Noam Shpancer – Cuộc cạnh tranh của phụ nữ

Điều gì xuất hiện khi bạn nghe những từ sau:

Cạnh tranh. Gây hấn. Bạo lực.

Nếu bạn nghĩ về từ “đàn ông” thì bạn có lẽ không đơn độc. Những đặc điểm trên thường được quy cho sự nam tính và tính chất đàn ông. Sự cạnh tranh, gây hấn và bạo lực giữa đàn ông thường chủ yếu hướng đến những người đàn ông khác: trên chiến trường, trên sân chơi, trong văn phòng hoặc trên đường phố. Charles Darwin từ lâu đã nhận thấy sự tồn tại của cuộc cạnh tranh trong cùng giới giữa những người đàn ông; ông cũng hiểu rằng mục đích cơ bản của tất cả những sự gây hấn này của đàn ông là để có được sự chú ý và đồng ý sinh con của phụ nữ.

Bị ảnh hưởng bởi Darwin, hầu hết các nghiên cứu về sự cạnh tranh trong cùng giới tập trung vào sự đấu tranh giữa những người đàn ông để giành quyền tiếp cận tình dục với phụ nữ. Chỉ đến những năm 80, khoa học mới bắt đầu nghiên cứu hiện tượng tương tự ở phụ nữ: cuộc cạnh tranh của phụ nữ để có một người đàn ông phù hợp. Nhiều nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy quan điểm truyền thống xem phụ nữ là thụ động và không có tính tranh đua là sai lầm. Hóa ra, phụ nữ cũng tham gia vào một cuộc cạnh tranh với những phụ nữ khác, dùng mánh khóe (có tính gây hấn) để chiếm được một người đàn ông phù hợp. Continue reading

Advertisements

Noam Shpancer – Sự thật và niềm tin: Những chiến sĩ hay là những người cộng tác?

Cuối thập niên 80, một hình thức trị liệu mới cho trẻ tự kỷ nặng xuất hiện. “Truyền thông tạo điều kiện’ dựa trên quan điểm cho rằng bằng cách nắm tay của trẻ trước bảng chữ hoặc bàn phím máy tính, một người điều phối (người được huấn luyện về truyền thông tạo điều kiện) có thể cho pho phép trẻ tự kỷ bộc lộ hoàn toàn bản thân bé.

Quan điểm này thật lôi cuốn và những kết quả ban đầu là tích cực. Với sự giúp đỡ của những người điều phối nhiệt tình, những trẻ mắc tự kỷ nặng với những hạn chế trong lời nói và vận động đã nhanh chóng bắt đầu trả lời các câu hỏi, nói mạch lạc những suy nghĩ của chúng. Kỹ thuật mới này dường như là một bước đột phá trong việc điều trị những bệnh rối loạn giao tiếp nghiêm trọng; các kết quả là một sự khẳng định làm ấm lòng những hy vọng của nhiều phụ huynh và nhà giáo dục.

Tuy nhiên, những hoài nghi nhanh chóng xuất hiện. Những lời phê phán về kỹ thuật mới cho rằng các kết quả không có liên quan gì đến những ước muốn của trẻ và mọi thứ đều có liên quan đến những ước muốn – những chuyện động tay tinh tế – của các nhà điều phối. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể biết liệu một hành động đánh máy bởi một trẻ tự kỷ với sự giúp đỡ của một người điều phối đến từ trẻ hay là từ người điều phối? Continue reading

Noam Shpancer – Sức khoẻ và hạnh phúc của bạn không thuộc về bạn

Sau đây là một thực nghiệm ngắn: hãy nghĩ về ba hoặc bốn tính từ miêu tả về bản thân bạn. Có lẽ chúng là: rộng lượng, thông minh, chung thuỷ, quyến rũ…OK. Bây giờ hãy tưởng tượng bạn đang sống một mình trên một hoang đảo không liên lạc với ai. Hãy nhìn lại những đặc điểm trên. Chúng còn ý nghĩa trong tình huống này không? Không còn nhiều. Hoá ra hầu hết những đặc điểm chúng ta quy gán cho bản thân chúng ta chỉ có ý nghĩa trong một bối cảnh xã hội. Những câu hỏi về bản sắc tâm lý của chúng ta (tôi là ai, tôi là gì?) thực tế là những câu hỏi về bản sắc xã hội (tôi là ai, tôi là gì, trong bối cảnh của một nhóm, khi so sánh với những người khác?). Lấy đi bối cảnh xã hội của một người, và người đó biến mất.

Nhà tâm lý Leon Festinger nghiên cứu về cơ chế do sánh xã hội là một trong những nền tảng của tâm lý học loài người. Theo Festinger, chúng ta so sánh bản thân với những người khác vì một khao khát muốn biết sự thật về bản thân chúng ta. Những sự so sánh đó là có ích vì nó ít quan trọng với bạn khi biết bạn nặng bao nhiêu kí (một chỉ số cá nhân, khách quan) hơn là biết cân nặng của bạn là nhiều hay ít hơn so với những người xung quanh bạn (một chỉ số tương quan, xã hội).

Những cơ chế so sánh xã hội thấm vào cuộc sống của chúng ta một cách sâu rộng. Lấy ví dụ về vấn đề tiền bạc. Giả sử bạn đến cơ quan sáng nay và sếp gây bất ngờ cho bạn bằng một món quà 100$. Bạn cảm thấy thế nào? Chắc là bạn thấy vui. Vì bạn vừa nhận được món tiền cho không. Nhưng các đồng nghiệp của bạn đến sớm 5 phút và được nhận những món quà 1000$. Khi đó bạn sẽ thấy thế nào? Không vui. Tại sao? Món quà ban đầu vẫn giữ nguyên. Bạn vừa kiếm được 100$ bất ngờ sáng nay. Nhưng, mọi người xung quanh bạn kiếm được 1000$. So với họ, bạn thua. Cái mất (Bạn kiếm ít hơn họ 900$) làm mất hiệu lực của cái đạt được (tôi được 100$).
Ví dụ khác: xem hai tình huống sau: Continue reading

Noam Shpancer – Phụ nữ muốn gì?

Phụ nữ muốn gì? Sigmund Freud đã hỏi câu hỏi hay đó, nhưng ông không có câu trả lời. Ngay cả bây giờ, câu hỏi điều gì thúc đẩy ham muốn tình dục ở phụ nữ tiếp tục vang lên.

Đàn ông muốn gì chúng ta hiểu khá rõ. Nói chung, ham muốn tình dục của họ là có trật tự, nhất quán và ngay lập tức. Một người đàn ông thích giao hợp với người khác giới là người thích giao hợp với người khác giới. Nếu bạn cho anh ta thấy tình dục với người khác giới, ham muốn tình dục về mặt cơ thể và mặt chủ quan của anh ta tăng lên. Tình dục đồng giới sẽ làm anh ta lạnh nhạt cả về cảm xúc và cơ thể. Với đàn ông, có một sự phù hợp rất tốt giữa hưng phấn sinh lý (được đánh giá bởi trạng thái sưng phù dương vật) và mức độ ham muốn được thông báo.

Sự thành công của thuốc Viagra cho thấy tính đơn giản của cơ chế hoạt động ở đàn ông. Viagra không nhắm đến ham muốn, nhưng nó hoạt động bằng cách làm tăng lượng máu ở cơ quan sinh dục, cho phép cương cứng. Đây là tất cả những gì họ cần. Khi dương vật đứng lên, ham muốn đang đợi.

Còn câu chuyện của phụ nữ thì khác. Nghiên cứu chỉ ra rằng, cơ thể phụ nữ thích mọi thứ, hoặc ít nhất là đáp ứng trước mọi thứ (hoặc không biết nó thích cái gì, những người hay giễu cợt sẽ nói thế). Hưng phấn sinh lý nữ (được đánh giá bởi chất nhờn âm đạo) xuất hiện để đáp lại khi nhìn thấy hầu hết các kiểu hoạt động tình dục: đàn ông với phụ nữ, phụ nữ với phụ nữ, đàn ông với đàn ông. Thậm chí xem những con khỉ Bonobo quan hệ tình dục cũng gây hưng phấn sinh lý ở phụ nữ.
Nhà nhân chủng học nổi tiếng Sarah Blaffer Hrdy ở đại học California Davis cho rằng kiểu hưng phấn trước mọi thứ này là một sự thích nghi tiến hoá. Theo lý thuyết này, âm đạo ngay lập tức trở nên ẩm ướt trước bất kì dấu vết của hoạt động tình dục nào ở gần để bảo vệ phụ nữ không bị tổn thương trong trường hợp bị cưỡng bức hoặc bạo lực tình dục. Sự hưng phấn này không nhất thiết liên quan đến những ham muốn tình dục, ý định hoặc sở thích của phụ nữ. Sau tất cả, phụ nữ không thực sự muốn quan hệ tình dục với những chú khỉ Bonobo. Continue reading

Noam Shpancer – Hành động tạo ra cảm xúc

Mùa hè năm 1971, một nhóm các nhà nghiên cứu do giáo sư tâm lý Phillips Zimbardo dẫn đầu đã phân 1 nhóm các sinh viên chưa tốt nghiệp thành 2 nhóm ngẫu nhiên, những tù nhân và những cai tù, và sắp xếp họ đóng vai của họ trong một nhà tù giả của của trường Stanford.

Một tình huống giả, nhưng cảm xúc thật

Trong nhiều ngày, những cai tù bắt đầu bộc lộ những thái độ uy quyền, độc đoán, cố ý chế ngạo 1 số tù nhân. Các tù nhân phát triển những thái độ thụ động, nhiều người rơi vào 1 trạng thái trầm cảm. Thực nghiệm phải chấm dứt chỉ sau 6 ngày.

Thực nghiệm nhà tù Stanford thường được nói đến để minh họa cho sức mạnh của những vai xã hội trong việc hình thành hành vi, nhưng nó cũng mô tả về sức mạnh của hành vi để gây ra những cảm xúc mạnh mẽ thực sự. Những cai tù trong thực nghiệm của Zimbardo không thực sự là những cai tù. Và những tù nhân không phải là những tù nhân. Tất cả bọn họ là những tình nguyện viên. Họ là những sinh viên. Nhưng khi họ bắt đầu hành động theo vai, họ bắt đầu cảm nhận theo vai.

Nhiều người giả định rằng mối liên hệ giữa cảm xúc và hành vi là một chiều: Những cảm xúc hình thành hành vi. Bạn yêu anh í, do đó bạn hôn anh í. Bạn ghét anh ta, do đó bạn đánh anh ta. Quan điểm này là không đúng. Trong thực tế, mối quan hệ có qua có lại lẫn nhau. Phần lớn thời gian, hành động thực sự hình thành cảm xúc.

Bạn từng tự hỏi tại sao các nam và nữ diễn viên đóng vai người yêu trong 1 bộ phim thường bắt đầu yêu nhau sau khi kết thúc phim? Chắc chắn là có liên quan đến nhiều quá trình. Cả hai thường trẻ và đẹp. Họ có nhiều điểm chung. Họ ở cạnh nhau rất nhiều. Tất cả điều đó được biết đến như những yếu tố dự báo của việc lựa chọn bạn tình.

Nhưng họ cũng đóng những cảnh yêu nhau. Họ phải hành động như những người quan tâm sâu sắc đến nhau. Họ nhìn vào mắt nhau, họ chạm vào nhau. Họ đóng những hành động yêu thương. Ta không ngạc nhiên khi cảm xúc của tình yêu thường theo sau.

Nhà tâm lý/ triết học William James là 1 trong những nhà học giả đầu tiên nhận thấy quá trình phản trực giác này. Ông tin là những cảm xúc nảy sinh từ những hành động cơ thể mà chúng ta đáp ứng lại trước những điều xảy đến trong cuộc sống của chúng ta.

Nó không phải là “chúng ta đánh mất may mắn, buồn và khóc; chúng ta gặp một con gấu, sợ hãi và bỏ chạy; chúng ta bị đối thủ xúc phạm và tức giận và đánh nhau.” Thực tế thì, ông lập luận, “sự nối tiếp này là không đúng…câu hợp lý hơn là chúng ta cảm thấy buồn vì chúng ta khóc, tức giận vì chúng ta đánh nhau, sợ hãi vì chúng ta run.”

James lập luận rằng nếu không có một số phản ứng cơ thể (khóc, run), chúng ta sẽ không cảm nhận cảm xúc.

Nghiên cứu gần đây trong tâm lý học lâm sàng cho thấy cách nhanh nhất để thay đổi một cảm xúc là thay đổi hành vi gắn liền với nó. Bản thân quan điểm này không mới. Ví dụ, các nhà lý thuyết hành vi những năm 1970 tin rằng trầm cảm là kết quả gián tiếp của sự không hoạt động: sau nhiều thất bại và những thất vọng, hụt hẫng, con người dừng cố gắng và thu mình khỏi thế giới; thu mình và không hoạt động lại làm giảm khả năng có những tương tác hoặc những trải nghiệm tích cực, do đó sự cô lập và thụ động tăng lên, do đó là trầm cảm.  Continue reading