J. E. Cirlot – Ngựa

Tính biểu tượng của ngựa cực kì phức tạp, và chắc chắn không được định nghĩa sáng rõ. Eliade phát hiện nó là sinh vật gắn liền với những nghi thức chôn cất trong những lễ bái âm giới (17), trong khi Mertens Stienon coi nó như một biểu tượng cổ xưa của sự vận động tuần hoàn của thế giới hiện tượng; do đó những con ngựa, mà Neptune (thần Biển) với cây đinh ba của ông thúc khỏi những con sóng, tượng trưng cho những lực lượng vũ trụ trào ra khỏi Akasha – những lực lượng không nhìn thấy được của hỗn mang nguyên thuỷ (39). Áp dụng quan niệm thứ hai này vào phương diện thần kinh sinh lí, Diel kết luận rằng ngựa đại diện cho những khát khao mãnh liệt và bản năng, phù hợp với tính biểu tượng chung của vật cưỡi – và cỗ xe (15). Continue reading

Advertisements

J. E. Cirlot – Đền thờ

Từ ‘temple’ bắt nguồn từ gốc tem – ‘chia’. Những nhà tiên tri Etruria đã tạo ra một sự phân chia bầu trời bằng sự giao cắt của hai đường thẳng tại một điểm ngay trên đầu, điểm giao cắt trở thành một hình chiếu của khái niệm về ‘Trung-tâm’, và các đường thẳng đại diện cho hai ‘hướng’ của mặt phẳng; đường thẳng bắc-nam được gọi là cardo và đường thẳng đông-tây là decumanus. Các hiện tượng được diễn dịch theo trạng thái của chúng trong sự phân chia không gian này. Do đó, đền thờ trần thế được coi như một hình ảnh của đền thờ thiên giới và cấu trúc cơ bản của nó được xác định bởi những suy xét về trật tự và sự định hướng (7). Đền thờ ban cấp một ý nghĩa đặc trưng và bổ sung cho tính biểu tượng chung của những cấu trúc xây dựng. Nói rộng ra, đây là sự tạo nghĩa huyền bí của ‘Trung-tâm’ vốn thắng thế; đặc biệt, đền thờ và bàn thờ được đồng nhất với biểu tượng của đỉnh-núi như là tiêu điểm giao cắt của hai thế giới thiên giới và trần thế. Continue reading

J. E. Cirlot – Mercury

Vị thần hành tinh và kim loại mang tên ông. Trong thiên văn học, ông là con trai của bầu trời và ánh sáng; trong thần thoại, ông được sinh ra bởi Jupiter và Maia. Về căn cốt ông là sứ giả của thiên giới. Tên Hi-lạp của ông là Hermes nghĩa là ‘người thông giải’ hoặc ‘người hoà giải’. Do đó nhiệm vụ của ông là dẫn dắt những linh hồn của người chết đến Âm giới. Cũng như Hecate, ông thường có ba dạng, do đó, được biểu thị với ba cái đầu. Ông toát yếu quyền năng của phát ngôn – biểu tượng của lời lẽ; và đối với những người theo thuyết Ngộ-đạo ông là logos spermatikos [nguyên lí sinh sôi của Vũ trụ] tản mạn trong vũ trụ, một ý tưởng được lựa chọn bởi các nhà luyện đan là những người đặt Thuỷ ngân ngang hàng với những khái niệm thân thuộc về sự lưu loát và biến hoá (9). Đồng thời, ông được coi là vị thần của đường sá (do đó, của những tiềm lực) (4). Trong khoa chiêm tinh ông được xác định như ‘năng lượng trí tuệ’. Hệ thần kinh được điều khiển bởi ông, vì các dây thần kinh là những sứ giả trên bình diện sinh vật (40). Hầu như chính các nhà luyện đan, với những ức đoán tuyệt đỉnh của mình, đã thâm nhập sâu nhất vào cấu trúc nguyên mẫu của Thuỷ ngân. Trong nhiều trường hợp họ đã đồng nhất chất-biến-tố [transmutation-substance] của họ với ‘hành tinh sống’, do đó, với vị thần mà kim loại của ngài có màu trắng và rõ ràng mang tính trăng. Tuy nhiên, vì Thuỷ tinh là hành tinh gần nhất với mặt trời (liên quan đến kim loại vàng), nên kết quả nguyên mẫu trên mang một bản chất kép (của một vị thần âm giới và một vị thần thiên giới – một thể lưỡng tính) (32). Kim loại Thuỷ ngân tượng trưng cho vô thức vì tính lỏng và mang động lực của nó; về căn cốt nó mang tính kép vì, một mặt, nó là một hữu thể cấp thấp, một ác quỷ hay quái vật, nhưng trong ý nghĩa khác nó lại là ‘đứa trẻ của những triết gia’ (33). Do đó, năng lực biến đổi vô hạn của nó (như trong trường hợp của mọi loại chất lỏng) trở thành biểu tượng trong mục tiêu căn cốt của nhà luyện đan để biến vật chất (và tinh thần) từ dạng cấp thấp đến dạng cấp cao, từ dạng tạm thời đến dạng ổn cố. Thuỷ ngân cũng được cho là có một năng lực vô hạn trong sự thâm nhập (32). Từ đồng nghĩa của nó Monstrum hermaphroditus [Quái vật lưỡng tính]Rebis (‘cái gấp đôi’) hé lộ sự kết nối gần gũi của nó với thần thoại Song nam (Atma và Buddhi); biểu hiện của nó như một hình tượng tính nữ và Anima mundi (32) thường thấy và đáng chú ý hơn là sự thu hút bởi nguyên lí tính nam đơn thuần của nó. Trong sự kết nối này René Alleau gợi nhắc rằng những giai đoạn căn cốt của tiến trình luyện đan là: vật chất căn bản, Thuỷ ngân, Lưu huỳnh, Đá [Lapis]. Giai đoạn đầu tương ứng với sự trung hoà; giai đoạn hai với nguyên lí tính trăng và tính nữ; giai đoạn ba với tính nam và mặt trời, giai đoạn bốn với sự tổng hợp nguyên chất (mà Jung đồng nhất với tiến trình của sự cá nhân hoá). Những vật tượng trưng của Mercury là chiếc nón có cánh và đôi hài, y hiệu, cái gậy, con rùa và đàn lia (vật mà ông đã sáng tạo và trao tặng Apollo) (8).

K.H. dịch
2015.01.13

Nguyên chú của tác giả:
(4) BAYLEY, HAROLD. The Lost Language of Symbolism. London, 1912 (repr. 1951)
(8) B. G. P. Diccionario universal de la mitología. Barcelona, 1835
(9) BLAVATSKY, H. P. The Secret Doctrine. London, 1888
(32) JUNG, C. G. Psychology and Alchemy (Collected Works, 12). London, 1953
(33) JUNG, C. G. ‘Psychology of the Transference’. In The Practice of Psychotherapy (Collected Works, 16). London, 1954
(40) MERTENS STIENON, M. L’Occultisme du zodiaque. Paris, 1939

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Mercury” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Đàn lia

Một biểu tượng của sự liên hội hài hoà của những lực lượng vũ trụ, một liên hội mà, trong thể hỗn mang của nó, được biểu thị bằng một bầy cừu (40). Bảy dây của đàn lia tương ứng với bảy hành tinh. Timotheus thành Miletus đã tăng số dây đàn lên mười hai (tương ứng với các biểu tượng của vòng Hoàng đạo). Một loạt triển khai cùng dạng được thực hiện bởi Arnold Schoenberg trong thời đại chúng ta bằng cách ban cấp cùng giá trị cho những nốt của gam nửa cung như cho những nốt của gam nguyên, tạo ra một gam mới của mười hai nốt thay cho gam cũ của bảy nốt. Schneider suy ra một so sánh giữa đàn lia và lửa, gợi nhắc rằng trong đền thờ ở Jerusalem (theo Exodus xxxviii, 2) có một bàn thờ với sừng ‘phủ đồng’ ở mỗi bên, và khói cúng tế bốc lên giữa chúng. Đàn lia, cũng vậy, phát ra âm thanh thông qua các sừng định hình các cạnh trong cấu trúc của nó, và đại diện cho mối liên hệ giữa trần thế và thiên đàng (50).

K.H. dịch
2015.01.13

Nguyên chú của tác giả:
(40) MERTENS STIENON, M. L’Occultisme du zodiaque. Paris, 1939
(50) SCHNEIDER, Marius. El origen musical de los animales-símbolos en la mitología y la escultura antiguas. Barcelona, 1946

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Lyre” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

[Time] Làm cách nào để đọc vị người khác như Sherlock Holmes: 4 chỉ dẫn từ các nghiên cứu

null

Chẳng phải sẽ rất tuyệt nếu chúng ta có thể nhìn vào ai đó và biết ngay tức thì họ là người như thế nào?

Sherlock Holmes thường xuyên làm việc đó và điều này cực kỳ cuốn hút (xem series Sherlock).

Đương nhiên, Sherlock Holmes là một nhân vật tưởng tượng và không ai có thể đọc vị người khác giỏi như thế. Tuy nhiên chúng ta có thể trở nên khá hơn trong việc này.

Nhưng bạn có thể học một kỹ năng như thế ở đâu? Và tôi muốn nói đến những phương pháp thực sự được củng cố bởi khoa học.

Vì vậy tôi đã gọi điện cho một anh chàng, người có câu trả lời: Sam Gosling.

Sam là một nhà tâm lý về tính cách con người tại đại học Texas, Austin và là tác giả cuốn Snoop: What Your Stuff Says about You. Sau đây là những gì bạn có thể học được từ Sam:

Những gì sẽ hiệu quả (và không hiệu quả) khi đọc vị người khác

Làm sao để có những ấn tượng đầu tiên tương đối chính xác (với con người thực của ai đó).

Những gì mà nhà cửa và chỗ làm việc của một người có thể cho bạn biết về họ.

Những gì mà Facebook của một người cho bạn biết về tính cách của họ.

Làm sao để biết được một người có đang giả tạo và nguỵ tạo một vỏ bọc sai lầm bên ngoài. Continue reading

J. E. Cirlot – Nhộng

Theo lời Vương Sung (王充): ‘Nhộng có trước ve sầu; đơn giản bằng cách thay đổi hình dạng của mình, nó trở thành ve sầu. Khi linh hồn rời khỏi thân xác, điều đó tương đồng với một con ve sầu lìa bỏ cái kén của nó để trở thành một loài côn trùng.’ Trong cái nhìn của Schneider, chức năng huyền bí của một sự biến đổi như vậy giả định trước những đặc tính của sự cân bằng, sự tái tạo và lòng dũng cảm (51). Mặt nạ trong nghi lễ, cũng như mặt-nạ-sân-khấu, hầu như có kết nối gần gũi với ý tưởng về nhộng và sự biến hoá. Vì, sau mặt nạ này, sự biến đổi tính cách của một cá nhân được ẩn giấu khỏi tầm mắt.

K.H. dịch
2015.01.08

Nguyên chú của tác giả:
(51) SCHNEIDER, Marius. La danza de espadas y la tarantela. Barcelona, 1948

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Chrysalis” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Ong

Trong ngôn ngữ tượng hình Ai-cập, biểu hiệu của ong là một từ hạn định trong danh pháp hoàng gia, một phần vì sự tương đồng với tổ chức vương quốc của loài côn trùng này, nhưng đặc biệt hơn bởi những ý tưởng về tính chăm chỉ, hoạt động sáng tạo và sự thịnh vượng liên đới với sản lượng mật ong (19). Trong truyện ngụ ngôn của Samson (Judges xiv, 8) con ong hiện ra trong cùng ý nghĩa này. Tại Hi-lạp nó là biểu tượng của công việc và sự tuân phục. Theo một truyền thống Delphi, cái thứ hai trong số những đền thờ xây ở Delphi đã được dựng lên bởi những con ong. Trong lời dạy của Orpheus, những linh hồn được tượng trưng bởi những con ong, không chỉ bởi sự liên đới với mật ong mà còn bởi chúng di trú theo đàn rời khỏi tổ, vì người ta cho rằng những linh hồn ‘tụ đàn’ rời khỏi nhất thể thiêng liêng theo một thể cách tương tự (40). Trong tính biểu tượng Kitô-giáo, và đặc biệt suốt thời kì Lãng mạn, những con ong là những biểu tượng của sự siêng năng và tài hùng biện (20). Trong những truyền thống Ấn-Aryan và Moslem chúng có cùng sự tạo nghĩa tinh thần thuần khiết như trong lời dạy của Orpheus (50).

K.H. dịch
2015.01.08

Nguyên chú của tác giả:
(19) ENEL. La langue sacrée. Paris, 1932
(20) FERGUSON, George W. Signs and Symbols in Christian Art. New York, 1954
(40) MERTENS STIENON, M. L’Occultisme du zodiaque. Paris, 1939
(50) SCHNEIDER, Marius. El origen musical de los animales-símbolos en la mitología y la escultura antiguas. Barcelona, 1946

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Bee” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Đàn hạc

Ngang với ngựa trắng (4) và cái thang huyền bí. Nó đóng vai trò như một cầu nối giữa thiên đàng và trần thế. Đây là lí do vì sao, trong Edda, các anh hùng bày tỏ khát khao của họ được đem theo một chiếc đàn hạc xuống mồ, để dễ dàng đưa lối họ đến với thế giới khác. Cũng có một kết nối gần gũi giữa đàn hạc và thiên nga (50). Nó cũng có thể được coi như một biểu tượng của sức căng cố hữu của dây đàn với nỗ lực của nó hướng đến tình yêu và thế giới siêu nhiên, một tình cảnh của sự căng thẳng vốn câu rút con người trong từng khoảnh khắc của nỗi chờ mong thống khổ trong cuộc đời trần thế của y. Điều này có lẽ sẽ giải thích cho chi tiết của Garden of Delights (Khu vườn của Những niềm vui thú) của Bosch, chỗ một hình nhân bị câu rút treo trên những sợi dây đàn của một chiếc đàn hạc. Âm nhạc trở thành một biểu tượng của sự biểu lộ thuần khiết của Ý chí (Schopenhauer), đàn hạc có thể được coi như một hiện thân đặc trưng và đặc biệt mãnh liệt của âm thanh trong vai trò vật tải của sự căng thẳng và đau khổ, của hình thái và những sinh-lực.

Đàn hạc. Các chi tiết của Garden of Delights (Khu vườn của Những vui thú) của Bosch, trong đó tính biểu tượng kịch tính của chiếc đàn hạc có thể được trực cảm.

Các chi tiết của Garden of Delights (Khu vườn của Những niềm vui thú) của Bosch, trong đó tính biểu tượng đầy kịch tính của chiếc đàn hạc có thể được trực cảm.

K.H. dịch
2015.01.07

Nguyên chú của tác giả:
(4) BAYLEY, Harold. The Lost Language of Symbolism. London, 1912 (repr. 1951)
(50) SCHNEIDER, Marius. El origen musical de los animales-símbolos en la mitología y la escultura antiguas. Barcelona, 1946

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Harp” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Thiên nga

Một biểu tượng của sự phức tạp bao la. Sự dâng hiến của thiên nga dành cho Apollo, như vị thần của âm nhạc, xuất phát từ đức tin thần thoại rằng nó sẽ ca hát du dương lúc cận kề cái chết (8). Thiên nga đỏ là một biểu tượng của mặt trời (2). Nhưng hầu như mọi ý nghĩa đều liên quan đến thiên nga trắng, dâng lên Venus, đó là lí do vì sao Bachelard gợi ý rằng trong thơ ca và văn học nó là một hình tượng của người nữ khoả thân, của sự trần trụi trinh khiết và sự trắng trong vô nhiễm. Nhưng Bachelard tìm ra một sự tạo nghĩa còn sâu hơn: tính lưỡng tính, bởi trong cử động của nó và chắc chắn trong cái cổ dài có hình tượng dương vật của nó là tính nam còn trong hình thể mũm mĩm óng mượt của nó là tính nữ. Vậy tóm lại, thiên nga luôn nhắm chỉ sự thoả mãn trọn vẹn của một nỗi khát khao, tiếng hát thiên nga trở thành một ám chỉ đặc biệt nỗi khát khao dẫn đến cái chết của chính nó (2). Sự tạo nghĩa lưỡng nghịch này của thiên nga cũng phổ biến với các nhà luyện đan, những người so sánh nó với ‘Thuỷ ngân sáng suốt (philosophical Mercury)’ (57), Trung-tâm huyền bí và liên hội của những gì đối ngược, một diễn giải phù hợp hoàn toàn với những ẩn ý nguyên mẫu của nó (56). Ngày nay, trong cái nhìn của Schneider, thiên nga, vì mối liên hệ của nó với đàn hạc và con rắn cúng tế, cũng liên quan đến giàn thiêu, bởi vì những biểu tượng căn cốt của hành trình huyền bí đến thế giới khác (ngoại trừ con-thuyền-chết) chính là thiên nga và đàn hạc. Điều này sẽ ban cấp một giải nghĩa khác cho tiếng hát huyền bí của con thiên nga đang hấp hối. Thiên nga cũng có sức chịu đựng vượt chim công, dù vị trí có bị đảo ngược. Mối liên hệ thiên nga / đàn hạc, tương ứng với trục nước / lửa, biểu thị nỗi u sầu và đam mê, sự tự hiến, và con đường của nghệ thuật bi thảm và sự tuẫn đạo. Ngược lại, mối liên hệ chim công / đàn luýt, liên kết với đất / khí, có thể là một đại diện của tư duy luận lí (50). Như Jacques de Morgan đã trình bày trong L’Humanité préhistorique (Nhân loại tiền sử), nếu ngựa đã kéo cỗ xe của thần-Mặt-trời vào ban ngày, thì chính thiên nga sẽ kéo con thuyền của ngài trên mặt nước về đêm. Mối liên quan đến thần thoại này của truyền thuyết Lohengrin là hiển nhiên.

K.H. dịch
2015.01.07

Nguyên chú của tác giả:
(2) BACHELARD, Gaston. L’Eau et les Rêves. Paris, 1942
(8) B. G. P. Diccionario universal de la mitología. Barcelona, 1835
(50) SCHNEIDER, Marius. El origen musical de los animales-símbolos en la mitología y la escultura antiguas. Barcelona, 1946
(56) TEILLARD, Ania. Il Simbolismo dei Sogni. Milan, 1951
(57) TESTI, Gino. Dizionario di Alchimia e di Chimica antiquaria. Rome, 1950

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Swan” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

[Scientific American] Bí mật để nuôi dạy những đứa trẻ thông minh

null

Đừng nói cho con bạn biết rằng chúng thông minh. Hơn ba thập kỷ nghiên cứu chỉ ra, một sự tập trung vào “quá trình” – không phải tập trung vào trí thông minh hoặc tài năng—là chìa khoá cho sự thành công trong học tập và cuộc sống.

Jonathan, một học sinh xuất sắc vượt qua những năm học phổ thông. Cậu hoàn thành bài tập một cách dễ dàng và thường đạt điểm A. Jonathan thắc mắc tại sao một số bạn cùng lớp của cậu lại cố gắng, và bố mẹ cậu nói rằng cậu là một thiên tài đặc biệt. Tuy nhiên, đến lớp bảy, Jonathan đột nhiên mất hứng thú học tập, từ chối làm bài tập về nhà hoặc học bài để kiểm tra. Hậu quả là, điểm số của cậu rơi thẳng xuống. Bố mẹ cậu cố gắng nâng cao sự tự tin của con trai họ bằng cách trấn an cậu rằng cậu rất thông minh. Nhưng nỗ lực của họ không thúc đẩy được Jonathan. Bài học ở trường là nhàm chán và vô nghĩa.

Xã hội chúng ta tôn thờ tài năng, và nhiều người giả định rằng sở hữu trí tuệ hoặc năng lực phi thường – cùng với sự tự tin vào năng lực đó – là một công thức cho sự thành công. Tuy nhiên, trong thực tế, hơn 35 năm nghiên cứu khoa học cho thấy sự quá nhấn mạnh vào trí tuệ hoặc tài năng khiến con người dễ bị tổn thương trước thất bại, sợ những thách thức và không sẵn sàng sửa chữa những khuyết điểm của họ. Continue reading