy, cộng thêm tính tạo nghĩa của sự phát xạ từ ‘Trung tâm’, vì ánh sáng cũng là lực sáng tạo, năng lượng vũ trụ, sự chiếu sáng (57). Một cách tượng trưng, sự chiếu sáng đến từ phương Đông. Nói theo tâm lí học, trở nên sáng suốt nghĩa là trở nên nhận thức được nguồn sáng, vì vậy, nguồn sức mạnh tinh thần (32).

K.H. dịch
2015.02.09

Nguyên chú của tác giả:
(9) BLAVATSKY, H. P. The Secret Doctrine. London, 1888
(32) JUNG, C. G. Psychology and Alchemy (Collected Works, 12). London, 1953
(54) STAR, Ély. Les Mystères de l’Etre. Paris, 1902
(57) TESTI, Gino. Dizionario di Alchimia e di Chimica antiquaria. Rome, 1950

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Light” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Mây

Có hai khía cạnh chính trong tính biểu tượng của mây: một mặt chúng có liên quan đến tính biểu tượng của sương mù, tạo nghĩa thế giới trung gian giữa sự-định-hình và sư-vô-định-hình; mặt khác chúng kết nối với ‘Nước Trên cao’ – vương quốc của Neptune (thần Biển) cổ xưa. Khía cạnh nguyên sơ của mây tượng trưng cho những hình thức như hiện tượng và vẻ ngoài, luôn trong một trạng thái biến hoá, che khuất phẩm chất bất biến của chân lí cao hơn (37). Khía cạnh thứ hai của mây biểu lộ sự kết nối họ hàng với tính biểu tượng của sự màu mỡ và mối liên hệ tương tự của chúng với tất cả những gì được xác định đem lại sự phì nhiêu. Do đó truyền thống biểu tượng Kitô-giáo cổ diễn giải mây đồng nghĩa với nhà tiên tri, vì những lời tiên tri là nguồn mạch sâu kín của sự làm màu mỡ (fertilization), mang tính chất thiên đàng trong nguồn cội (46). Do đó cũng dẫn đến kết luận của Bachelard rằng mây nên được coi như một sứ giả tượng trưng (3).

K.H. dịch
2015.02.09

Nguyên chú của tác giả:
(3) BACHELARD, GASTON. L’Air et les Songes. Paris, 1943
(37) LÉVI, Éliphas. Les Mystères de la Kabbale. Paris, 1920
(46) PINEDO, Ramiro de. El Simbolismo en la escultura medieval española. Madrid, 1930

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Clouds” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Mưa

Mưa mang tính biểu tượng chủ yếu và hiển nhiên như một tác nhân làm màu mỡ, và có liên quan đến tính biểu tượng tổng quát của sự sống (26) và nước. Ngoài ra, với cùng một nguyên nhân, nó tạo nghĩa sự thanh lọc, không chỉ vì giá trị của nước như ‘vật chất phổ quát (universal substance)’ – như tác nhân trung gian giữa sự-vô-định-hình hoặc thể-khí và sự-định-hình hoặc thể-rắn, một khía cạnh phổ biến đối với tất cả các truyền thống biểu tượng (29) – mà còn vì thực tế rằng nước mưa rơi xuống từ trời cao (7). Do đó nó cũng có cùng nguồn gốc với ánh sáng. Điều này giải thích tại sao, trong nhiều thần thoại, mưa được coi là một biểu tượng của ‘uy lực tinh thần’ của thiên giới giáng xuống trần thế (28). Trong khoa luyện đan, mưa tượng trưng cho sự ngưng tụ hoặc sự tẩy trắng (albification) – minh chứng rõ hơn rằng, với những nhà luyện đan, nước và ánh sáng thuộc cùng họ biểu tượng.

K.H. dịch
2015.02.09

Nguyên chú của tác giả:
(7) BERTHELOT, René. La pensée de l’Asie et l’astrobiologie. Paris, 1949
(26) GUÉNON, René. Man and his Becoming according to the Vedanta. London, 1945
(28) GUÉNON, René. Le Roi du monde. Paris, 1950
(29) GUÉNON, René. Aperçu sur l’Initiation. Paris

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Rain” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Sương

Tất cả những gì giáng xuống từ trời cao (sấm sét, thiên thạch, vẫn thạch, mưa hoặc sương) đều mang một đặc tính linh thiêng. Nhưng sương mang một tạo nghĩa kép, đồng thời ám chỉ sự chiếu sáng tinh thần, vì nó là báo hiệu chân chính của bình minh và ngày đang đến (33). Thứ nước tinh khiết, trong trẻo của sương, theo một số truyền thống, kết nối gần gũi với ý niệm về ánh sáng. Ở Viễn Đông (Far East) thỉnh thoảng người ta nhắc đến ‘cây sương ngọt’ mọc trên núi Kuen-Lun (Côn Lôn), tương đương với núi Meru của người Ấn-giáo và những ngọn núi thiêng khác tượng trưng cho trục-thế-giới. Ánh sáng lan toả từ cây này (25), và, qua tiến trình cảm giác kết hợp (synaesthesia), nó được biết đến như ‘cây hát’ trong truyền thuyết và truyền thống dân gian.

K.H. dịch
2015.02.09

Nguyên chú của tác giả:
(25) GUÉNON, René. Le Symbolisme de la croix. Paris, 1931
(33) JUNG, C. G. ‘Psychology of the Transference’. In The Practice of Psychotherapy (Collected Works, 16). London, 1954

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Dew” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Sương mù

Sương mù tượng trưng cho những gì vô định, hoặc sự dung hợp của các Nguyên tố khí và nước, và sự mịt mờ không thể tránh khỏi của đường nét từng khía cạnh và từng pha đặc trưng trong diễn trình tiến hoá. ‘Sương lửa’ là một giai đoạn của sự sống vũ trụ theo sau trạng thái hỗn mang (9) và tương ứng với ba Nguyên tố tồn tại trước Nguyên tố rắn đặc – đất.

K.H. dịch
2015.02.09

Nguyên chú của tác giả:
(9) BLAVATSKY, H. P. The Secret Doctrine. London, 1888

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Mist” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971