Alex Lickerman – Nhìn lại nguyên nhân thực sự của độc ác

null

Nguyên nhân thực sự đằng sau việc con người đối xử tàn ác với nhau.
Xuất bản ngày 23/06/2013 của tác giả Alex Lickerman, M.D. trong Hạnh phúc trong thế giới này (Happiness in this World)

Hồi học lớp bảy, có một lần, khi đang ở trong phòng thay đồ trước giờ thể dục, tôi bắt gặp một nhóm bạn cùng lớp đang bắt nạt một cậu bạn tên Pino chỉ vì cậu ta có ngực (hội chứng có tên gynecomastia – đôi khi xuất hiện ở các cậu bé vào tuổi dậy thì, thông thường sẽ tự biến mất). Tôi đã không dám đứng ra bảo vệ cậu ấy, bởi tôi sợ rằng chúng sẽ chĩa mũi dùi sang mình, nhưng tôi vẫn nhớ cái cảm giác tội lỗi với Pino và luôn tự hỏi tại sao con người ta có thể đối xử tàn ác với người khác dễ dàng đến thế.

Một điều thường thấy là trẻ con có thể hành xử tệ hại với đứa này đứa kia trong những giai đoạn phát triển nhất định của chúng, có thể nhẫn tâm bắt nạt những đứa bé khác nhưng bằng cách nào đó mà khi trưởng thành đứa trẻ đó vẫn có thể trở thành một người biết cư xử, biết bỏ lại sau lưng quá khứ xấu xa của bản thân khi còn ở thủa thiếu thời (đương nhiên, đáng tiếc là không phải đứa trẻ nào cũng làm được điều đó, nhiều đứa đã không thể cứ như vậy mà bỏ lại mọi thứ sau lưng được, thường là do xung động tuổi trẻ, tính độc ác hay do chúng bị người lớn bỏ bê, thiếu quan tâm). Phần lớn chúng ta đều cho rằng trẻ nhỏ mà có hành vi tàn ác là không thể chấp nhận được vì khi đã trưởng thành, chúng ta thường có xu hướng trấn áp, chấm dứt hành vi đó ngay khi ta nhận biết được về chúng. Và ngay cả khi ta đã biết được nguồn cơn của những hành vi độc ác ấy, chúng ta vẫn cứ cố áp đặt rằng bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể trở thành nạn nhân của hành vi đó, và hơn thế nữa, cho rằng về cơ bản thì giết người hay chiến tranh đều gây ra phản ứng tương tự nhau. Continue reading

Advertisements

Alex Lickerman – Sức mạnh của trì hoãn sự hài lòng

Năm 1970, nhà tâm lý học nổi tiếng Walter Mischel đã đặt một cái bánh trước một nhóm trẻ em và cho chúng một sự lựa chọn : chúng có thể ăn cái bánh ngay lập tức hoặc chúng có thể đợi cho đến khi ông đi công chuyện về và được thưởng thêm một cái bánh thứ hai. Tuy nhiên, nếu chúng không thể đợi thì chúng chỉ được phép ăn một cái bánh. Không ngạc nhiên,khi ông rời khỏi phòng, nhiều đứa trẻ ăn cái bánh ngay lập tức. Một số trẻ khác đã kháng cự được việc ăn cái bánh đầu tiên đủ lâu để nhận được thêm cái bánh thứ hai. Mischel gọi những đứa trẻ đó là trẻ có sự trì hoãn sự hài lòng cao (high-delay children).

Điều thú vị là những trẻ có khả năng trì hoãn sự hài lòng tốt thì học tập tốt hơn ở trường và ít có những vấn đề về hành vi hơn những trẻ chỉ có thể kháng cự ham muốn ăn bánh trong một vài phút – và có điểm trung bình SAT cao hơn 210 điểm. Khi trưởng thành, những trẻ có sự trì hoãn cao hoàn thành bậc đại học với tỷ lệ cao hơn những trẻ khác và có thu nhập cao hơn. Ngược lại, những trẻ khó khăn trong sự trì hoãn hài lòng nhất thì có tỷ lệ ở tù cao hơn khi trưởng thành và có nhiều khả năng gặp vấn đề nghiện rượu, ma tuý.

Khả năng trì hoãn sự hài lòng – đó là kiểm soát cơn bốc đồng – có thể là một trong những kỹ năng quan trọng nhất cần học để có một cuộc sống thành công và thỏa mãn. Câu hỏi là, làm thế nào chúng ta học được nó ?

Câu trả lời có thể nằm ở những chiến lược mà những đứa trẻ trì hoãn cao của Mischel sử dụng. Thay vì kháng cự lại sự thôi thúc ăn bánh, những đứa trẻ đó làm xao nhãng bản thân khỏi thôi thúc. Chúng chơi với đồ chơi trong phòng, tự hát cho mình nghe, và nhìn đi đâu đó ngoại trừ cái bánh. Tóm lại, chúng làm mọi thứ có thể để loại bỏ cái bánh ra khỏi tâm trí chúng.

Trong một nghiên cứu thứ hai, Mischel đặt hai thanh kẹo dẻo trước một nhóm trẻ khác nhau , như trong nghiên cứu trước, ông giải thích là nếu ăn cái đầu tiên trước khi ông quay lại phòng thì chúng sẽ không được ăn cái thứ hai. Sau đó, ông hướng dẫn một nhóm tưởng tượng khi ông bước ra khỏi phòng, những thanh kẹo dẻo giống những đám mây nhiều như thế nào : tròn, trắng, phồng ra. Ngược lại, ông hướng dẫn một nhóm kiểm soát , tưởng tượng về sự ngọt ngào, phải nhai nhiều của thanh kẹo. Nhóm thứ ba, ông hướng dẫn tưởng tượng về những cái bánh quy cứng và mặn.

Ta không ngạc nhiên khi những trẻ tưởng tượng về đặc điểm của thanh kẹo giống như những đám mây thì đợi lâu hơn gấp ba lần như trẻ được chỉ dẫn tưởng tượng về mùi vị thơm ngon của kẹo. Tuy nhiên, hấp dẫn nhất là việc hình dung về niềm vui của việc ăn những cái bánh quy tạo ra sự trì hoãn hài lòng lâu nhất trong tất cả. Rõ ràng, việc tưởng tượng về sự thỏa mãn khi theo đuổi một sự cám dỗ không có sẵn làm những đứa trẻ xao nhãng hơn về thanh kẹo dẻo hơn là việc tái cơ cấu nhận thức chúng nghĩ về thanh kẹo.  Continue reading