J. E. Cirlot – Ánh sáng

Theo truyền thống, ánh sáng ngang với tinh thần (9). Ély Star khẳng định rằng sự ưu việt của tinh thần có thể được nhận ra ngay lập tức bởi cường độ chiếu sáng của nó. Ánh sáng là biểu hiện của luân lí, của trí tuệ và bảy đức tính (54). Sự trắng sáng của nó ám chỉ một tổng hoà của Toàn thể (the All). Ánh sáng của bất kì màu sắc đã có nào đều sở hữu tính biểu tượng tương ứng với màu sắc ấy, cộng thêm tính tạo nghĩa của sự phát xạ từ ‘Trung tâm’, vì ánh sáng cũng là lực sáng tạo, năng lượng vũ trụ, sự chiếu sáng (57). Một cách tượng trưng, sự chiếu sáng đến từ phương Đông. Nói theo tâm lí học, trở nên sáng suốt nghĩa là trở nên nhận thức được nguồn sáng, vì vậy, nguồn sức mạnh tinh thần (32).

K.H. dịch
2015.02.09

Nguyên chú của tác giả:
(9) BLAVATSKY, H. P. The Secret Doctrine. London, 1888
(32) JUNG, C. G. Psychology and Alchemy (Collected Works, 12). London, 1953
(54) STAR, Ély. Les Mystères de l’Etre. Paris, 1902
(57) TESTI, Gino. Dizionario di Alchimia e di Chimica antiquaria. Rome, 1950

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Light” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

Advertisements

J. E. Cirlot – Mây

Có hai khía cạnh chính trong tính biểu tượng của mây: một mặt chúng có liên quan đến tính biểu tượng của sương mù, tạo nghĩa thế giới trung gian giữa sự-định-hình và sư-vô-định-hình; mặt khác chúng kết nối với ‘Nước Trên cao’ – vương quốc của Neptune (thần Biển) cổ xưa. Khía cạnh nguyên sơ của mây tượng trưng cho những hình thức như hiện tượng và vẻ ngoài, luôn trong một trạng thái biến hoá, che khuất phẩm chất bất biến của chân lí cao hơn (37). Khía cạnh thứ hai của mây biểu lộ sự kết nối họ hàng với tính biểu tượng của sự màu mỡ và mối liên hệ tương tự của chúng với tất cả những gì được xác định đem lại sự phì nhiêu. Do đó truyền thống biểu tượng Kitô-giáo cổ diễn giải mây đồng nghĩa với nhà tiên tri, vì những lời tiên tri là nguồn mạch sâu kín của sự làm màu mỡ (fertilization), mang tính chất thiên đàng trong nguồn cội (46). Do đó cũng dẫn đến kết luận của Bachelard rằng mây nên được coi như một sứ giả tượng trưng (3).

K.H. dịch
2015.02.09

Nguyên chú của tác giả:
(3) BACHELARD, GASTON. L’Air et les Songes. Paris, 1943
(37) LÉVI, Éliphas. Les Mystères de la Kabbale. Paris, 1920
(46) PINEDO, Ramiro de. El Simbolismo en la escultura medieval española. Madrid, 1930

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Clouds” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Mưa

Mưa mang tính biểu tượng chủ yếu và hiển nhiên như một tác nhân làm màu mỡ, và có liên quan đến tính biểu tượng tổng quát của sự sống (26) và nước. Ngoài ra, với cùng một nguyên nhân, nó tạo nghĩa sự thanh lọc, không chỉ vì giá trị của nước như ‘vật chất phổ quát (universal substance)’ – như tác nhân trung gian giữa sự-vô-định-hình hoặc thể-khí và sự-định-hình hoặc thể-rắn, một khía cạnh phổ biến đối với tất cả các truyền thống biểu tượng (29) – mà còn vì thực tế rằng nước mưa rơi xuống từ trời cao (7). Do đó nó cũng có cùng nguồn gốc với ánh sáng. Điều này giải thích tại sao, trong nhiều thần thoại, mưa được coi là một biểu tượng của ‘uy lực tinh thần’ của thiên giới giáng xuống trần thế (28). Trong khoa luyện đan, mưa tượng trưng cho sự ngưng tụ hoặc sự tẩy trắng (albification) – minh chứng rõ hơn rằng, với những nhà luyện đan, nước và ánh sáng thuộc cùng họ biểu tượng.

K.H. dịch
2015.02.09

Nguyên chú của tác giả:
(7) BERTHELOT, René. La pensée de l’Asie et l’astrobiologie. Paris, 1949
(26) GUÉNON, René. Man and his Becoming according to the Vedanta. London, 1945
(28) GUÉNON, René. Le Roi du monde. Paris, 1950
(29) GUÉNON, René. Aperçu sur l’Initiation. Paris

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Rain” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Sương

Tất cả những gì giáng xuống từ trời cao (sấm sét, thiên thạch, vẫn thạch, mưa hoặc sương) đều mang một đặc tính linh thiêng. Nhưng sương mang một tạo nghĩa kép, đồng thời ám chỉ sự chiếu sáng tinh thần, vì nó là báo hiệu chân chính của bình minh và ngày đang đến (33). Thứ nước tinh khiết, trong trẻo của sương, theo một số truyền thống, kết nối gần gũi với ý niệm về ánh sáng. Ở Viễn Đông (Far East) thỉnh thoảng người ta nhắc đến ‘cây sương ngọt’ mọc trên núi Kuen-Lun (Côn Lôn), tương đương với núi Meru của người Ấn-giáo và những ngọn núi thiêng khác tượng trưng cho trục-thế-giới. Ánh sáng lan toả từ cây này (25), và, qua tiến trình cảm giác kết hợp (synaesthesia), nó được biết đến như ‘cây hát’ trong truyền thuyết và truyền thống dân gian.

K.H. dịch
2015.02.09

Nguyên chú của tác giả:
(25) GUÉNON, René. Le Symbolisme de la croix. Paris, 1931
(33) JUNG, C. G. ‘Psychology of the Transference’. In The Practice of Psychotherapy (Collected Works, 16). London, 1954

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Dew” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Sương mù

Sương mù tượng trưng cho những gì vô định, hoặc sự dung hợp của các Nguyên tố khí và nước, và sự mịt mờ không thể tránh khỏi của đường nét từng khía cạnh và từng pha đặc trưng trong diễn trình tiến hoá. ‘Sương lửa’ là một giai đoạn của sự sống vũ trụ theo sau trạng thái hỗn mang (9) và tương ứng với ba Nguyên tố tồn tại trước Nguyên tố rắn đặc – đất.

K.H. dịch
2015.02.09

Nguyên chú của tác giả:
(9) BLAVATSKY, H. P. The Secret Doctrine. London, 1888

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Mist” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Đại dương

Theo Piobb, quan niệm Hi-La về đại dương bao quanh trái đất là một biểu tượng sống động của dòng năng lượng được tạo ra bởi quả địa cầu (48). Bên cạnh vẻ hùng vĩ của nó, hai khía cạnh căn cốt nhất của đại dương là sự vận động không ngừng của nó và tính vô định hình của nước biển. Do đó, nó là một biểu tượng của những năng lượng động lực và những trạng thái chuyển tiếp giữa sự ổn cố (hoặc những thể rắn) và sự vô định hình (khí hoặc hơi). Đại dương như một toàn thể, đối ngược với khái niệm về giọt nước, là một biểu tượng của sự sống vũ trụ đối ngược với sự sống cá biệt (38). Theo truyền thống nó được coi là nguồn gốc phát sinh của mọi đời sống (57), và khoa học đã xác nhận sự sống thực sự đã bắt đầu từ biển cả (3). Zimmer nhận xét rằng đại dương là ‘phi-luận-lí bao la (immense illogic)’ – một dải mênh mông đang mơ những giấc mộng của riêng nó và say ngủ trong thực tại của riêng nó, hơn nữa còn chứa đựng trong mình những chủng tử của sự tương phản. Đảo là đối phương của đại dương và tượng trưng cho mặt siêu hình của năng lượng soi sáng (60). Continue reading

J. E. Cirlot – Bóng tối

Ngang với vật chất, với tính mẹ và tính nảy nở, nhưng nó có mặt trước sự phân hoá của vật chất (9). Tính nhị nguyên ánh sáng / bóng tối không nảy sinh như một thể thức tượng trưng của luân lí cho đến khi bóng tối nguyên thuỷ được tách thành ánh sáng và bóng tối. Do đó, khái niệm thuần tuý của bóng tối, trong truyền thống biểu tượng, không tương đồng với sự tăm tối – mà ngược lại, nó tương ứng với hỗn mang nguyên thuỷ. Nó cũng có liên quan đến hư không huyền bí, và, vì vậy, ngôn ngữ Bí ẩn (Hermetic language) là một obscurum per obscurius, một con đường dẫn về bí mật sâu thẳm của Cội nguồn. Theo Guénon, ánh sáng là nguyên lí cơ bản sau sự phân hoá và trật tự tôn ti. Sự tăm tối có trước trong Fiat Lux, trong phái biểu tượng truyền thống, luôn đại diện cho trạng thái dẫn đến hỗn mang của những tiềm lực không được khai phóng (29). Do đó, bóng tối lan truyền vào thế giới, sau sự có mặt của ánh sáng, là thoái bộ; cũng do đó, thực tế theo truyền thống nó được liên kết với nguyên lí cái ác và những năng lượng nền tảng, không được thăng hoa.

K.H. dịch
2015.02.06

Nguyên chú của tác giả:
(9) BLAVATSKY, H. P. The Secret Doctrine. London, 1888
(29) GUÉNON, René. Aperçu sur l’Initiation. Paris

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Darkness” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Nước

Trong hệ chữ tượng hình Ai-cập, biểu tượng của nước là một đường lượn sóng với những ngọn sắc nhỏ, đại diện cho mặt nước. Một biểu tượng tương tự, khi gấp ba, tượng trưng cho một khối nước, đó là, đại dương nguyên thuỷ và vật chất đầu tiên. Theo truyền thống bí ẩn, thần Nu là thực thể mà từ đó các vị thần của bộ chín đầu tiên hiện ra (19). Người Trung-hoa coi nước như nơi ở riêng của rồng, vì mọi đời sống đều bắt nguồn từ nước (13). Trong kinh Vệ-đà, nước được coi là mâtritamâh (mẹ vĩ đại nhất) vì, vào khởi thuỷ, mọi thứ như một biển nước không ánh sáng. Ở Ấn-độ, nguyên tố này được coi là đấng bảo hộ của sự sống một cách rộng rãi, tuần hoàn xuyên suốt toàn thể tự nhiên, trong hình thức của mưa, nhựa cây, sữa và máu. Vô hạn và bất tử, nước là khởi thuỷ và kết cuộc của mọi thứ trên trái đất (60). Continue reading

J. E. Cirlot – Các hành tinh

Các hành tinh cấu thành một trật tự đặc trưng trong vũ trụ. Đây là công việc của khoa học về thiên văn nghiên cứu chúng từ một quan điểm tự nhiên và toán học, dựa trên nền tảng của hệ thống mà Copernicus đã thiết lập với De Revolutionibus Orbium Coelestium [Về những sự quay vòng của các thiên thể] năm 1543 của ông, theo đó mặt trời là trung tâm vây quanh bởi tập hợp quỹ đạo của các hành tinh: Thuỷ tinh [Mercury], gần nhất, kế đến là Kim tinh [Venus], Trái đất [Earth], Hoả tinh [Mars], các Tiểu hành tinh [Asteroids], Mộc tinh [Jupiter], Thổ tinh [Saturn], Thiên vương tinh [Uranus], Hải vương tinh [Neptune] (và Diêm vương tinh [Pluto]). Nhưng khoa chiêm tinh và biểu tượng truyền thống lấy cảm hứng không phải từ hệ thống của Copernicus mà là từ hệ thống đã được công nhận bởi Người Cổ đại [Ancients]. Vì giá trị của tính biểu tượng ở đây phụ thuộc duy nhất vào một tiến trình hoá sao (đó là, sự phóng chiếu của một trật tự tâm thần đã có thành trật tự bầu trời, hoặc sự diễn giải của một ‘chuỗi’ năng lực giải thích những hiện tượng trong thế giới tâm lí và tinh thần) nên chúng ta không cần phải xem xét câu hỏi phức tạp rằng hệ thống Ptolemy (được xác nhận một phần bởi Thuyết Tương đối [Theory of Relativity]) có thể hoà hợp với hệ thống Copernicus tới đâu. Continue reading

J. E. Cirlot – Ếch

Ếch đại diện cho sự chuyển tiếp từ Nguyên tố đất đến Nguyên tố nước, và ngược lại. Kết nối này cùng sự mắn đẻ tự nhiên là một thuộc tính bắt nguồn từ đặc tính lưỡng cư của nó (50), và nó cũng là một sinh vật mang tính trăng với cùng lí do này; có nhiều truyền thuyết kể về một con ếch trên mặt trăng, và trong nhiều nghi lễ nó được coi là có thể cầu gọi mưa rào (17). Ở Ai-cập, nó là một tượng vật của Herit, vị nữ thần đã hỗ trợ Isis trong nghi lễ hồi sinh Osiris. Do vậy, những con ếch nhỏ xuất hiện tại sông Nile vài ngày trước khi nước sông tràn bờ được coi là những điềm triệu của sự phì nhiêu (39). Theo Blavatsky, ếch là một trong những sinh vật chính yếu liên quan đến ý tưởng về sự sáng tạo và hồi sinh, không chỉ vì nó lưỡng cư mà còn bởi những chu kì xuất hiện và biến mất luân phiên của nó (những pha biểu thị đặc điểm tương tự của mọi sinh vật mang tính trăng). Các vị thần ếch từng được đặt trên những xác ướp và những người Kitô-giáo thuở đầu đã kết hợp họ vào hệ thống biểu tượng của mình (9). Cóc là một tương phản của ếch, như tò vò là tương phản của ong mật. Jung gọt giũa tất cả điều trên qua một bình luận rằng, với cấu tạo cơ thể của nó, hơn bất kì loài sinh vật máu lạnh nào, ếch thấy trước Con người; và Ania Teillard gợi nhắc rằng ở trung tâm bức tranh The Temptation of St. Anthony (Sự cám dỗ của Thánh Anthony), Bosch đặt một con ếch, với cái đầu của một con người già nua, thăng bằng trên một cái đĩa được giữ bởi một Người nữ da đen. Ở đây nó đại diện cho giai đoạn cao nhất của sự tiến hoá. Do đó, ‘sự biến hình của hoàng tử thành ếch’ thường xảy ra trong những truyền thuyết và truyện kể dân gian (56).

K.H. dịch
2015.01.21

Nguyên chú của tác giả:
(9) BLAVATSKY, H. P. The Secret Doctrine. London, 1888
(17) ELIADE, Mircea. Tratado de historia de las religiones. Madrid, 1954
(39) MARQUÈS RIVIÈRE, J. Amulettes, talismans et pantacles. Paris, 1950
(50) SCHNEIDER, Marius. El origen musical de los animales-símbolos en la mitología y la escultura antiguas. Barcelona, 1946
(56) TEILLARD, Ania. Il Simbolismo dei Sogni. Milan, 1951

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Frog” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971