Jorge Luis Borges – Akutagawa Ryūnosuke, Hà Đồng

Thales đã đo bóng của một kim tự tháp để xác định chiều cao của nó; Pythagoras và Plato đã giảng về sự đầu thai của những linh hồn; bảy mươi người sao chép bản thảo, tách li trên hòn đảo của Pharos, trong bảy mươi ngày đã cho ra đời bảy mươi bản dịch Pentateuch tương đồng; Virgil, trong sách thứ hai của Georgics, đã suy ngẫm về những thứ tơ lụa tinh nhã được dệt bởi những người Trung-hoa; và ngày xưa, những người cưỡi ngựa ở ngoại thành Buenos Aires hẳn đã cùng tranh tài trong một trận polo, trò chơi của người Ba-tư. Dù giả hay thật, những truyện này (mà người ta nên thêm vào, giữa nhiều truyện khác, sự có mặt của Attila trong những khổ thơ của Elder Edda) đánh dấu những giai đoạn liên tục trong một tiến trình phức tạp và muôn thuở vẫn đang tiếp diễn: sự khám phá phương Đông của những xứ sở phương Tây. Tiến trình này, có thể nói, có chiều ngược lại của nó: phương Tây bị khám phá bởi phương Đông. Chiều khác này thuộc về những người truyền đạo trong những chiếc áo choàng màu vàng nghệ mà một vị hoàng đế theo đạo Phật đã phái tới Alexandria, cuộc chinh phục Tây-ban-nha Kitô-giáo của Islam-giáo, và những cuốn sách mê hoặc và đôi khi rất đáng sợ của Akutagawa.

Continue reading

Jorge Luis Borges – Sự bất tử

 

Jorge Luis Borges

Sự bất tử

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Eliot Weinberger

Trong một cuốn sách tuyệt hảo như bao cuốn khác của ông, cuốn The Varieties of Religious Experience, thì William James chỉ dành ra một trang để tra vấn về sự bất tử cá nhân. Ông bảo rằng, đối với ông thì đây là vấn đề nhỏ nhoi, rằng việc tra vấn về sự bất tử của con người gắn liền với vấn đề tông giáo, và còn cho rằng đối với hầu hết mọi người ở cõi nhân gian này, đối với quần chúng nói chung, thì “Chúa là người sản sinh ra sự bất tử.”

Không hiểu lời nói đùa ấy , Don Miguel de Unamuno lặp lại điều đó trong cuốn The Tragic Sense of Life, ông ta còn nói khá nhiều lần rằng ông muốn tiếp tục là Don Miguel de Unamuno. Đến đây thì tôi không hiểu Miguel de Unamuno. Tôi không muốn tiếp tục là Jorge Luis Borges, tôi muốn thành người khác. Tôi hi vọng mình có cái chết tuyệt đối; tôi hi vọng chết cả về thể xác lẫn tâm hồn.

Khi tôi rán nói đến sự bất tử cá nhân– của phần hồn bảo toàn được kí ức về chính bản thân nó khi còn tồn tại trên cõi nhân gian, và ở cõi khác nhớ được cái chết của mình – thì tôi không biết như thế là tham vọng hay khiêm nhường, hay hoàn toàn có lí do chính đáng. Chị Norah của tôi ở nhà tôi hôm nọ, và chị nói, “Chị sắp vẽ bức tranh tên là ‘Nỗi hoài niệm về nhân gian’, chủ đề trong tranh sẽ là những điều mà một người may mắn trên thiên đàng cảm nhận được khi nghĩ về cõi nhân gian. Nó sẽ có các yếu tố của Buenos Aires lúc chị còn nhỏ.” Tôi có một bài thơ cùng chủ đề mà chị không hề biết. Trong bài thơ ấy, tôi nghĩ đến Jesus, ông nhớ đến cơn mưa tại Galilee, cái mùi trong xưởng gỗ, và một thứ ông chẳng bao giờ thấy được lúc ở thiên đàng và thế là ông lưu luyến điều đó: vòm trời đầy sao.

Chủ đề trên thiên đàng hoài niệm về cõi nhân gian cũng xuất hiện trong thơ của Dante Gabriel Rossetti. Bài thơ đề cập đến một người con gái ở chốn thiên đàng, dù vậy lại cảm thấy bất hạnh bởi tình nhân của nàng không ở cùng nàng; nàng hi vọng anh ta sẽ đến, nhưng anh sẽ không bao giờ tới được bởi lẽ anh đã phạm phải tội lỗi, thế là cô nàng cứ mãi nuôi hi vọng không bao giờ dứt.  Continue reading

Jorge Luis Borges – Đoá hoa của Coleridge

 

Jorge Luis Borges

Đoá hoa của Coleridge

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Suzanne Jill Levine

Khoảng năm 1938, Paul Valéry có viết thế này: “Lịch sử văn chương không nên trở thành lịch sử của các văn sĩ và diễn trình trong nghiệp văn của họ hoặc sự nghiệp của các tác phẩm, mà thay vào đó nên là lịch sử của Tinh thần trong vai trò làm nhân tố sản sinh hoặc tiêu thụ văn chương; một lịch sử như thế có thể được viết ra mà không cần đề cập đến một văn sĩ nào.” Đó không phải lần đầu Tinh thần làm dấy lên nhận định này; năm 1844, một trong số những người biên chép ở Concord đã ghi chú: “Tôi ấn tượng vô cùng ở cái vẻ ngoài của văn chương cho thấy một người viết ra toàn bộ sách vở… có sự bình đẳng và tính đồng nhất cả về phán đoán lẫn quan điểm trong lối dẫn chuyện vốn rõ ràng là tác phẩm của một quí ngài thấy-hết-mọi-sự, nghe-hết-mọi-điều” (Emerson, Essays: Second Series, “Nominalist and Realist”, 1844). Hai mươi năm trước đó, Shelly bày tỏ ý kiến cho rằng toàn bộ những bài thơ của quá khứ, hiện tại và vị lai đều là những chương hồi hoặc những phân mảnh của duy nhất một bài thơ bất tận, được viết nên bởi toàn thể các thi sĩ trong cõi nhân gian này.

Những suy xét đó (dĩ nhiên được hàm ý trong phiếm thần luận) có thể làm trỗi dậy một cuộc tranh luận vô tận; giờ tôi gợi nhắc lại chúng nhằm thực hiện một kế hoạch khiêm nhường: lịch sử tiến hoá của một ý tưởng thông qua các văn bản khác nhau của ba tác giả. Văn bản đầu tiên, của Coleridge – tôi không chắc ông ta đã viết điều này hồi cuối thế kỉ mười tám hay đầu thế kỉ mười chín – nói rằng: “Nếu một người có thể băng qua Thiên đường trong giấc mơ, và được trao một bông hoa như vật làm tin cho biết linh hồn anh ta đã thật sự ở đó, và khi thức dậy nếu anh phát hiện ra bông hoa ấy đang nằm trong tay mình – Vâng! – rồi chuyện gì sau đó?” Continue reading

Jorge Luis Borges – Những cuộc đối thoại giữa tu sĩ khổ hạnh và nhà vua

 

Jorge Luis Borges

Những cuộc đối thoại giữa tu sĩ khổ hạnh và nhà vua

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Eliot Weinberger

 

Vua thì sung túc, tu sĩ khổ hạnh là hư không hoặc muốn trở thành hư không, thế là người đời thích hình dung nên cuộc đối thoại giữa hai nguyên mẫu này. Đây là một vài ví dụ, từ Đông sang Tây:

Từ Diogenes Laërtius mà truyền thống xưa nay cho rằng Darius đã mời triết gia Heraclitus tới cung điện. Heraclitus từ chối bằng những lời này: “Heraclitus cư dân thành Ephesus gửi tới Vua Darius, con trai của Hystapes: lời chào thân ái! Toàn thể loài người giờ đây bị cách li ra khỏi chân lí và tìm kiếm hư vinh. Về phần mình, tôi đã tháo chạy ra khỏi sự hư ảo ở chốn lâu đài và sẽ không tới Ba-tư, tự hài lòng về tính tầm thường nơi tôi, mà bản thân thấy thế cũng đủ rồi.”

Lá thư này – vốn đáng ngờ do cách biệt tám thế kỉ giữa sử gia và triết gia – thoạt nhìn không có gì khác hơn tính độc lập hay tư tưởng yếm thế của Heraclitus; niềm khoái cảm phẫn uất của việc hắt hủi lời mời từ nhà vua, hơn nữa là của một vị vua ngoại quốc. Nhưng bên dưới bề mặt tầm thường đó bắt gặp được sự đối lập mơ hồ giữa hai biểu tượng, một nét huyền ảo trong đó con số không, vị tu sĩ khổ hạnh, ở chừng mực nào đó có thể tương đương hoặc vượt trội cả vị vua vô hạn.  Continue reading

Jorge Luis Borges – Về Søren Kierkegaard và tác phẩm Frygt og Bæven (Fear and Trembling)

 

Jorge Luis Borges

Về Søren Kierkegaard và tác phẩm Frygt og Bæven (Fear and Trembling)

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Eliot Weinberger

 

Søren Kierkegaard, họ của ông nghĩa là khu nghĩa trang nhà thờ, sinh năm 1813 ở Copenhagen và mất cũng tại đó vào năm 1855. Ông được xem là người sáng lập, hay nói chính xác hơn là cha đẻ của chủ nghĩa hiện sinh. Không có niềm thích thú với cộng đồng như con trai mình, ông sống một cuộc đời thầm lặng và ẩn dật. Cũng giống như một người Đan-mạch khác, Hoàng tử Hamlet, tâm can ông dày vò bởi những mối nghi ngờ và nỗi thống khổ, anguish, một từ có nguồn gốc Latin mà ông cho rằng đó là một hình thức mới cho cơn rùng mình vì sợ hãi. Vai trò triết gia của ông không nhiều bằng vai trò một nhà thần học, mà hơn nữa ông còn là một người có lời lẽ hùng hồn và có một tâm hồn nhạy cảm. Là một người truyền giáo theo giáo hội Luther, ông phủ nhận những luận cứ chứng tỏ sự hiện hữu của Chúa và cả sự hiện thân của Jesus, cho rằng đó là những điều lố bịch khi xét trên góc nhìn lí trí, và ông đề xuất cho mọi tín đồ về vai trò hành động đến từ lòng tin của từng cá nhân. Ông không chấp nhận uy quyền của Giáo hội, và viết rằng mỗi người đều có quyền lựa chọn. Ông từ khước phép biện chứng và biện chứng Hegel. Tiểu sử cho cuộc đời tĩnh tại của ông rất ít nói đến các sự kiện bên ngoài, mà lại rất phong phú khi bàn đến những chiêm nghiệm và những lời cầu nguyện. Tông giáo là phần cảm thụ mạnh mẽ nhất đời ông. Ông đặc biệt chú tâm rất nhiều đến sự hi sinh của Abraham.  Continue reading

Jorge Luis Borges – Khi một tác phẩm hư cấu trú ngụ trong một tác phẩm hư cấu khác

Jorge Luis Borges

Khi một tác phẩm hư cấu trú ngụ trong một tác phẩm hư cấu khác

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Esther Allen

Tôi có được sự nghi hoặc về vấn đề của sự bất tận là nhờ vào cái hộp thiếc lớn dùng chứa bánh qui, nó cũng là nguồn khởi điểm cho cái bí ẩn gây choáng váng trong suốt thời thơ ấu của tôi. Ở một mặt của cái vật thể lạ thường này là một khung cảnh Nhật-bản; tôi không nhớ là trẻ con hay các chiến binh tạo nên hình ảnh trong đó, nhưng tôi có nhớ ở ngay góc khung hình đó có một cái hộp bánh qui giống y như vậy cùng với một bức hình cũng y như thế trên cái hộp, rồi trong cái hộp đó lại chứa một bức hình như thế, và cứ thế (ít nhất thì nó cũng hàm ý như vậy) kéo đến bất tận… Mười bốn, mười lăm năm sau, khoảng năm 1921, tôi khám phá ra trong một tác phẩm của Russell có một ý tương tự vậy của Josiah Royce, người đặt ra giả định về một tấm bản đồ nước Anh được vẽ trên một phần lãnh thổ nước Anh; tấm bản đồ này – bởi vì nó rất chuẩn xác – ắt phải chứa đựng một tấm bản đồ về một tấm bản đồ khác, tấm bản đồ khác này tới phiên nó ắt phải chứa đựng một tấm bản đồ của một tấm bản đồ của một tấm bản đồ, và cứ thế đến bất tận… Trước đó, trong Viện bảo tàng Prado, tôi xem được bức tranh Las meninas nổi tiếng của Velázquez. Phần hậu cảnh bức tranh là chính Velázquez, đang thực hiện một bức chân dung kép vẽ vua Philip IV và phu nhân, hai người này không nằm trong khung tranh mà là hình ảnh phản chiếu trong gương. Trên ngực người hoạ sĩ có đeo cây thánh giá Santiago; người ta đồn rằng nhà vua đã vẽ cây thánh giá ở đó, do đó phong người hoạ sĩ làm phẩm cấp hiệp sĩ… Tôi nhớ là những người điều hành Viện bảo tàng Prado đã đặt một chiếc gương ở trước bức tranh nhằm kéo dài cảm giác khoái cảm này.  Continue reading

Jorge Luis Borges – William James và tác phẩm Varieties of Religious Experience

 

Jorge Luis Borges

William James và tác phẩm Varieties of Religious Experience: The Study of Human Nature

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Eliot Weinberger

 

Giống như David Hume, giống như Schopenhauer, William James là một nhà tư tưởng và là một nhà văn. Ông viết văn sáng sủa rõ ràng, đó là sản phẩm của một nền học vấn tốt; ông không thêu dệt những ngôn ngữ đặc tả khó nhằn, theo lối của Spinoza, Kant hay những học giả kinh viện khác.

Ông sinh ra ở New York vào năm 1842. Cha ông, nhà thần học Henry James [Henry James cha, phân biệt với Henry James con, một nhà văn], không muốn hai đứa con trai mình chỉ đơn thuần là những người Mĩ tỉnh lẻ. William và Henry theo học tại Anh, Pháp và Ý. William đảm nhận việc theo học môn hội hoạ. Sau khi quay về Mĩ, ông theo chân nhà tự nhiên học người Thuỵ-sĩ Agassiz trong chuyến du hành đến đầu nguồn con sông Amazon. Từ y khoa ông chuyển sang sinh lí học, từ đó sang tâm lí học, và từ đó sang ngâm cứu siêu hình học. Năm 1876, ông lập ra phòng thí nghiệm tâm lí học. Sức khoẻ ông lúc đó rất tệ. Ông từng có lần cố tự sát; giống như toàn bộ những người đàn ông khác, ông lặp đi lặp lại câu độc thoại của Hamlet. Và biểu hiện đức tin đã cứu vớt ông khỏi bóng tối. “Hành động đầu tiên của tôi về ý chí tự do,” ông việt, “chính là tin tưởng vào ý chí tự do.” Do đó ông tự giải phóng mình ra khỏi đức tin ngập tràn của cha mẹ ông, vốn là những người theo thần học Calvin.  Continue reading

Jorge Luis Borges – Thời gian vòng tròn

Jorge Luis Borges

Thời gian vòng tròn

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Esther Allen

Tôi có xu hướng quay trở về không ngừng để đến với Qui hồi Vĩnh cửu (Eternal Return). Trong những dòng sau đây tôi sẽ nỗ lực (với trợ giúp của một vài minh hoạ lịch sử) để định nghĩa ra ba thể cách nền tảng cho điều đó.

Thể cách đầu tiên là của Plato, người mà trong đoạn văn thứ ba mươi chín của tác phẩm Timaeus đã tuyên bố rằng một khi những vận tốc khác biệt nhau của chúng đạt được mức cân bằng, thì bảy hành tinh sẽ quay trở về điểm khởi đầu của cuộc hành trình theo một chu kì tạo nên một năm hoàn hảo. Cicero (On the Nature of the Gods II) thừa nhận cái thời kì tinh tú rộng lớn này không dễ tính toán nhưng vẫn giữ ý kiến rằng nó chắc chắc không phải là quãng thời gian vô tận; ở một trong những tác phẩm bị thất lạc của mình, ông định ra cho nó con số mười hai ngàn chín trăm và năm mươi bốn “của cái mà chúng ta gọi là năm” (Tacitus, Dialogue of the Orators, 16). Ngay khi Plato chết, môn chiêm tinh học trở nên ngày càng phổ biến ở Athens. Môn khoa học này, khi mà không ai có thể giả vờ không biết, đã khẳng định rằng vận mệnh của loài người là do vị trí các vì sao quyết định. Một nhà chiêm tinh học vô danh tính, người này đã không đọc tác phẩm Timaeus một cách vô ích, đã hình thành nên luận cứ không thể chê vào đâu được thế này: nếu thời kì của các hành tinh có tính chu kì, thì lịch sử của vũ trụ cũng phải như vậy; vào cuối mỗi một năm Plato, những cá thể tương tự vậy sẽ lại tái sinh và sẽ sống phần đời còn lại theo cùng một vận mệnh. Hậu thế sẽ gán cái công lao dự đoán này cho chính Plato. Năm 1616, Lucilio Vanini viết rằng, “Achilles sẽ lại tới thành Troy, các nghi lễ và tôn giáo rồi sẽ tái sinh, lịch sử nhân loại sẽ tự lặp lại chính nó. Không có gì tồn tại ngày nay mà không tồn tại ở thời xa xưa; những cái đã là sẽ thành những cái nó sẽ trở thành; nhưng toàn bộ điều đó là về toàn thể, và không phải về cái cụ thể” (như Plato đã xác lập) (De admirandis naturae arcanis, đối thoại 52). Thomas Browne định nghĩa “năm Plato” trong một ghi chú của cuốn đầu tiên thuộc bộ sách Religio Medici: “Một cuộc cách mạng của hàng ngàn năm đó khi mà toàn thể sự vật sẽ trở lại địa thế ban đầu của chúng và ông ta sẽ lại dạy học trong ngôi trường của ông ấy như cái lúc ông ấy chuyển tải cái quan niệm này.” Trong cái ý niệm tiên khởi này về sự qui hồi vĩnh cửu, thì luận cứ đưa ra thuộc về mảng chiêm tinh học.  Continue reading

Jorge Luis Borges – Bức tường thành và sách

Jorge Luis Borges

Bức tường thành và sách

Duy Doan dịch từ bản tiếng Anh của Eliot Weinberger


Một vài ngày trước, tôi đọc được rằng người đàn ông ra lệnh cho việc xây dựng Bức tường thành Trung-hoa dài gần như bất tận chính là vị Hoàng-đế đầu tiên, Thuỷ Hoàng-đế, cũng ông này ra chiếu chỉ đốt toàn bộ sách vở được viết trước thời của ông ta. Hai nhiệm vụ to lớn này – năm sáu trăm lí (league) [1] tường đá để ngăn chặn bọn rợ, và việc huỷ bỏ lịch sử, tức là quá khứ, một cách triệt để – là công việc của cùng một người, và, ở một ý nghĩa nào đó, thì đó là đặc tính của ông ta, và không thể cắt nghĩa được là chuyện đó đã thoả mãn tôi cùng lúc với việc làm tôi phiền muộn. Để tìm ra nguyên do cho cảm xúc đó chính là mục đích của bài viết này.

Continue reading

Jorge Luis Borges – Kafka và những tiền thân của ông

Có lần tôi định viết một nghiên cứu về những tiền thân của Kafka. Ban đầu tôi nghĩ ông độc đáo như loài phượng hoàng trong sự tán dương cường điệu; nhưng sau một thời gian ngắn đọc ông, tôi lại cảm thấy như nhận ra tiếng ông, hoặc những lề thói của ông, trong những văn bản của nhiều tác phẩm văn chương khác nhau và nhiều thời đại khác nhau. Tôi sẽ ghi lại một ít trong đó ra đây, theo trình tự thời gian.

Đầu tiên là nghịch lí của Zeno về chuyển động. Một vật di chuyển từ điểm A (Aristotle nói rõ) sẽ không thể đến được điểm B, vì nó phải vượt qua một nửa khoảng cách giữa hai điểm, và trước đó, một nửa của một nửa, và trước đó nữa là một nửa của một nửa của một nửa, rồi cứ thế đến vô cùng. Thể thức của nghịch lí nổi tiếng này chính xác như trong Lâu đài và vật di chuyển, mũi tên và Achilles là những nhân vật kiểu-Kafka (Kafkaesque) đầu tiên trong văn chương.

Trong văn bản thứ hai mà một thư mục đã tình cờ đưa lối cho tôi, sự tương đồng không nằm trong thể thức mà là ở giọng điệu. Đó là một truyện cổ được viết bởi Hàn Dũ (韓愈), một nhà văn ở thế kỉ thứ IX, được phát hiện trong một tác phẩm đáng quý Anthologie raisonée de la litérature chinoise (Tinh tuyển Văn học Trung-hoa) (1948) của Margouliès. Đây là đoạn văn huyền bí và lặng lẽ mà tôi chú ý:

Thú một sừng (unicorn) được thừa nhận rộng rãi như một sinh thể siêu nhiên và một điềm lành; nên nó được xưng tụng trong những vần thơ trữ tình Ode, trong những pho Sử biên niên (Annals), trong lai lịch của những con người lừng lẫy, và trong các văn bản với quyền uy không thể nghi ngờ khác. Ngay cả phụ nữ và trẻ con trong cộng đồng cũng biết rằng thú một sừng là điềm lành. Nhưng loài sinh vật này không mang dáng dấp của những thú nuôi trong nhà, thật không dễ tìm thấy nó, nó không can dự vào bất kì sự phân loại nào. Nó không giống một con ngựa hay một con bò, một con sói hay một con nai. Trong tình trạng như vậy, chúng ta có thể cảm nhận sự hiện diện của một con thú một sừng và không biết chắc đó có phải là nó hay không. Chúng ta biết một sinh vật có bờm như vậy là một con ngựa, và một sinh vật có sừng như thế là một con bò. Chúng ta không biết một con thú một sừng trông ra sao.

Văn bản thứ ba đến từ một nguồn dễ đoán hơn: những ghi chép của Kierkegaard. Mọi người đều nhận thấy sự tương đồng về tâm thần của hai ông; điều chưa từng được nhấn mạnh – theo những gì tôi biết, là Kierkegaard, cũng như Kafka, ngập tràn những ẩn ngữ tôn giáo viết về những đề tài đương đại và giới trung lưu. Lowrie, trong cuốn Kierkegaard (Oxford University Press, 1938) của ông, có nhắc đến hai trong số đó. Một là truyện kể về một kẻ làm giả giấy tờ, dưới sự giám sát thường trực, kiểm tra ngân phiếu cho Ngân hàng Anh-quốc; theo lối tương tự, Thượng đế có lẽ nghi ngờ Kierkegaard song vẫn giao cho ông một sứ vụ chính bởi Ngài biết rằng ông đã quen mùi xấu ác. Những chuyến thám hiểm Bắc Cực là đề tài của truyện kia. Các giáo sĩ Đan-mạch tuyên bố từ bục giảng kinh của họ rằng việc gia nhập các đoàn thám hiểm có thể đem đến sự sung mãn vĩnh cửu cho tâm hồn. Tuy vậy, họ cũng phải thừa nhận rằng đến được vùng Cực là rất gian nan, và có lẽ là bất khả, và không phải ai cũng có thể thực hiện được những chuyến thám hiểm. Cuối cùng, họ tuyên bố rằng bất cứ một cuộc thám hiểm nào – từ Đan-mạch đến Luân-đôn, rằng, trên một chiếc tàu thủy chạy bằng hơi nước, hoặc một buổi học cưỡi ngựa ngoài trời vào Chủ nhật – cũng có thể được coi là một chuyến thám hiểm thực thụ đến Bắc Cực.

Điềm thứ tư tôi tìm thấy trong bài thơ Fears and Scruples (Sợ hãi và Ngần ngại) của Browning, xuất bản năm 1876. Một người có, hoặc nghĩ rằng mình có, một người bạn nổi tiếng. Anh chưa từng gặp mặt người bạn này, và thực tế người bạn này chưa bao giờ giúp được gì cho anh, nhưng anh biết rằng người bạn ấy có những phẩm tính cao quý, và anh khoe với người khác những lá thư mà bạn anh đã viết. Vài người nghi ngờ tính cao quý của anh bạn nọ, các chuyên gia về chữ viết tay tuyên bố rằng những bức thư là đồ giả. Ở dòng cuối, người này hỏi: “What if this friend happen to be – God? (Người bạn này phải chăng là – Thượng đế?)”

Những ghi chép của tôi cũng bao gồm hai truyện ngắn. Một từ Histoire désobligeantes của Léon Bloy, đề cập đến vài kẻ góp nhặt những quả cầu, những tập bản đồ, lịch trình huấn luyện, rương hòm, và những kẻ cho đến lúc lìa đời vẫn chưa từng một lần rời khỏi khu vực nơi mình được sinh ra. Truyện còn lại nhan đề là Carcassonne được viết bởi Lord Dunsany. Một đạo quân những chiến binh bất khả chiến bại tràn ra từ vô số lâu đài, chinh phục các vương quốc, tiêu diệt quái vật, băng qua những sa mạc và núi đồi, nhưng chưa bao giờ đến được Carcassonne, mặc dù họ từng một lần thoáng nhìn thấy nó. (Dễ nhận thấy câu truyện này hoàn toàn trái ngược với câu truyện trước; trong truyện đầu, những kẻ kia không bao giờ rời khỏi thành phố; trong truyện sau thì những kẻ nọ không bao giờ đến được thành phố.)

Nếu tôi không lầm thì những mảnh khác nhau mà tôi vừa ghép lại có một sự tương đồng với Kafka; nếu tôi không lầm thì không phải tất cả chúng đều tương tự nhau. Điều thứ hai này đáng chú ý hơn. Chất Kafka lộ ra trong mỗi tác phẩm này, theo những mức độ đậm nhạt khác nhau, nhưng nếu Kafka không viết, chúng ta sẽ không nắm bắt được nó; hay có thể nói rằng nó không tồn tại. Bài thơ Fears and Scruples (Sợ hãi và Ngần ngại) của Robert Browning tiên đoán tác phẩm của Kafka, nhưng việc đọc Kafka đã tinh luyện và làm chuyển hướng việc đọc thơ. Browning đã không được đọc Kafka như chúng ta bây giờ. Chữ tiền thân (precursor) rất cần trong vốn từ của việc phê bình, nhưng người ta phải cố gạn lọc nó khỏi ý nghĩa luận chiến hay tranh chấp. Vấn đề là mỗi tác giả tạo ra những tiền thân của riêng mình. Công trình của y sẽ làm thay đổi quan niệm của chúng ta về quá khứ, cũng như sẽ làm biến đổi tương lai. Trong mối tương quan này, tính tương đồng hay đa nguyên của họ không quan trọng. Betrachtung (Trầm tư) thời kì đầu của Kafka còn kém hơn một tiên báo như Browning hay Lord Dunsany về một Kafka của những thần thoại u ám và những thiết chế khủng khiếp.

[1951]

K.H. dịch
từ bản tiếng Anh Kafka and His Precursors của Eliot Weinberger
trong Jorge Luis Borges, Selected Non-Fictions, Penguin Books, 2000

jorge-luis-borges-selected-non-fictions