J. E. Cirlot – Đền thờ

Từ ‘temple’ bắt nguồn từ gốc tem – ‘chia’. Những nhà tiên tri Etruria đã tạo ra một sự phân chia bầu trời bằng sự giao cắt của hai đường thẳng tại một điểm ngay trên đầu, điểm giao cắt trở thành một hình chiếu của khái niệm về ‘Trung-tâm’, và các đường thẳng đại diện cho hai ‘hướng’ của mặt phẳng; đường thẳng bắc-nam được gọi là cardo và đường thẳng đông-tây là decumanus. Các hiện tượng được diễn dịch theo trạng thái của chúng trong sự phân chia không gian này. Do đó, đền thờ trần thế được coi như một hình ảnh của đền thờ thiên giới và cấu trúc cơ bản của nó được xác định bởi những suy xét về trật tự và sự định hướng (7). Đền thờ ban cấp một ý nghĩa đặc trưng và bổ sung cho tính biểu tượng chung của những cấu trúc xây dựng. Nói rộng ra, đây là sự tạo nghĩa huyền bí của ‘Trung-tâm’ vốn thắng thế; đặc biệt, đền thờ và bàn thờ được đồng nhất với biểu tượng của đỉnh-núi như là tiêu điểm giao cắt của hai thế giới thiên giới và trần thế. Continue reading

Advertisements

J. E. Cirlot – Mercury

Vị thần hành tinh và kim loại mang tên ông. Trong thiên văn học, ông là con trai của bầu trời và ánh sáng; trong thần thoại, ông được sinh ra bởi Jupiter và Maia. Về căn cốt ông là sứ giả của thiên giới. Tên Hi-lạp của ông là Hermes nghĩa là ‘người thông giải’ hoặc ‘người hoà giải’. Do đó nhiệm vụ của ông là dẫn dắt những linh hồn của người chết đến Âm giới. Cũng như Hecate, ông thường có ba dạng, do đó, được biểu thị với ba cái đầu. Ông toát yếu quyền năng của phát ngôn – biểu tượng của lời lẽ; và đối với những người theo thuyết Ngộ-đạo ông là logos spermatikos [nguyên lí sinh sôi của Vũ trụ] tản mạn trong vũ trụ, một ý tưởng được lựa chọn bởi các nhà luyện đan là những người đặt Thuỷ ngân ngang hàng với những khái niệm thân thuộc về sự lưu loát và biến hoá (9). Đồng thời, ông được coi là vị thần của đường sá (do đó, của những tiềm lực) (4). Trong khoa chiêm tinh ông được xác định như ‘năng lượng trí tuệ’. Hệ thần kinh được điều khiển bởi ông, vì các dây thần kinh là những sứ giả trên bình diện sinh vật (40). Hầu như chính các nhà luyện đan, với những ức đoán tuyệt đỉnh của mình, đã thâm nhập sâu nhất vào cấu trúc nguyên mẫu của Thuỷ ngân. Trong nhiều trường hợp họ đã đồng nhất chất-biến-tố [transmutation-substance] của họ với ‘hành tinh sống’, do đó, với vị thần mà kim loại của ngài có màu trắng và rõ ràng mang tính trăng. Tuy nhiên, vì Thuỷ tinh là hành tinh gần nhất với mặt trời (liên quan đến kim loại vàng), nên kết quả nguyên mẫu trên mang một bản chất kép (của một vị thần âm giới và một vị thần thiên giới – một thể lưỡng tính) (32). Kim loại Thuỷ ngân tượng trưng cho vô thức vì tính lỏng và mang động lực của nó; về căn cốt nó mang tính kép vì, một mặt, nó là một hữu thể cấp thấp, một ác quỷ hay quái vật, nhưng trong ý nghĩa khác nó lại là ‘đứa trẻ của những triết gia’ (33). Do đó, năng lực biến đổi vô hạn của nó (như trong trường hợp của mọi loại chất lỏng) trở thành biểu tượng trong mục tiêu căn cốt của nhà luyện đan để biến vật chất (và tinh thần) từ dạng cấp thấp đến dạng cấp cao, từ dạng tạm thời đến dạng ổn cố. Thuỷ ngân cũng được cho là có một năng lực vô hạn trong sự thâm nhập (32). Từ đồng nghĩa của nó Monstrum hermaphroditus [Quái vật lưỡng tính]Rebis (‘cái gấp đôi’) hé lộ sự kết nối gần gũi của nó với thần thoại Song nam (Atma và Buddhi); biểu hiện của nó như một hình tượng tính nữ và Anima mundi (32) thường thấy và đáng chú ý hơn là sự thu hút bởi nguyên lí tính nam đơn thuần của nó. Trong sự kết nối này René Alleau gợi nhắc rằng những giai đoạn căn cốt của tiến trình luyện đan là: vật chất căn bản, Thuỷ ngân, Lưu huỳnh, Đá [Lapis]. Giai đoạn đầu tương ứng với sự trung hoà; giai đoạn hai với nguyên lí tính trăng và tính nữ; giai đoạn ba với tính nam và mặt trời, giai đoạn bốn với sự tổng hợp nguyên chất (mà Jung đồng nhất với tiến trình của sự cá nhân hoá). Những vật tượng trưng của Mercury là chiếc nón có cánh và đôi hài, y hiệu, cái gậy, con rùa và đàn lia (vật mà ông đã sáng tạo và trao tặng Apollo) (8).

K.H. dịch
2015.01.13

Nguyên chú của tác giả:
(4) BAYLEY, HAROLD. The Lost Language of Symbolism. London, 1912 (repr. 1951)
(8) B. G. P. Diccionario universal de la mitología. Barcelona, 1835
(9) BLAVATSKY, H. P. The Secret Doctrine. London, 1888
(32) JUNG, C. G. Psychology and Alchemy (Collected Works, 12). London, 1953
(33) JUNG, C. G. ‘Psychology of the Transference’. In The Practice of Psychotherapy (Collected Works, 16). London, 1954
(40) MERTENS STIENON, M. L’Occultisme du zodiaque. Paris, 1939

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Mercury” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Đàn lia

Một biểu tượng của sự liên hội hài hoà của những lực lượng vũ trụ, một liên hội mà, trong thể hỗn mang của nó, được biểu thị bằng một bầy cừu (40). Bảy dây của đàn lia tương ứng với bảy hành tinh. Timotheus thành Miletus đã tăng số dây đàn lên mười hai (tương ứng với các biểu tượng của vòng Hoàng đạo). Một loạt triển khai cùng dạng được thực hiện bởi Arnold Schoenberg trong thời đại chúng ta bằng cách ban cấp cùng giá trị cho những nốt của gam nửa cung như cho những nốt của gam nguyên, tạo ra một gam mới của mười hai nốt thay cho gam cũ của bảy nốt. Schneider suy ra một so sánh giữa đàn lia và lửa, gợi nhắc rằng trong đền thờ ở Jerusalem (theo Exodus xxxviii, 2) có một bàn thờ với sừng ‘phủ đồng’ ở mỗi bên, và khói cúng tế bốc lên giữa chúng. Đàn lia, cũng vậy, phát ra âm thanh thông qua các sừng định hình các cạnh trong cấu trúc của nó, và đại diện cho mối liên hệ giữa trần thế và thiên đàng (50).

K.H. dịch
2015.01.13

Nguyên chú của tác giả:
(40) MERTENS STIENON, M. L’Occultisme du zodiaque. Paris, 1939
(50) SCHNEIDER, Marius. El origen musical de los animales-símbolos en la mitología y la escultura antiguas. Barcelona, 1946

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Lyre” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Nhộng

Theo lời Vương Sung (王充): ‘Nhộng có trước ve sầu; đơn giản bằng cách thay đổi hình dạng của mình, nó trở thành ve sầu. Khi linh hồn rời khỏi thân xác, điều đó tương đồng với một con ve sầu lìa bỏ cái kén của nó để trở thành một loài côn trùng.’ Trong cái nhìn của Schneider, chức năng huyền bí của một sự biến đổi như vậy giả định trước những đặc tính của sự cân bằng, sự tái tạo và lòng dũng cảm (51). Mặt nạ trong nghi lễ, cũng như mặt-nạ-sân-khấu, hầu như có kết nối gần gũi với ý tưởng về nhộng và sự biến hoá. Vì, sau mặt nạ này, sự biến đổi tính cách của một cá nhân được ẩn giấu khỏi tầm mắt.

K.H. dịch
2015.01.08

Nguyên chú của tác giả:
(51) SCHNEIDER, Marius. La danza de espadas y la tarantela. Barcelona, 1948

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Chrysalis” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Ong

Trong ngôn ngữ tượng hình Ai-cập, biểu hiệu của ong là một từ hạn định trong danh pháp hoàng gia, một phần vì sự tương đồng với tổ chức vương quốc của loài côn trùng này, nhưng đặc biệt hơn bởi những ý tưởng về tính chăm chỉ, hoạt động sáng tạo và sự thịnh vượng liên đới với sản lượng mật ong (19). Trong truyện ngụ ngôn của Samson (Judges xiv, 8) con ong hiện ra trong cùng ý nghĩa này. Tại Hi-lạp nó là biểu tượng của công việc và sự tuân phục. Theo một truyền thống Delphi, cái thứ hai trong số những đền thờ xây ở Delphi đã được dựng lên bởi những con ong. Trong lời dạy của Orpheus, những linh hồn được tượng trưng bởi những con ong, không chỉ bởi sự liên đới với mật ong mà còn bởi chúng di trú theo đàn rời khỏi tổ, vì người ta cho rằng những linh hồn ‘tụ đàn’ rời khỏi nhất thể thiêng liêng theo một thể cách tương tự (40). Trong tính biểu tượng Kitô-giáo, và đặc biệt suốt thời kì Lãng mạn, những con ong là những biểu tượng của sự siêng năng và tài hùng biện (20). Trong những truyền thống Ấn-Aryan và Moslem chúng có cùng sự tạo nghĩa tinh thần thuần khiết như trong lời dạy của Orpheus (50).

K.H. dịch
2015.01.08

Nguyên chú của tác giả:
(19) ENEL. La langue sacrée. Paris, 1932
(20) FERGUSON, George W. Signs and Symbols in Christian Art. New York, 1954
(40) MERTENS STIENON, M. L’Occultisme du zodiaque. Paris, 1939
(50) SCHNEIDER, Marius. El origen musical de los animales-símbolos en la mitología y la escultura antiguas. Barcelona, 1946

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Bee” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Đàn hạc

Ngang với ngựa trắng (4) và cái thang huyền bí. Nó đóng vai trò như một cầu nối giữa thiên đàng và trần thế. Đây là lí do vì sao, trong Edda, các anh hùng bày tỏ khát khao của họ được đem theo một chiếc đàn hạc xuống mồ, để dễ dàng đưa lối họ đến với thế giới khác. Cũng có một kết nối gần gũi giữa đàn hạc và thiên nga (50). Nó cũng có thể được coi như một biểu tượng của sức căng cố hữu của dây đàn với nỗ lực của nó hướng đến tình yêu và thế giới siêu nhiên, một tình cảnh của sự căng thẳng vốn câu rút con người trong từng khoảnh khắc của nỗi chờ mong thống khổ trong cuộc đời trần thế của y. Điều này có lẽ sẽ giải thích cho chi tiết của Garden of Delights (Khu vườn của Những niềm vui thú) của Bosch, chỗ một hình nhân bị câu rút treo trên những sợi dây đàn của một chiếc đàn hạc. Âm nhạc trở thành một biểu tượng của sự biểu lộ thuần khiết của Ý chí (Schopenhauer), đàn hạc có thể được coi như một hiện thân đặc trưng và đặc biệt mãnh liệt của âm thanh trong vai trò vật tải của sự căng thẳng và đau khổ, của hình thái và những sinh-lực.

Đàn hạc. Các chi tiết của Garden of Delights (Khu vườn của Những vui thú) của Bosch, trong đó tính biểu tượng kịch tính của chiếc đàn hạc có thể được trực cảm.

Các chi tiết của Garden of Delights (Khu vườn của Những niềm vui thú) của Bosch, trong đó tính biểu tượng đầy kịch tính của chiếc đàn hạc có thể được trực cảm.

K.H. dịch
2015.01.07

Nguyên chú của tác giả:
(4) BAYLEY, Harold. The Lost Language of Symbolism. London, 1912 (repr. 1951)
(50) SCHNEIDER, Marius. El origen musical de los animales-símbolos en la mitología y la escultura antiguas. Barcelona, 1946

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Harp” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Thiên nga

Một biểu tượng của sự phức tạp bao la. Sự dâng hiến của thiên nga dành cho Apollo, như vị thần của âm nhạc, xuất phát từ đức tin thần thoại rằng nó sẽ ca hát du dương lúc cận kề cái chết (8). Thiên nga đỏ là một biểu tượng của mặt trời (2). Nhưng hầu như mọi ý nghĩa đều liên quan đến thiên nga trắng, dâng lên Venus, đó là lí do vì sao Bachelard gợi ý rằng trong thơ ca và văn học nó là một hình tượng của người nữ khoả thân, của sự trần trụi trinh khiết và sự trắng trong vô nhiễm. Nhưng Bachelard tìm ra một sự tạo nghĩa còn sâu hơn: tính lưỡng tính, bởi trong cử động của nó và chắc chắn trong cái cổ dài có hình tượng dương vật của nó là tính nam còn trong hình thể mũm mĩm óng mượt của nó là tính nữ. Vậy tóm lại, thiên nga luôn nhắm chỉ sự thoả mãn trọn vẹn của một nỗi khát khao, tiếng hát thiên nga trở thành một ám chỉ đặc biệt nỗi khát khao dẫn đến cái chết của chính nó (2). Sự tạo nghĩa lưỡng nghịch này của thiên nga cũng phổ biến với các nhà luyện đan, những người so sánh nó với ‘Thuỷ ngân sáng suốt (philosophical Mercury)’ (57), Trung-tâm huyền bí và liên hội của những gì đối ngược, một diễn giải phù hợp hoàn toàn với những ẩn ý nguyên mẫu của nó (56). Ngày nay, trong cái nhìn của Schneider, thiên nga, vì mối liên hệ của nó với đàn hạc và con rắn cúng tế, cũng liên quan đến giàn thiêu, bởi vì những biểu tượng căn cốt của hành trình huyền bí đến thế giới khác (ngoại trừ con-thuyền-chết) chính là thiên nga và đàn hạc. Điều này sẽ ban cấp một giải nghĩa khác cho tiếng hát huyền bí của con thiên nga đang hấp hối. Thiên nga cũng có sức chịu đựng vượt chim công, dù vị trí có bị đảo ngược. Mối liên hệ thiên nga / đàn hạc, tương ứng với trục nước / lửa, biểu thị nỗi u sầu và đam mê, sự tự hiến, và con đường của nghệ thuật bi thảm và sự tuẫn đạo. Ngược lại, mối liên hệ chim công / đàn luýt, liên kết với đất / khí, có thể là một đại diện của tư duy luận lí (50). Như Jacques de Morgan đã trình bày trong L’Humanité préhistorique (Nhân loại tiền sử), nếu ngựa đã kéo cỗ xe của thần-Mặt-trời vào ban ngày, thì chính thiên nga sẽ kéo con thuyền của ngài trên mặt nước về đêm. Mối liên quan đến thần thoại này của truyền thuyết Lohengrin là hiển nhiên.

K.H. dịch
2015.01.07

Nguyên chú của tác giả:
(2) BACHELARD, Gaston. L’Eau et les Rêves. Paris, 1942
(8) B. G. P. Diccionario universal de la mitología. Barcelona, 1835
(50) SCHNEIDER, Marius. El origen musical de los animales-símbolos en la mitología y la escultura antiguas. Barcelona, 1946
(56) TEILLARD, Ania. Il Simbolismo dei Sogni. Milan, 1951
(57) TESTI, Gino. Dizionario di Alchimia e di Chimica antiquaria. Rome, 1950

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Swan” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

[Điểm phim] The Kingdom of Dreams and Madness (2013)

The Kingdom of Dreams and Madness (2013)

Bộ phim tài liệu này chủ yếu chú trọng vào Miyazaki Hayao và tác phẩm cuối cùng của ông, Kaze tachinu (The Wind Rises). Phim cho người xem cái nhìn tổng quan về quá trình làm việc của Studio Ghibli nói chung và Miyazaki nói riêng.

Cho đến giai đoạn cuối cùng của mình, thì Miyazaki (và cả Ghibli) đều trung thành với việc làm phim hoạt hình bằng phương thức vẽ tay. Cả hãng Ghibli 400 nhân viên thì hết 100 người được huy động để thực hiện Kaze tachinu, dưới sự giám sát và chỉ dẫn chặt chẽ của Miyazaki: từ động tác đi của nhân vật, đến cách phát ngôn, hành vi theo phong tục, nhất nhất đều chính xác từng li từng tí, nhằm phù hợp với thời đại bối cảnh trong phim. Continue reading

[Điểm phim] Boyhood (2014) – Từ cậu bé bầu bĩnh cho đến chàng trai râu ria: Trưởng thành theo thời gian thực

Tác giả: Manohla Dargis

Lời người dịch: Phim Boyhood (2014) của đạo diễn Richard Linklater là một phim hết sức đặc biệt, vì quá trình quay kéo dài 12 năm liên tục (thời gian quay mỗi năm chưa đến một tuần) với cùng một dàn diễn viên. Sau khi xem phim, tôi đã tìm đọc một số bài điểm phim của các nhà phê bình thuộc các tờ lớn như New York Times, New Statesman, New Republic, The Village Voice, Sight & Sound, Film Comment, Film Quarterly, v.v., và thấy bài này của bà Manohla Dargis thuộc tờ New York Times là bài viết tốt nhất và tuy chưa phải là đầy đủ hết nhưng cũng gần như bày tỏ được chính xác những điều cần nói về phim này.

Deana Newcomb - IFC Films

Deana Newcomb – IFC Films

Cảnh đầu tiên trong “Boyhood”, bộ phim dịu dàng, sâu sắc của Richard Linklater, là cảnh bầu trời nhiều mây. Cảnh thứ nhì là về một cậu bé đang nhìn chăm chăm vào bầu trời đó, với một cánh tay gập lại đặt dưới đầu, còn cánh tay kia vươn ra trên mặt đất. Cậu là một đứa trẻ xinh xẻo với đôi mắt điềm đạm, cái mũi hếch và cái miệng có hàm răng kín kẽ. Đây là gương mặt mà bạn sắp biết và sắp sửa yêu quý bởi vì, cũng như đứa trẻ này đang quan sát cõi sống, bạn đang quan sát cậu ta lớn lên. Từ cảnh này qua cảnh nọ, bạn sẽ thấy nét cong ở hàm của cậu thay đổi, sẽ để ý thấy đường chân mày đậm dần lên và chứng kiến đôi cánh tay thanh mảnh của cậu dang rộng ra ôm lấy cả cõi sống cùng bầu trời sáng tỏ lẫn bầu trời đang dần tối.

Được quay hơn 12 năm liên tục, “Boyhood” xoay quanh Mason (Ellar Coltrane), lên 6 lúc câu chuyện bắt đầu và được 18 khi câu chuyện kết thúc. Trong khoảng thời gian nằm giữa, cậu đi học; cãi nhau với cô chị, Samantha (Lorelei Linklater, con gái đạo diễn); và quan sát người mẹ của mình, Olivia (Patricia Arquette), tranh đấu với công việc và với đàn ông trong lúc xoay xở thanh toán các loại hoá đơn, chuyển từ nhà này sang nhà khác và đạt được một số bằng cấp. Đôi khi, chồng cũ của bà, Mason Sr. (Ethan Hawke), lao vào đời bọn trẻ, ban đầu bằng chiếc 1968 GTO. Đó không phải là chiếc xe hơi của người cha (mặc dù nó có thuộc về một người cha: ông Linklater). Mà thay vào đó, nó cùng mẫu với chiếc ngầu ngầu nam tính gầm gừ xuyên suốt “Two-Lane Blacktop”, một trong những phim ưa thích của ông Linklater, và là chiếc mà ông đã tuồn vào những bộ phim như “Slacker” và “Dazed and Confused”. Continue reading

Anne Applebaum – Hiểu về Stalin

 

Anne Applebaum

Hiểu về Stalin

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Làm thế nào Stalin lại trở thành Stalin? Hay nói đúng hơn: Làm thế nào mà Iosif Vissarionovič Džugašvili – cháu trai của những người nông nô, con trai của một nữ thợ giặt và một người thợ giày ít học – lại trở thành Tổng tư lệnh Stalin, một trong những kẻ sát nhân hàng loạt tàn bạo nhất mà thế giới từng biết? Làm thế nào mà một cậu bé sinh ra tại một thị trấn nơi vùng đồi hẻo lánh xứ Georgia lại trở thành một kẻ độc tài kiểm soát cả nửa châu Âu? Làm thế nào mà một chàng trai sùng đạo vốn chọn con đường theo học thành linh mục lại lớn lên trở thành một kẻ vô thần đầy nhiệt huyết cũng như một kẻ theo ý hệ Marx.

Chịu ảnh hưởng từ Freud, nhiều tiểu sử gia tham vọng – chưa nói đến các tâm lí gia, các triết gia và các sử gia – đều đi tìm câu trả lời ở thời thơ ấu của chủ thể mà họ đề cập. Cũng như sự cuồng tín của Hitler được “giải thích” bằng quá trình trưởng thành, bằng đời sống tình dục, hoặc bằng chuyện ông ta được cho là chỉ có một tinh hoàn, thì sự hung ác kiểu tâm lí biến thái của Stalin được quy cho người cha, mà theo chính lời Stalin, là người “đánh đập ông không thương tiếc”, hoặc quy cho người mẹ, một người có lẽ từng ngoại tình với một linh mục địa phương. Những lí giải khác đều đưa ra vụ tai nạn khiến Stalin có một cánh tay teo lại, vụ nhiễm trùng đậu mùa làm mặt ông ta đầy sẹo, hoặc vụ khiếm khuyết bẩm sinh làm dính hai ngón chân lại mang đến cho ông ta bàn chân trái có màng – một dấu hiệu của quỷ.

Chính trị cũng ảnh hưởng đến các tiểu sử gia về Stalin. Trong suốt thuở sinh thời, những kẻ đồng cảm biến ông ta thành một siêu anh hùng, nhưng những kẻ đối địch cũng áp đặt thiên kiến của mình. Vốn là kẻ thù ghê gớm nhất của Stalin, Leon Trotsky là người diễn giải Stalin có sức ảnh hưởng cực kì to lớn ở thế kỉ 20, định hình nên cách nhìn của một thế hệ sử gia, từ Issac Deutscher trở về sau. Stalin của Trotsky là một kẻ thiếu cơ trí và không có tính sảng khoái, một kẻ thất học và tỉnh lẻ đạt được quyền lực nhờ thao túng bộ máy quan liêu và nhờ bạo lực tàn khốc. Trên hết, Stalin của Trotsky là một kẻ xoay chiều ban đầu đã phản bội Lenin và sau đó phản bội sự nghiệp theo chủ nghĩa Marx. Bức chân dung như thế nhằm phục vụ một mục đích, chính là truyền cảm hứng để những kẻ theo Trotsky duy trì sự trung thành đối với cuộc cách mạng Xô-viết “đáng lẽ đã xảy ra” – nếu như trước đó người lên nắm quyền là Trotsky chứ không phải là một Stalin buồn thảm, dè dặt và yếm thế. Continue reading