J. E. Cirlot – Nhộng

Theo lời Vương Sung (王充): ‘Nhộng có trước ve sầu; đơn giản bằng cách thay đổi hình dạng của mình, nó trở thành ve sầu. Khi linh hồn rời khỏi thân xác, điều đó tương đồng với một con ve sầu lìa bỏ cái kén của nó để trở thành một loài côn trùng.’ Trong cái nhìn của Schneider, chức năng huyền bí của một sự biến đổi như vậy giả định trước những đặc tính của sự cân bằng, sự tái tạo và lòng dũng cảm (51). Mặt nạ trong nghi lễ, cũng như mặt-nạ-sân-khấu, hầu như có kết nối gần gũi với ý tưởng về nhộng và sự biến hoá. Vì, sau mặt nạ này, sự biến đổi tính cách của một cá nhân được ẩn giấu khỏi tầm mắt.

K.H. dịch
2015.01.08

Nguyên chú của tác giả:
(51) SCHNEIDER, Marius. La danza de espadas y la tarantela. Barcelona, 1948

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Chrysalis” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Ong

Trong ngôn ngữ tượng hình Ai-cập, biểu hiệu của ong là một từ hạn định trong danh pháp hoàng gia, một phần vì sự tương đồng với tổ chức vương quốc của loài côn trùng này, nhưng đặc biệt hơn bởi những ý tưởng về tính chăm chỉ, hoạt động sáng tạo và sự thịnh vượng liên đới với sản lượng mật ong (19). Trong truyện ngụ ngôn của Samson (Judges xiv, 8) con ong hiện ra trong cùng ý nghĩa này. Tại Hi-lạp nó là biểu tượng của công việc và sự tuân phục. Theo một truyền thống Delphi, cái thứ hai trong số những đền thờ xây ở Delphi đã được dựng lên bởi những con ong. Trong lời dạy của Orpheus, những linh hồn được tượng trưng bởi những con ong, không chỉ bởi sự liên đới với mật ong mà còn bởi chúng di trú theo đàn rời khỏi tổ, vì người ta cho rằng những linh hồn ‘tụ đàn’ rời khỏi nhất thể thiêng liêng theo một thể cách tương tự (40). Trong tính biểu tượng Kitô-giáo, và đặc biệt suốt thời kì Lãng mạn, những con ong là những biểu tượng của sự siêng năng và tài hùng biện (20). Trong những truyền thống Ấn-Aryan và Moslem chúng có cùng sự tạo nghĩa tinh thần thuần khiết như trong lời dạy của Orpheus (50).

K.H. dịch
2015.01.08

Nguyên chú của tác giả:
(19) ENEL. La langue sacrée. Paris, 1932
(20) FERGUSON, George W. Signs and Symbols in Christian Art. New York, 1954
(40) MERTENS STIENON, M. L’Occultisme du zodiaque. Paris, 1939
(50) SCHNEIDER, Marius. El origen musical de los animales-símbolos en la mitología y la escultura antiguas. Barcelona, 1946

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Bee” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Đàn hạc

Ngang với ngựa trắng (4) và cái thang huyền bí. Nó đóng vai trò như một cầu nối giữa thiên đàng và trần thế. Đây là lí do vì sao, trong Edda, các anh hùng bày tỏ khát khao của họ được đem theo một chiếc đàn hạc xuống mồ, để dễ dàng đưa lối họ đến với thế giới khác. Cũng có một kết nối gần gũi giữa đàn hạc và thiên nga (50). Nó cũng có thể được coi như một biểu tượng của sức căng cố hữu của dây đàn với nỗ lực của nó hướng đến tình yêu và thế giới siêu nhiên, một tình cảnh của sự căng thẳng vốn câu rút con người trong từng khoảnh khắc của nỗi chờ mong thống khổ trong cuộc đời trần thế của y. Điều này có lẽ sẽ giải thích cho chi tiết của Garden of Delights (Khu vườn của Những niềm vui thú) của Bosch, chỗ một hình nhân bị câu rút treo trên những sợi dây đàn của một chiếc đàn hạc. Âm nhạc trở thành một biểu tượng của sự biểu lộ thuần khiết của Ý chí (Schopenhauer), đàn hạc có thể được coi như một hiện thân đặc trưng và đặc biệt mãnh liệt của âm thanh trong vai trò vật tải của sự căng thẳng và đau khổ, của hình thái và những sinh-lực.

Đàn hạc. Các chi tiết của Garden of Delights (Khu vườn của Những vui thú) của Bosch, trong đó tính biểu tượng kịch tính của chiếc đàn hạc có thể được trực cảm.

Các chi tiết của Garden of Delights (Khu vườn của Những niềm vui thú) của Bosch, trong đó tính biểu tượng đầy kịch tính của chiếc đàn hạc có thể được trực cảm.

K.H. dịch
2015.01.07

Nguyên chú của tác giả:
(4) BAYLEY, Harold. The Lost Language of Symbolism. London, 1912 (repr. 1951)
(50) SCHNEIDER, Marius. El origen musical de los animales-símbolos en la mitología y la escultura antiguas. Barcelona, 1946

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Harp” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Thiên nga

Một biểu tượng của sự phức tạp bao la. Sự dâng hiến của thiên nga dành cho Apollo, như vị thần của âm nhạc, xuất phát từ đức tin thần thoại rằng nó sẽ ca hát du dương lúc cận kề cái chết (8). Thiên nga đỏ là một biểu tượng của mặt trời (2). Nhưng hầu như mọi ý nghĩa đều liên quan đến thiên nga trắng, dâng lên Venus, đó là lí do vì sao Bachelard gợi ý rằng trong thơ ca và văn học nó là một hình tượng của người nữ khoả thân, của sự trần trụi trinh khiết và sự trắng trong vô nhiễm. Nhưng Bachelard tìm ra một sự tạo nghĩa còn sâu hơn: tính lưỡng tính, bởi trong cử động của nó và chắc chắn trong cái cổ dài có hình tượng dương vật của nó là tính nam còn trong hình thể mũm mĩm óng mượt của nó là tính nữ. Vậy tóm lại, thiên nga luôn nhắm chỉ sự thoả mãn trọn vẹn của một nỗi khát khao, tiếng hát thiên nga trở thành một ám chỉ đặc biệt nỗi khát khao dẫn đến cái chết của chính nó (2). Sự tạo nghĩa lưỡng nghịch này của thiên nga cũng phổ biến với các nhà luyện đan, những người so sánh nó với ‘Thuỷ ngân sáng suốt (philosophical Mercury)’ (57), Trung-tâm huyền bí và liên hội của những gì đối ngược, một diễn giải phù hợp hoàn toàn với những ẩn ý nguyên mẫu của nó (56). Ngày nay, trong cái nhìn của Schneider, thiên nga, vì mối liên hệ của nó với đàn hạc và con rắn cúng tế, cũng liên quan đến giàn thiêu, bởi vì những biểu tượng căn cốt của hành trình huyền bí đến thế giới khác (ngoại trừ con-thuyền-chết) chính là thiên nga và đàn hạc. Điều này sẽ ban cấp một giải nghĩa khác cho tiếng hát huyền bí của con thiên nga đang hấp hối. Thiên nga cũng có sức chịu đựng vượt chim công, dù vị trí có bị đảo ngược. Mối liên hệ thiên nga / đàn hạc, tương ứng với trục nước / lửa, biểu thị nỗi u sầu và đam mê, sự tự hiến, và con đường của nghệ thuật bi thảm và sự tuẫn đạo. Ngược lại, mối liên hệ chim công / đàn luýt, liên kết với đất / khí, có thể là một đại diện của tư duy luận lí (50). Như Jacques de Morgan đã trình bày trong L’Humanité préhistorique (Nhân loại tiền sử), nếu ngựa đã kéo cỗ xe của thần-Mặt-trời vào ban ngày, thì chính thiên nga sẽ kéo con thuyền của ngài trên mặt nước về đêm. Mối liên quan đến thần thoại này của truyền thuyết Lohengrin là hiển nhiên.

K.H. dịch
2015.01.07

Nguyên chú của tác giả:
(2) BACHELARD, Gaston. L’Eau et les Rêves. Paris, 1942
(8) B. G. P. Diccionario universal de la mitología. Barcelona, 1835
(50) SCHNEIDER, Marius. El origen musical de los animales-símbolos en la mitología y la escultura antiguas. Barcelona, 1946
(56) TEILLARD, Ania. Il Simbolismo dei Sogni. Milan, 1951
(57) TESTI, Gino. Dizionario di Alchimia e di Chimica antiquaria. Rome, 1950

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Swan” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

[Scientific American] Bí mật để nuôi dạy những đứa trẻ thông minh

null

Đừng nói cho con bạn biết rằng chúng thông minh. Hơn ba thập kỷ nghiên cứu chỉ ra, một sự tập trung vào “quá trình” – không phải tập trung vào trí thông minh hoặc tài năng—là chìa khoá cho sự thành công trong học tập và cuộc sống.

Jonathan, một học sinh xuất sắc vượt qua những năm học phổ thông. Cậu hoàn thành bài tập một cách dễ dàng và thường đạt điểm A. Jonathan thắc mắc tại sao một số bạn cùng lớp của cậu lại cố gắng, và bố mẹ cậu nói rằng cậu là một thiên tài đặc biệt. Tuy nhiên, đến lớp bảy, Jonathan đột nhiên mất hứng thú học tập, từ chối làm bài tập về nhà hoặc học bài để kiểm tra. Hậu quả là, điểm số của cậu rơi thẳng xuống. Bố mẹ cậu cố gắng nâng cao sự tự tin của con trai họ bằng cách trấn an cậu rằng cậu rất thông minh. Nhưng nỗ lực của họ không thúc đẩy được Jonathan. Bài học ở trường là nhàm chán và vô nghĩa.

Xã hội chúng ta tôn thờ tài năng, và nhiều người giả định rằng sở hữu trí tuệ hoặc năng lực phi thường – cùng với sự tự tin vào năng lực đó – là một công thức cho sự thành công. Tuy nhiên, trong thực tế, hơn 35 năm nghiên cứu khoa học cho thấy sự quá nhấn mạnh vào trí tuệ hoặc tài năng khiến con người dễ bị tổn thương trước thất bại, sợ những thách thức và không sẵn sàng sửa chữa những khuyết điểm của họ. Continue reading

Alex Lickerman – Nhìn lại nguyên nhân thực sự của độc ác

null

Nguyên nhân thực sự đằng sau việc con người đối xử tàn ác với nhau.
Xuất bản ngày 23/06/2013 của tác giả Alex Lickerman, M.D. trong Hạnh phúc trong thế giới này (Happiness in this World)

Hồi học lớp bảy, có một lần, khi đang ở trong phòng thay đồ trước giờ thể dục, tôi bắt gặp một nhóm bạn cùng lớp đang bắt nạt một cậu bạn tên Pino chỉ vì cậu ta có ngực (hội chứng có tên gynecomastia – đôi khi xuất hiện ở các cậu bé vào tuổi dậy thì, thông thường sẽ tự biến mất). Tôi đã không dám đứng ra bảo vệ cậu ấy, bởi tôi sợ rằng chúng sẽ chĩa mũi dùi sang mình, nhưng tôi vẫn nhớ cái cảm giác tội lỗi với Pino và luôn tự hỏi tại sao con người ta có thể đối xử tàn ác với người khác dễ dàng đến thế.

Một điều thường thấy là trẻ con có thể hành xử tệ hại với đứa này đứa kia trong những giai đoạn phát triển nhất định của chúng, có thể nhẫn tâm bắt nạt những đứa bé khác nhưng bằng cách nào đó mà khi trưởng thành đứa trẻ đó vẫn có thể trở thành một người biết cư xử, biết bỏ lại sau lưng quá khứ xấu xa của bản thân khi còn ở thủa thiếu thời (đương nhiên, đáng tiếc là không phải đứa trẻ nào cũng làm được điều đó, nhiều đứa đã không thể cứ như vậy mà bỏ lại mọi thứ sau lưng được, thường là do xung động tuổi trẻ, tính độc ác hay do chúng bị người lớn bỏ bê, thiếu quan tâm). Phần lớn chúng ta đều cho rằng trẻ nhỏ mà có hành vi tàn ác là không thể chấp nhận được vì khi đã trưởng thành, chúng ta thường có xu hướng trấn áp, chấm dứt hành vi đó ngay khi ta nhận biết được về chúng. Và ngay cả khi ta đã biết được nguồn cơn của những hành vi độc ác ấy, chúng ta vẫn cứ cố áp đặt rằng bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể trở thành nạn nhân của hành vi đó, và hơn thế nữa, cho rằng về cơ bản thì giết người hay chiến tranh đều gây ra phản ứng tương tự nhau. Continue reading

[Điểm phim] The Kingdom of Dreams and Madness (2013)

The Kingdom of Dreams and Madness (2013)

Bộ phim tài liệu này chủ yếu chú trọng vào Miyazaki Hayao và tác phẩm cuối cùng của ông, Kaze tachinu (The Wind Rises). Phim cho người xem cái nhìn tổng quan về quá trình làm việc của Studio Ghibli nói chung và Miyazaki nói riêng.

Cho đến giai đoạn cuối cùng của mình, thì Miyazaki (và cả Ghibli) đều trung thành với việc làm phim hoạt hình bằng phương thức vẽ tay. Cả hãng Ghibli 400 nhân viên thì hết 100 người được huy động để thực hiện Kaze tachinu, dưới sự giám sát và chỉ dẫn chặt chẽ của Miyazaki: từ động tác đi của nhân vật, đến cách phát ngôn, hành vi theo phong tục, nhất nhất đều chính xác từng li từng tí, nhằm phù hợp với thời đại bối cảnh trong phim. Continue reading

Loretta Graziano Breuning – Dừng so sánh bản thân với những người khác, và thế giới của bạn được cải thiện ngay

null

Chúng ta gây đau đớn cho bản thân khi chúng ta so sánh mình với những người khác, vậy tại sao chúng ta vẫn tiếp tục làm việc đó? Vì các loài động vật so sánh bản thân chúng với những con vật khác, và chúng ta được thừa hưởng bộ não tạo ra sự thôi thúc (so sánh) này.

Các loài động vật luôn luôn nhìn nhau, kiểm tra nhau. Sự sinh tồn của chúng phụ thuộc vào điều đó, và những hoá chất não bộ của chúng phản ứng với những cảm giác sinh tử. Chúng ta cũng có những hoá chất não bộ tương tự, và chúng đem đến cho bạn cảm giác rằng cuộc sống của bạn đang bị đe doạ khi bạn nhìn thấy một ai đó có những cặp sừng to hơn. Khi cặp sừng của bạn sắc, bạn có được cảm giác an toàn. Chọn lọc tự nhiên tạo nên một bộ não ban thưởng cho bạn một cảm giác tốt khi bạn nhìn thấy một cách để tăng sự tồn tại của bạn, và cảnh báo bạn bằng một cảm giác tiêu cực khi bạn nhìn thấy bất kỳ mối đe doạ nào đến sự tồn tại của gen của bạn.

Bạn có lẽ từng nghe nói rằng các con vật hợp tác, và cuộc sống đó là ấm áp trong điều kiện tự nhiên. Bạn nên biết phần còn lại của câu chuyện vì serotonin của bạn phụ thuộc vào nó. Bộ não động vật có vú phóng thích serotonin khi nó nhìn thấy nó vượt trội hơn con vật khác. Cảm giác tốt đẹp thúc đẩy một con vật có vú làm những việc để kích thích serotonin. Serotonin không phải là một cảm giác xung hấn mà là một cảm giác êm dịu rằng những nhu cầu của bạn sẽ được đáp ứng. Tôi đang nói rằng bạn phải quản lý được những cảm giác chiếm ưu thế của bạn thay vì đổ lỗi cho thế giới vì chúng. Continue reading

[The Atlantic] Bậc thầy trong tình yêu hay khoa học của hạnh phúc đến trọn đời

Tác giả: Emily Esfahani Smith

null

Mỗi ngày trong tháng sáu, mùa cưới trong năm ở nước Mỹ, khoảng 13.000 cặp vợ chồng sẽ nói lời cam kết cho một cuộc hôn nhân đến trọn đời, một mối quan hệ đầy tình bạn, niềm vui và tình yêu sẽ theo họ đến tận ngày cuối cùng trên trái đất này.

Dĩ nhiên, ngoại trừ việc là nó không diễn ra như vậy với hầu hết mọi người. Đa số các cuộc hôn nhân thất bại, hoặc kết thúc bằng ly dị hay ly thân, hay biến thành mối quan hệ đầy cay đắng và khủng hoảng. Trong số những người kết hôn, chỉ có 3 trong số 10 người giữ được cuộc hôn nhân lành mạnh, hạnh phúc, như nhà tâm lý học Ty Tashiro chỉ ra trong cuốn Khoa học của Hạnh phúc đến Trọn đời (The Science of Happily Ever After) xuất bản vào đầu năm nay.

Các nhà khoa học xã hội bắt đầu nghiên cứu hôn nhân bằng cách quan sát chúng lần đầu tiên trong những năm 70 để tìm giải pháp cho một cuộc khủng hoảng: Các cặp vợ chồng ly dị với tỷ lệ chưa từng có. Lo ngại về ảnh hưởng của những vụ ly hôn này lên con cái trong gia đình, các nhà tâm lý học quyết định tung lưới lên các đôi vợ chồng, lôi họ vào phòng thí nghiệm để quan sát và xác định xem thành phần của mối quan hệ lành mạnh, lâu bền là gì. Có phải mỗi gia đình bất hạnh đều bất hạnh theo cách riêng của họ như Tolstoy từng tuyên bố, hay những cuộc hôn nhân đau khổ đều có chung một yếu tố độc hại nào đó?

Nhà tâm lý học John Gottman là một trong những nhà nghiên cứu đó. Trong bốn thập kỷ qua, ông đã nghiên cứu hàng ngàn cặp vợ chồng trong công cuộc tìm kiếm cái gì khiến các mối quan hệ thành công. Gần đây tôi có cơ hội phỏng vấn Gottman và vợ ông Julie, cũng là một nhà tâm lý học, ở thành phố New York. Hai chuyên gia nổi tiếng về hôn nhân này cùng nhau quản lý Học viện Gottman, nơi họ giúp các đôi vợ chồng xây dựng và duy trì mối quan hệ lành mạnh và yêu thương dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học.

John Gottman bắt đầu thu thập những phát hiện quan trọng nhất của ông vào năm 1986 khi ông thành lập “Phòng Thí nghiệm Tình yêu” với đồng nghiệp Robert Levenson tại trường Đại học Washington. Gottman và Levenson đưa các cặp mới cưới vào phòng thí nghiệm và quan sát họ tương tác với nhau. Cùng một đội ngũ các nhà nghiên cứu, họ nối những người tình nguyện vào các cực điện và đề nghị họ nói về mối quan hệ của mình, như là họ đã gặp nhau thế nào, một xung đột lớn mà họ đối mặt cùng nhau, một kỷ niệm tốt lành mà họ có. Trong khi họ nói, các cực điện đo lưu lượng máu, nhịp tim và lượng mồ hôi tiết ra. Rồi những nhà nghiên cứu cho các đôi đi về và hẹn gặp họ lại sáu năm sau để xem họ còn sống với nhau không. Continue reading

[Scientific American] Huấn luyện bộ não không làm bạn thông minh hơn

Tác giả: David Z. Hambrick

null

Nếu bạn dành nhiều hơn 5 phút lướt web, nghe radio hoặc xem tv cách đây vài năm, thì bạn sẽ biết rằng việc huấn luyện nhận thức hay còn gọi là “huấn luyện bộ não” là một trong những xu hướng mới, hot nhất về cải thiện bản thân. Lumosity, cung cấp những nhiệm vụ dựa trên web được thiết kế để cải thiện những khả năng nhận thức như trí nhớ và chú ý, khoe khoang là có 50 triệu người đăng ký và quảng cáo trên đài quốc gia. Cogmed tuyên bố là “một giải pháp dựa trên máy tính cho những vấn đề về chú ý bị gây ra bởi trí nhớ ngắn hạn kém,” và BrainHQ sẽ giúp bạn “tận dụng tối đa bộ não duy nhất của bạn.” Lời hứa hẹn của tất cả những sản phẩm đó, ngầm hoặc công khai, đó là việc huấn luyện bộ não có thể làm bạn thông minh hơn – và làm cho cuộc sống của bạn tốt hơn.

Nhưng, theo một tuyên bố của Stanford University Center on Longevity và the Berlin Max Planck Institute for Human Development, không có bằng chứng khoa học vững chắc ủng hộ lời hứa hẹn này. Được ký tên bởi 70 nhà tâm lý học nhận thức và nhà khoa học thần kinh hàng đầu thế giới, tuyên bố này là rõ ràng và trực tiếp:

“Sự nhất trí mạnh mẽ của nhóm này đó là tài liệu khoa học không ủng hộ những tuyên bố cho rằng việc sử dụng “những trò chơi cho bộ não” dựa trên phần mềm làm thay đổi chức năng thần kinh theo những cách làm cải thiện năng lực nhận thức nói chung trong cuộc sống hằng ngày, hoặc ngăn ngừa sự trì độn nhận thức và bệnh về não.

Tuyên bố cũng lưu ý rằng dù một số công ty về huấn luyện bộ não “đưa ra những danh sách gồm những ý kiến khoa học được uỷ nhiệm và những đăng ký về các nghiên cứu khoa học thích hợp cho việc huấn luyện nhận thức…nghiên cứu được trích dẫn[thường] chỉ liên quan đến những tuyên bố mang tính khoa học của công ty, và những game họ bán.” Continue reading