J. E. Cirlot – Sương mù

Sương mù tượng trưng cho những gì vô định, hoặc sự dung hợp của các Nguyên tố khí và nước, và sự mịt mờ không thể tránh khỏi của đường nét từng khía cạnh và từng pha đặc trưng trong diễn trình tiến hoá. ‘Sương lửa’ là một giai đoạn của sự sống vũ trụ theo sau trạng thái hỗn mang (9) và tương ứng với ba Nguyên tố tồn tại trước Nguyên tố rắn đặc – đất.

K.H. dịch
2015.02.09

Nguyên chú của tác giả:
(9) BLAVATSKY, H. P. The Secret Doctrine. London, 1888

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Mist” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

Advertisements

J. E. Cirlot – Đại dương

Theo Piobb, quan niệm Hi-La về đại dương bao quanh trái đất là một biểu tượng sống động của dòng năng lượng được tạo ra bởi quả địa cầu (48). Bên cạnh vẻ hùng vĩ của nó, hai khía cạnh căn cốt nhất của đại dương là sự vận động không ngừng của nó và tính vô định hình của nước biển. Do đó, nó là một biểu tượng của những năng lượng động lực và những trạng thái chuyển tiếp giữa sự ổn cố (hoặc những thể rắn) và sự vô định hình (khí hoặc hơi). Đại dương như một toàn thể, đối ngược với khái niệm về giọt nước, là một biểu tượng của sự sống vũ trụ đối ngược với sự sống cá biệt (38). Theo truyền thống nó được coi là nguồn gốc phát sinh của mọi đời sống (57), và khoa học đã xác nhận sự sống thực sự đã bắt đầu từ biển cả (3). Zimmer nhận xét rằng đại dương là ‘phi-luận-lí bao la (immense illogic)’ – một dải mênh mông đang mơ những giấc mộng của riêng nó và say ngủ trong thực tại của riêng nó, hơn nữa còn chứa đựng trong mình những chủng tử của sự tương phản. Đảo là đối phương của đại dương và tượng trưng cho mặt siêu hình của năng lượng soi sáng (60). Continue reading

J. E. Cirlot – Bóng tối

Ngang với vật chất, với tính mẹ và tính nảy nở, nhưng nó có mặt trước sự phân hoá của vật chất (9). Tính nhị nguyên ánh sáng / bóng tối không nảy sinh như một thể thức tượng trưng của luân lí cho đến khi bóng tối nguyên thuỷ được tách thành ánh sáng và bóng tối. Do đó, khái niệm thuần tuý của bóng tối, trong truyền thống biểu tượng, không tương đồng với sự tăm tối – mà ngược lại, nó tương ứng với hỗn mang nguyên thuỷ. Nó cũng có liên quan đến hư không huyền bí, và, vì vậy, ngôn ngữ Bí ẩn (Hermetic language) là một obscurum per obscurius, một con đường dẫn về bí mật sâu thẳm của Cội nguồn. Theo Guénon, ánh sáng là nguyên lí cơ bản sau sự phân hoá và trật tự tôn ti. Sự tăm tối có trước trong Fiat Lux, trong phái biểu tượng truyền thống, luôn đại diện cho trạng thái dẫn đến hỗn mang của những tiềm lực không được khai phóng (29). Do đó, bóng tối lan truyền vào thế giới, sau sự có mặt của ánh sáng, là thoái bộ; cũng do đó, thực tế theo truyền thống nó được liên kết với nguyên lí cái ác và những năng lượng nền tảng, không được thăng hoa.

K.H. dịch
2015.02.06

Nguyên chú của tác giả:
(9) BLAVATSKY, H. P. The Secret Doctrine. London, 1888
(29) GUÉNON, René. Aperçu sur l’Initiation. Paris

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Darkness” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Nước

Trong hệ chữ tượng hình Ai-cập, biểu tượng của nước là một đường lượn sóng với những ngọn sắc nhỏ, đại diện cho mặt nước. Một biểu tượng tương tự, khi gấp ba, tượng trưng cho một khối nước, đó là, đại dương nguyên thuỷ và vật chất đầu tiên. Theo truyền thống bí ẩn, thần Nu là thực thể mà từ đó các vị thần của bộ chín đầu tiên hiện ra (19). Người Trung-hoa coi nước như nơi ở riêng của rồng, vì mọi đời sống đều bắt nguồn từ nước (13). Trong kinh Vệ-đà, nước được coi là mâtritamâh (mẹ vĩ đại nhất) vì, vào khởi thuỷ, mọi thứ như một biển nước không ánh sáng. Ở Ấn-độ, nguyên tố này được coi là đấng bảo hộ của sự sống một cách rộng rãi, tuần hoàn xuyên suốt toàn thể tự nhiên, trong hình thức của mưa, nhựa cây, sữa và máu. Vô hạn và bất tử, nước là khởi thuỷ và kết cuộc của mọi thứ trên trái đất (60). Continue reading

J. E. Cirlot – Các hành tinh

Các hành tinh cấu thành một trật tự đặc trưng trong vũ trụ. Đây là công việc của khoa học về thiên văn nghiên cứu chúng từ một quan điểm tự nhiên và toán học, dựa trên nền tảng của hệ thống mà Copernicus đã thiết lập với De Revolutionibus Orbium Coelestium [Về những sự quay vòng của các thiên thể] năm 1543 của ông, theo đó mặt trời là trung tâm vây quanh bởi tập hợp quỹ đạo của các hành tinh: Thuỷ tinh [Mercury], gần nhất, kế đến là Kim tinh [Venus], Trái đất [Earth], Hoả tinh [Mars], các Tiểu hành tinh [Asteroids], Mộc tinh [Jupiter], Thổ tinh [Saturn], Thiên vương tinh [Uranus], Hải vương tinh [Neptune] (và Diêm vương tinh [Pluto]). Nhưng khoa chiêm tinh và biểu tượng truyền thống lấy cảm hứng không phải từ hệ thống của Copernicus mà là từ hệ thống đã được công nhận bởi Người Cổ đại [Ancients]. Vì giá trị của tính biểu tượng ở đây phụ thuộc duy nhất vào một tiến trình hoá sao (đó là, sự phóng chiếu của một trật tự tâm thần đã có thành trật tự bầu trời, hoặc sự diễn giải của một ‘chuỗi’ năng lực giải thích những hiện tượng trong thế giới tâm lí và tinh thần) nên chúng ta không cần phải xem xét câu hỏi phức tạp rằng hệ thống Ptolemy (được xác nhận một phần bởi Thuyết Tương đối [Theory of Relativity]) có thể hoà hợp với hệ thống Copernicus tới đâu. Continue reading

J. E. Cirlot – Ếch

Ếch đại diện cho sự chuyển tiếp từ Nguyên tố đất đến Nguyên tố nước, và ngược lại. Kết nối này cùng sự mắn đẻ tự nhiên là một thuộc tính bắt nguồn từ đặc tính lưỡng cư của nó (50), và nó cũng là một sinh vật mang tính trăng với cùng lí do này; có nhiều truyền thuyết kể về một con ếch trên mặt trăng, và trong nhiều nghi lễ nó được coi là có thể cầu gọi mưa rào (17). Ở Ai-cập, nó là một tượng vật của Herit, vị nữ thần đã hỗ trợ Isis trong nghi lễ hồi sinh Osiris. Do vậy, những con ếch nhỏ xuất hiện tại sông Nile vài ngày trước khi nước sông tràn bờ được coi là những điềm triệu của sự phì nhiêu (39). Theo Blavatsky, ếch là một trong những sinh vật chính yếu liên quan đến ý tưởng về sự sáng tạo và hồi sinh, không chỉ vì nó lưỡng cư mà còn bởi những chu kì xuất hiện và biến mất luân phiên của nó (những pha biểu thị đặc điểm tương tự của mọi sinh vật mang tính trăng). Các vị thần ếch từng được đặt trên những xác ướp và những người Kitô-giáo thuở đầu đã kết hợp họ vào hệ thống biểu tượng của mình (9). Cóc là một tương phản của ếch, như tò vò là tương phản của ong mật. Jung gọt giũa tất cả điều trên qua một bình luận rằng, với cấu tạo cơ thể của nó, hơn bất kì loài sinh vật máu lạnh nào, ếch thấy trước Con người; và Ania Teillard gợi nhắc rằng ở trung tâm bức tranh The Temptation of St. Anthony (Sự cám dỗ của Thánh Anthony), Bosch đặt một con ếch, với cái đầu của một con người già nua, thăng bằng trên một cái đĩa được giữ bởi một Người nữ da đen. Ở đây nó đại diện cho giai đoạn cao nhất của sự tiến hoá. Do đó, ‘sự biến hình của hoàng tử thành ếch’ thường xảy ra trong những truyền thuyết và truyện kể dân gian (56).

K.H. dịch
2015.01.21

Nguyên chú của tác giả:
(9) BLAVATSKY, H. P. The Secret Doctrine. London, 1888
(17) ELIADE, Mircea. Tratado de historia de las religiones. Madrid, 1954
(39) MARQUÈS RIVIÈRE, J. Amulettes, talismans et pantacles. Paris, 1950
(50) SCHNEIDER, Marius. El origen musical de los animales-símbolos en la mitología y la escultura antiguas. Barcelona, 1946
(56) TEILLARD, Ania. Il Simbolismo dei Sogni. Milan, 1951

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Frog” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Ngựa

Tính biểu tượng của ngựa cực kì phức tạp, và chắc chắn không được định nghĩa sáng rõ. Eliade phát hiện nó là sinh vật gắn liền với những nghi thức chôn cất trong những lễ bái âm giới (17), trong khi Mertens Stienon coi nó như một biểu tượng cổ xưa của sự vận động tuần hoàn của thế giới hiện tượng; do đó những con ngựa, mà Neptune (thần Biển) với cây đinh ba của ông thúc khỏi những con sóng, tượng trưng cho những lực lượng vũ trụ trào ra khỏi Akasha – những lực lượng không nhìn thấy được của hỗn mang nguyên thuỷ (39). Áp dụng quan niệm thứ hai này vào phương diện thần kinh sinh lí, Diel kết luận rằng ngựa đại diện cho những khát khao mãnh liệt và bản năng, phù hợp với tính biểu tượng chung của vật cưỡi – và cỗ xe (15). Continue reading

J. E. Cirlot – Đền thờ

Từ ‘temple’ bắt nguồn từ gốc tem – ‘chia’. Những nhà tiên tri Etruria đã tạo ra một sự phân chia bầu trời bằng sự giao cắt của hai đường thẳng tại một điểm ngay trên đầu, điểm giao cắt trở thành một hình chiếu của khái niệm về ‘Trung-tâm’, và các đường thẳng đại diện cho hai ‘hướng’ của mặt phẳng; đường thẳng bắc-nam được gọi là cardo và đường thẳng đông-tây là decumanus. Các hiện tượng được diễn dịch theo trạng thái của chúng trong sự phân chia không gian này. Do đó, đền thờ trần thế được coi như một hình ảnh của đền thờ thiên giới và cấu trúc cơ bản của nó được xác định bởi những suy xét về trật tự và sự định hướng (7). Đền thờ ban cấp một ý nghĩa đặc trưng và bổ sung cho tính biểu tượng chung của những cấu trúc xây dựng. Nói rộng ra, đây là sự tạo nghĩa huyền bí của ‘Trung-tâm’ vốn thắng thế; đặc biệt, đền thờ và bàn thờ được đồng nhất với biểu tượng của đỉnh-núi như là tiêu điểm giao cắt của hai thế giới thiên giới và trần thế. Continue reading

J. E. Cirlot – Mercury

Vị thần hành tinh và kim loại mang tên ông. Trong thiên văn học, ông là con trai của bầu trời và ánh sáng; trong thần thoại, ông được sinh ra bởi Jupiter và Maia. Về căn cốt ông là sứ giả của thiên giới. Tên Hi-lạp của ông là Hermes nghĩa là ‘người thông giải’ hoặc ‘người hoà giải’. Do đó nhiệm vụ của ông là dẫn dắt những linh hồn của người chết đến Âm giới. Cũng như Hecate, ông thường có ba dạng, do đó, được biểu thị với ba cái đầu. Ông toát yếu quyền năng của phát ngôn – biểu tượng của lời lẽ; và đối với những người theo thuyết Ngộ-đạo ông là logos spermatikos [nguyên lí sinh sôi của Vũ trụ] tản mạn trong vũ trụ, một ý tưởng được lựa chọn bởi các nhà luyện đan là những người đặt Thuỷ ngân ngang hàng với những khái niệm thân thuộc về sự lưu loát và biến hoá (9). Đồng thời, ông được coi là vị thần của đường sá (do đó, của những tiềm lực) (4). Trong khoa chiêm tinh ông được xác định như ‘năng lượng trí tuệ’. Hệ thần kinh được điều khiển bởi ông, vì các dây thần kinh là những sứ giả trên bình diện sinh vật (40). Hầu như chính các nhà luyện đan, với những ức đoán tuyệt đỉnh của mình, đã thâm nhập sâu nhất vào cấu trúc nguyên mẫu của Thuỷ ngân. Trong nhiều trường hợp họ đã đồng nhất chất-biến-tố [transmutation-substance] của họ với ‘hành tinh sống’, do đó, với vị thần mà kim loại của ngài có màu trắng và rõ ràng mang tính trăng. Tuy nhiên, vì Thuỷ tinh là hành tinh gần nhất với mặt trời (liên quan đến kim loại vàng), nên kết quả nguyên mẫu trên mang một bản chất kép (của một vị thần âm giới và một vị thần thiên giới – một thể lưỡng tính) (32). Kim loại Thuỷ ngân tượng trưng cho vô thức vì tính lỏng và mang động lực của nó; về căn cốt nó mang tính kép vì, một mặt, nó là một hữu thể cấp thấp, một ác quỷ hay quái vật, nhưng trong ý nghĩa khác nó lại là ‘đứa trẻ của những triết gia’ (33). Do đó, năng lực biến đổi vô hạn của nó (như trong trường hợp của mọi loại chất lỏng) trở thành biểu tượng trong mục tiêu căn cốt của nhà luyện đan để biến vật chất (và tinh thần) từ dạng cấp thấp đến dạng cấp cao, từ dạng tạm thời đến dạng ổn cố. Thuỷ ngân cũng được cho là có một năng lực vô hạn trong sự thâm nhập (32). Từ đồng nghĩa của nó Monstrum hermaphroditus [Quái vật lưỡng tính]Rebis (‘cái gấp đôi’) hé lộ sự kết nối gần gũi của nó với thần thoại Song nam (Atma và Buddhi); biểu hiện của nó như một hình tượng tính nữ và Anima mundi (32) thường thấy và đáng chú ý hơn là sự thu hút bởi nguyên lí tính nam đơn thuần của nó. Trong sự kết nối này René Alleau gợi nhắc rằng những giai đoạn căn cốt của tiến trình luyện đan là: vật chất căn bản, Thuỷ ngân, Lưu huỳnh, Đá [Lapis]. Giai đoạn đầu tương ứng với sự trung hoà; giai đoạn hai với nguyên lí tính trăng và tính nữ; giai đoạn ba với tính nam và mặt trời, giai đoạn bốn với sự tổng hợp nguyên chất (mà Jung đồng nhất với tiến trình của sự cá nhân hoá). Những vật tượng trưng của Mercury là chiếc nón có cánh và đôi hài, y hiệu, cái gậy, con rùa và đàn lia (vật mà ông đã sáng tạo và trao tặng Apollo) (8).

K.H. dịch
2015.01.13

Nguyên chú của tác giả:
(4) BAYLEY, HAROLD. The Lost Language of Symbolism. London, 1912 (repr. 1951)
(8) B. G. P. Diccionario universal de la mitología. Barcelona, 1835
(9) BLAVATSKY, H. P. The Secret Doctrine. London, 1888
(32) JUNG, C. G. Psychology and Alchemy (Collected Works, 12). London, 1953
(33) JUNG, C. G. ‘Psychology of the Transference’. In The Practice of Psychotherapy (Collected Works, 16). London, 1954
(40) MERTENS STIENON, M. L’Occultisme du zodiaque. Paris, 1939

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Mercury” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Đàn lia

Một biểu tượng của sự liên hội hài hoà của những lực lượng vũ trụ, một liên hội mà, trong thể hỗn mang của nó, được biểu thị bằng một bầy cừu (40). Bảy dây của đàn lia tương ứng với bảy hành tinh. Timotheus thành Miletus đã tăng số dây đàn lên mười hai (tương ứng với các biểu tượng của vòng Hoàng đạo). Một loạt triển khai cùng dạng được thực hiện bởi Arnold Schoenberg trong thời đại chúng ta bằng cách ban cấp cùng giá trị cho những nốt của gam nửa cung như cho những nốt của gam nguyên, tạo ra một gam mới của mười hai nốt thay cho gam cũ của bảy nốt. Schneider suy ra một so sánh giữa đàn lia và lửa, gợi nhắc rằng trong đền thờ ở Jerusalem (theo Exodus xxxviii, 2) có một bàn thờ với sừng ‘phủ đồng’ ở mỗi bên, và khói cúng tế bốc lên giữa chúng. Đàn lia, cũng vậy, phát ra âm thanh thông qua các sừng định hình các cạnh trong cấu trúc của nó, và đại diện cho mối liên hệ giữa trần thế và thiên đàng (50).

K.H. dịch
2015.01.13

Nguyên chú của tác giả:
(40) MERTENS STIENON, M. L’Occultisme du zodiaque. Paris, 1939
(50) SCHNEIDER, Marius. El origen musical de los animales-símbolos en la mitología y la escultura antiguas. Barcelona, 1946

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Lyre” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971