Nicole Aschoff – Xã hội điện thoại thông minh

(Ảnh: Jacobin magazine)

(Ảnh: Jacobin magazine)

Nicole Aschoff

Xã hội điện thoại thông minh

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Giống như xe hơi đã định ra thế kỉ hai mươi, điện thoại thông minh đang tái định hình cách chúng ta sống và làm việc ngày nay.

Trong nhiều phương diện thì xe hơi là một món hàng quyết định của thế kỉ hai mươi. Tầm quan trọng của nó không bắt nguồn từ tính thục luyện kĩ nghệ hoặc độ phức tạp của dây chuyền sản xuất, mà thay vào đó bắt nguồn từ khả năng phản ánh và định hình xã hội. Những phương thức mà chúng ta sản xuất, tiêu dùng, sử dụng và điều tiết xe hơi chính là cửa sổ nhìn vào chính chủ nghĩa tư bản của thế kỉ hai mươi – một cái thoáng nhìn vào cách mà phần xã hội, chính trị và kinh tế giao cắt nhau và đụng độ nhau.

Ngày nay, trong một giai đoạn mà đặc trưng là sự tài chính hóa và toàn cầu hóa, trong đó “thông tin” nằm ở ngôi vua, thì cái ý tưởng về bất kì món hàng nào định nên thời đại này trông có vẻ lạ kì. Nhưng hàng hóa ngày nay không kém phần quan trọng, và mối quan hệ của con người với chúng vẫn còn là điều trọng tâm để thông hiểu xã hội. Nếu xe hơi là nền tảng để nắm bắt thế kỉ trước, thì điện thoại thông minh chính là món hàng quyết định nên thời đại chúng ta.

Ngày nay người ta đang dành nhiều thời giờ cho điện thoại của họ. Họ kiểm tra điện thoại liên tục suốt cả ngày và giữ điện thoại luôn ở gần bên mình. Họ ngủ kế bên điện thoại, mang chúng vào phòng tắm, và chăm chú vào chúng khi đang đi bộ, đang ăn, học, làm việc, chờ đợi và đang lái xe. 20% số thanh niên thậm chí còn thừa nhận có kiểm tra điện thoại trong lúc quan hệ tình dục.

Khi người ta dường như luôn mang chúng trên tay hoặc bỏ chúng trong túi ở bất cứ chỗ nào họ đến, suốt cả ngày dài, thì điều đó nghĩa là gì? Để cắt nghĩa cho cái mà chúng tôi cho là chứng nghiện điện thoại tập thể, chúng ta nên làm theo lời khuyên của Harry Braverman, và khảo xét “một mặt là chiếc máy và mặt kia là những mối liên hệ xã hội, và thể cách mà hai điều đó hợp cùng nhau trong xã hội.” Continue reading

Advertisements

J. E. Cirlot – Thú một sừng

Tượng trưng cho sự trong trắng và cũng là một biểu hiệu của thanh kiếm hay lời Chúa (20, 4). Truyền thống thông thường biểu thị nó như một con ngựa trắng với một chiếc sừng mọc từ trán, nhưng theo niềm tin bí truyền nó có một thân hình trắng, một cái đầu đỏ và mắt xanh dương. Truyền thuyết kể rằng nó không biết mệt mỏi lúc bị đuổi bắt song lại trở nên hiền lành khi một trinh nữ đến gần (59). Điều này dường như gợi ý rằng nó là biểu tượng của tính dục thăng hoa. Ở Trung-hoa, loài thú này gọi là Kì lân vốn được một số tác giả đồng nhất với thú một sừng, trong khi một số khác lại bất đồng với điều này vì Kì lân có hai sừng. Nó là một tượng vật của những sĩ quan quân đội cấp cao và là một biểu hiệu của sự chính trực và dòng dõi cao quý. Da nó gồm năm màu – đỏ, vàng, xanh dương, trắng và đen; tiếng kêu của nó giống tiếng chuông ngân. Truyền thuyết cho rằng nó sống được một ngàn năm và là loài cao quý nhất trong các loài vật (5). Continue reading

Jorge Luis Borges – Thú một sừng của Trung-hoa

Thú một sừng Trung-hoa, kì lân, là một trong bốn sinh vật của điềm lành; những loài kia là rồng, phượng hoàng, và rùa cạn. Thú một sừng đứng đầu tất cả 360 loài sinh vật sống trên cạn. Nó có phần thân của một con nai, đuôi của một con bò, các móng guốc của một con ngựa. Chiếc sừng ngắn của nó, mọc từ trán, bằng da thịt; lớp giáp của nó, trên lưng, gồm năm màu pha trộn, còn bụng thì màu nâu hay vàng. Nó hiền hoà đến nỗi khi bước đi nó cẩn thận không giẫm lên những sinh vật nhỏ bé nhất và thậm chí không ăn cỏ sống mà chỉ ăn cỏ khô. Sự xuất hiện của nó báo trước sự ra đời của một vị thủ lĩnh chính trực. Làm tổn thương Thú một sừng Trung-hoa hay tình cờ nhìn thấy xác của nó là điều không may. Tuổi thọ tự nhiên của loài vật này là một ngàn năm.

Continue reading

Jorge Luis Borges – Thú một sừng

Lời kể đầu tiên về Thú một sừng cũng gần tương đồng với lời kể mới đây nhất. Bốn trăm năm trước Công nguyên, nhà sử học và thầy thuốc người Hi-lạp Ctesias kể rằng giữa các vương quốc ở Ấn-độ có những con lừa hoang rất nhanh nhẹn với lớp giáp trắng, đầu tím, mắt xanh dương, và giữa trán chúng là một chiếc sừng nhọn có gốc màu trắng, chóp màu đỏ, và phần giữa màu đen. Pliny đã viết tỉ mỉ hơn (VIII, 31):

loài thú dữ tợn nhất là thú một sừng, toàn thân giống như một con ngựa, nhưng đầu thì giống một con nai đực, chân giống một con voi, và đuôi giống một con lợn lòi, và có tiếng rống trầm, và một chiếc sừng đen dài 3 feet (0,9144 mét) nhô ra giữa trán. Người ta nói không thể bắt sống được loài thú này.

Continue reading

John Lukacs – Những con quái vật hợp cùng nhau

John Lukacs

Những con quái vật hợp cùng nhau

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Đây là bài điểm sách cho cuốn The Devils’ Alliance: Hitler’s Pact with Stalin, 1939–1941 của Roger Moorhouse, Basic Books, 382 trang, $29.99

 

Trong kho văn liệu khổng lồ về Stalin và Hitler trong suốt thời Thế chiến II, rất ít điều được nói về mối quan hệ đồng minh của họ trong 22 tháng. Đó không chỉ là một chương lạ thường trong lịch sử cuộc chiến, và ý nghĩa của điều này xứng đáng có được nhiều sự chú ý hơn những gì được tiếp nhận lâu nay.

Có hai yếu tố liên quan đến sự thờ ơ này. Một là sau khi Hitler quyết định xâm chiếm Nga mà thực hiện không thành; Stalin trỗi lên như một trong những kẻ chiến thắng uy quyền của Thế chiến II. Yếu tố còn lại là việc các Thế lực Tây phương không mấy lưu tâm đến Đông Âu. Tuy vậy cuộc chiến nổ ra vào năm 1939 lại là do Đông Âu, là kết quả từ quyết định của người Anh (và Pháp) nhằm chống lại việc Đức chinh phục Ba-lan. Cơn địa chấn chính trị của Hiệp ước Nazi-Soviet vào ngày 23 tháng Tám năm 1939 chín ngày trước khi nổ ra cuộc chiến vào ngày 1 tháng Chín đã không ngăn được Anh quốc và Pháp tuyên bố chiến tranh với Đức trước cuộc xâm lăng của Đức vào Ba-lan. Đây là một trong số ít – rất ít – những quyết định có ích cho họ vào thời điểm đó. Việc họ miễn cưỡng trong nhiều tháng tiếp theo để tiến hành nghiêm túc cuộc chiến chống Đức lại là câu chuyện khác.

Giờ đây ba phần tư thế kỉ đã trôi qua kể từ năm 1939. Khá nhiều điều được viết về Hiệp ước Nazi-Soviet kể từ lúc ấy, phần lớn của các cây bút và sử gia Đông Âu. The Devil’s Alliance là bản tường trình tốt của sử gia Anh Roger Moorhouse về việc hiệp ước có ý nghĩa gì đối với Hitler và Stalin – và tệ hơn là đối với nạn nhân của hiệp ước đó. Có lẽ phần giá trị nhất của cuốn sách đã xử lí được những hậu quả tức thời của hiệp ước năm 1939. Trước đó, một cách hiển nhiên và dữ dội, chủ nghĩa Nazi và chủ nghĩa cộng sản là kẻ thù công khai của nhau. Từ những ngày đầu tiên thăng tiến chính trị của mình, Hitler đã mô tả Do-thái giáo và chủ nghĩa cộng sản là hai kẻ thủ chính yếu của mình. Vào thời điểm đó, Stalin không hẳn là một kẻ theo ý hệ. Cũng như Hitler, y là một người theo chủ nghĩa dân tộc; y gần như không lưu tâm đến chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Continue reading

Steven Strogatz – Lí do tại sao số pi quan trọng

Why Pi Matters - JEFFREY COOLIDGE - GETTY

Ảnh: JEFFREY COOLIDGE / GETTY

 

Steven Strogatz

Lí do tại sao số pi quan trọng

Duy Đoàn chuyển ngữ

Cứ tới ngày 14 tháng Ba, các nhà toán học như tôi lại bị thúc ra khỏi hang ổ của mình giống như Punxsutawney Phil trong Ngày Chuột chũi (Groundhog Day), mắt hấp háy và thấy bối rối bởi mọi sự ồn ào xung quanh. Vâng, lại là Ngày Pi. Và đây không chỉ là một Ngày Pi bất kì. Họ gọi đây là Ngày Pi của thế kỉ: 3.14.15. Pi đến 5 chữ số. Một thứ xảy ra một lần trong đời.

Tôi thấy khiếp sợ nó. Không hi vọng gì để giải bất kì phương trình nào vào ngày đó, nào là mấy cuộc thi ăn bánh nướng, nào là cãi lộn về những giá trị của pi so với tau (pi nhân hai), và mấy cuộc so tài giữa những người có thể nêu ra nhiều chữ số của pi hơn. Hãy tránh xa khỏi đường phố vào lúc 9:26:53, lúc ấy thời gian sẽ xấp xỉ pi cho đến vị trí thứ mười: 3.141592653.

Pi quả xứng đáng để tôn vinh, nhưng vì những lí do mà hiếm khi được đề cập. Ở trường phổ thông, tất cả chúng ta đều học được rằng Pi là về hình tròn. Pi là tỉ lệ giữa chu vi hình tròn (cự li vòng quanh hình tròn, kí hiệu bằng chữ C) với đường kính của hình tròn đó (cự li cắt ngang hình tròn tại vị trí có bề rộng lớn nhất, kí hiệu là chữ d). Tỉ lệ đó, khoảng 3.14, cũng xuất hiện trong công thức tính diện tích bên trong hình tròn, A = πr2, trong đó π là chữ cái Hi-lạp của “pi” và r là bán kính hình tròn (cự li từ tâm đến rìa hình tròn). Chúng tôi học thuộc mấy công thức này cùng những công thức quen thuộc khác để thi S.A.T và không bao giờ dùng lại chúng, trừ khi tình cờ đi vào một lĩnh vực kĩ thuật, hoặc cho đến khi con của chúng ta học môn hình học. Continue reading

[Điểm phim] Postřižiny (1980) của Jirí Menzel

Postriziny (1980)

 

Đạo diễn: Jirí Menzel

Bộ phim dựa trên tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Czech Bohumil Hrabal. Câu chuyện lấy bối cảnh xung quanh một nhà máy bia ở một thị trấn nhỏ của Tiệp-khắc, thời điểm có lẽ là vào thập niên 1920-1930.

Phim mở đầu bằng một câu đầy khoái cảm:

“Vaše podlomené zdraví, pivo upevní a spraví”

(“Feeling weak and pale, down a pint of ale”). Continue reading

Jean Cocteau – Về bộ phim Orphée (1950)

Orphée (1950)

Jean Cocteau

Về bộ phim Orphée (1950)

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Robin Buss

 

Khi tôi thực hiện một bộ phim, nó là một giấc ngủ trong đó tôi đang mơ. Chỉ những người và những nơi chốn của giấc mơ đó mới là điều quan trọng. Tôi gặp khó khăn trong việc tiếp xúc với người khác, như một người đang ở trạng thái nửa thức nửa ngủ. Nếu một người đang ngủ và ai đó đi vào phòng của người này, thì người khác đó không hiện hữu. Anh ta hay cô ta chỉ hiện hữu nếu được đưa vào các sự kiện trong giấc mơ. Chủ nhật không phải một ngày thực sự để tôi nghỉ ngơi, tôi cố quay lại giấc ngủ càng nhanh càng tốt.

Chủ nghĩa hiện thực trong tính phi hiện thực là một cạm bẫy thường trực. Mọi người luôn có thể bảo tôi rằng điều này có thể, hay điều kia không thể; nhưng liệu chúng ta có hiểu được bất kì điều gì về những lối vận hành của số phận? Đây là một cơ chế bí ẩn mà tôi đã cố làm cho nó hiển hiện ra. Tại sao Tử thần của Orpheus lại ăn mặc theo cách này hay cách kia? Tại sao cô ta lại di chuyển trong một chiếc Rolls, và tại sao Heurtebise lại có thể dùng ý chí để hiện ra và biến mất trong một số trường hợp, nhưng lại quy phục trước quy luật của con người trong một số trường hợp khác? Đây là niềm trăn trở đời đời vốn luôn ám ảnh các nhà tư tưởng, từ Pascal cho đến các nhà thơ. Continue reading

J. E. Cirlot – Mặt trăng

Tính biểu tượng của mặt trăng về tầm mức là rộng lớn và rất phức tạp. Quyền năng của vệ tinh này đã được ghi nhận bởi Cicero, khi ông nhận xét rằng ‘Mỗi tháng mặt trăng hoàn tất cùng một quỹ đạo được thực hiện bởi mặt trời trong một năm… Nó góp phần rất lớn vào sự trưởng thành của các loài cây bụi và sự sinh trưởng của các loài động vật.’ Điều này giúp giải thích vai trò quan trọng của những nữ thần mặt trăng như Ishtar, Hathor, Anaitis, Artemis. Con người, từ những thuở ban đầu, đã nhận thức được mối liên hệ giữa mặt trăng và thuỷ triều, và sự kết nối huyền bí hơn nữa giữa chu kì trăng và chu kì sinh lí của người nữ. Krappe – cũng như Darwin – tin rằng điều này tiếp nối một sự thực rằng sự sống của động vật có nguồn gốc từ những biển nước và rằng nguồn gốc này đã truyền một nhịp điệu cho sự sống còn kéo dài nhiều triệu năm. Như ông nhận xét, mặt trăng do đó trở thành ‘Chủ tể của người nữ’. Continue reading

J. E. Cirlot – Ánh sáng

Theo truyền thống, ánh sáng ngang với tinh thần (9). Ély Star khẳng định rằng sự ưu việt của tinh thần có thể được nhận ra ngay lập tức bởi cường độ chiếu sáng của nó. Ánh sáng là biểu hiện của luân lí, của trí tuệ và bảy đức tính (54). Sự trắng sáng của nó ám chỉ một tổng hoà của Toàn thể (the All). Ánh sáng của bất kì màu sắc đã có nào đều sở hữu tính biểu tượng tương ứng với màu sắc ấy, cộng thêm tính tạo nghĩa của sự phát xạ từ ‘Trung tâm’, vì ánh sáng cũng là lực sáng tạo, năng lượng vũ trụ, sự chiếu sáng (57). Một cách tượng trưng, sự chiếu sáng đến từ phương Đông. Nói theo tâm lí học, trở nên sáng suốt nghĩa là trở nên nhận thức được nguồn sáng, vì vậy, nguồn sức mạnh tinh thần (32).

K.H. dịch
2015.02.09

Nguyên chú của tác giả:
(9) BLAVATSKY, H. P. The Secret Doctrine. London, 1888
(32) JUNG, C. G. Psychology and Alchemy (Collected Works, 12). London, 1953
(54) STAR, Ély. Les Mystères de l’Etre. Paris, 1902
(57) TESTI, Gino. Dizionario di Alchimia e di Chimica antiquaria. Rome, 1950

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Light” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971