Jorge Luis Borges – Tlön, Uqbar, Orbis Tertius

Jorge Luis Borges

Tlön, Uqbar, Orbis Tertius

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Andrew Hurley

I

Tôi mắc nợ việc khám phá ra Uqbar từ sự kết hợp giữa tấm gương và một cuốn bách khoa thư. Tấm gương gây ra ưu phiền nơi tận sâu thẳm của lối hành lang tại một căn nhà miền quê ở Calle Gaona, thuộc Ramos Mejía [1] ; cuốn bách khoa thư với nhan đề sai lệch The Anglo-American Cyclopedia (New York, 1917), và nó là phiên bản in lại theo đúng từng chữ của cuốn Encyclopaedia Britannica bản năm 1902. Sự kiện đã diễn ra khoảng năm năm về trước.

Bioy Casares [2] đã đến dùng bữa tối tại nhà tôi buổi chiều đó, và chúng tôi đã lạc mất toàn bộ dấu vết của thời gian trong một cuộc tranh luận miên man về thể cách mà một người có thể thực hiện khi sáng tác một tác phẩm tiểu thuyết một nhân vật mà người dẫn chuyện trong đó sẽ bỏ đi hay làm méo mó đi các sự vật và dấn thân vào tất cả các dạng mâu thuẫn, để một vài độc giả – chỉ một số rất ít – có thể cảm nhận cái sự thật ghê sợ, hoặc tầm thường. Ở sâu thẳm của lối hành lang, cái gương treo lơ lửng, bí mật dõi theo chúng tôi. Chúng tôi phát hiện ra (vào thời điểm rất khuya thì một phát hiện như vậy là điều không thể né tránh) rằng có gì đó ghê sợ về những tấm gương. Đó là khi Bioy nhớ ra một câu nói của một trong những người thủ lĩnh phái dị giáo của Uqbar: Tấm gương và sự giao hợp đều đáng kinh tởm, vì cả hai đều làm nhân loại sinh sôi nảy nở thêm. Tôi hỏi anh ta rằng anh bắt gặp câu dí dỏm đáng nhớ đó ở đâu, và anh ta bảo tôi nó được ghi lại trong cuốn The Anglo-American Cyclopedia, trong bài viết nói về Uqbar. Continue reading

Advertisements

Jorge Luis Borges – Thư viện Babel

Jorge Luis Borges

Thư viện Babel

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Andrew Hurley

Bằng hình thức nghệ thuật này, bạn có thể chiêm nghiệm về biến thể của 23 kí tự…
Anatomy of Melancholy, Pt. 2, Sec II, Mem. IV


Cõi vũ trụ (cái mà người khác gọi là Thư viện) bao gồm một lượng vô hạn định, và có lẽ là bất tận các gian phòng hình lục giác. Ở trung tâm của mỗi gian phòng là một ống thông hơi, bao quanh bởi thanh rào ở tầm thấp. Từ bất kì hình lục giác nào người ta có thể thấy tầng trên và tầng dưới – cái này tiếp theo sau cái nọ, đến vô tận. Sự sắp đặt các gian phòng luôn là như nhau: Hai mươi kệ sách, năm cái mỗi bên, phủ đầy bốn trong số sáu cạnh của hình lục giác; chiều cao các kệ sách, từ sàn nhà đến trần nhà, khó có thể nào hơn chiều cao của một người thủ thư bình thường. Một trong số hai cạnh tự do của hình lục giác mở ra một cái dạng như một hành lang hẹp, cái hành lang này đến phiên nó mở vào một gian phòng khác, tương tự như cái đầu tiên – thực tế là tất cả các gian phòng đều tương tự nhau. Về phía trái hay phải của hành lang là hai cái hốc nhỏ. Một dành cho việc ngủ, ở tư thế thẳng đứng; cái kia, dành cho việc thoả mãn những nhu cầu thể chất của người ta. Cũng thông qua vùng không gian, có một cái cầu thang xoắn ốc đi ngang qua, những cầu thang này xoắn xuýt lên phía trên và xuống phía dưới tiến vào một điểm xa xăm. Trong hành lang có một cái gương, nó sẽ nhân đôi một cách chân thật các hình trạng. Con người thường suy ra từ chiếc gương này rằng Thư viện không phải vô hạn – nếu nó vô hạn, thì cần gì phải có sự sao chép tạo ảo ảnh? Tôi thích mơ ước đến chuyện các bề mặt bóng loáng kia tượng trưng và hứa hẹn cho cái vô hạn… Ánh sáng được mang đến từ những quả cầu mang tên “bóng đèn”. Có hai trong số những bóng đèn ở mỗi gian phòng lục giác, được lắp chéo nhau. Ánh sáng phát ra từ các bóng đèn này không đủ, và không ngừng toả ra. Continue reading

Jorge Luis Borges – Vòng tròn những tàn tích

 

Jorge Luis Borges

Vòng tròn những tàn tích

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Andrew Hurley

Và nếu ông ta chấm dứt việc mơ về bạn…
Through the Looking Glass, VI.



Không ai trông thấy ông ta rời bỏ chiếc thuyền vào một đêm mịt mù, không ai thấy chiếc xuồng bằng tre khi nó chìm xuống lớp bùn linh thiêng, và dù vậy trong vài ngày thì không ai lại không biết rằng có một người đàn ông lầm lì đã từ Phương nam tới nơi đó, và rằng quê nhà ông ta là một trong những ngôi làng bất tận nằm dọc ngược dòng sông, ở trên sườn núi hung tợn, nơi mà ngôn ngữ của người Zend không bị tiếng Hi-lạp phá hỏng đi và là nơi ít xảy ra căn bệnh phong. Nhưng thực tế thì người đàn ông khó hiểu kia đã lấm lem bùn đất, bò lên bờ sông hiểm trở (mà không gạt trở ra, có thể không cảm thấy được, đám cây cỏ nến đã làm xước da thịt ông ta), và tự kéo lê mình, bất tỉnh và đầy máu, vào mảnh đất hình tròn có rào bao quanh đầy những tượng đá các con hổ và ngựa, vốn từng có màu của lửa và giờ đây là màu của tro tàn. Khu đất này là một ngôi đền, đã bị một trận hoả thiêu vùi dập cách đây đã lâu, giờ đây thì khu rừng đầy bệnh sốt rét kia đã làm ô uế ngôi đền và những vị thần thì không còn được loài người tôn kính nữa. Người lạ mặt nằm dài ngay chân bệ. Continue reading

Jorge Luis Borges – Khu vườn có những lối đi rẽ nhánh

Jorge Luis Borges

Khu vườn có những lối đi rẽ nhánh

Duy Doan chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Andrew Hurley


Ở trang 242 cuốn History of the World War, Liddell Hart cho chúng ta biết rằng đợt tấn công của quân Đồng minh vào chiến tuyến Serre-Moutauban (do sư đoàn mười ba Anh quốc khởi xướng, hậu thuẫn phía sau là một ngàn bốn trăm khẩu pháo) được hoạch định vào ngày 24 tháng bảy năm 1916 nhưng phải hoãn lại cho đến sáng ngày hai mươi chín. Những cơn mưa như trút nước (Đại uý Liddell Hart ghi nhận) là nguyên do cho sự trì hoãn đó, mà quả đúng vậy – và đó là một sự trì hoãn không dẫn đến chuyện gì to tát. Lời tường trình sau đây – do Tiến sĩ Yu Tsun, cựu giáo sư Anh ngữ tại trường Hochschule ở Thanh-đảo, kể, đọc lại và kí nhận – đã soi rọi một luồng sáng đầy bất ngờ vào vụ việc. Hai trang đầu của lời tường trình đã bị lạc mất. Continue reading