Jerome Delamater – Về Hara Setsuko

Hara Setsuko

Jerome Delamater

Về Hara Setsuko

Duy Đoàn chuyển ngữ

Mặc dù sự nghiệp của cô rất dồi dào và vai của cô đa dạng, nhưng Hara Setsuko được phương Tây biết đến chính yếu ở vai trò một nhân vật khiêm nhường trong sáu phim của Ozu Yasujirô. Phạm vi của cô rộng hơn nhiều so với hàm ý trong những bộ phim được làm với Ozu; những thay đổi của cô ở hành vi và bề ngoài chỉ trong phim No Regrets for Our Youth của Kurosawa, ví dụ vậy, là điều gây sửng sốt. Tuy thế, Ozu đã nắm bắt được cái tinh tuý trong vai diễn của cô; nữ tính mà mạnh mẽ, thường theo truyền thống ở cách ăn vận nhưng lại chịu sự thu hút từ những cung cách hiện đại; là một phần của một đơn vị gia đình nhưng lại độc lập về tinh thần. Đối với Ozu, Hara đã biểu hiện một cách hiệu quả cái vị thế phức tạp của Nhật-bản hiện đại nằm giữa di sản văn hóa với vai trò trung tâm của mình trong nền kinh tế toàn cầu hậu thế chiến II.

Trong Currents in Japanese Cinema (Những dòng chảy trong nền điện ảnh Nhật), Sato Tadao viết rằng, “Hara Setsuko có được hình ảnh của một người đàn bà hiện đại và thông minh, những phẩm chất làm cho khán giả Nhật yêu mến cô ta.” (So sánh với những ngôi sao Mĩ như Katharine Hepburn và Joan Crawford là những so sánh thường gặp.) Có lẽ vai tiêu biểu nhất của cô ngoại trừ trong những phim cộng tác với Ozu là vai một quả phụ bị ngược đãi trong No Regrets for Our Youth, mà trong đó, thông qua sự kiên trì của mình, cô chứng tỏ bản thân là người kiên định và bất khuất. Trong nhiều phim cô thủ vai những nhân vật có sự nghiệp hoặc những người có thể giữ lại được căn cước của chính mình – và thường là để khẳng định bản thân – bên trong xã hội do nam giới thống trị. Continue reading

Robin Wood – Về bộ phim Banshun (1949) của Ozu Yasujirō

Banshun (1949)

Robin Wood

Về bộ phim Banshun (1949) của Ozu Yasujirō

Duy Đoàn chuyển ngữ

Banshun (Late Spring) là bộ phim đầu tiên trong sáu phim Ozu thực hiện cùng với Hara Setsuko, nhan đề của những bộ phim này thường có nguồn cảm hứng từ độ tuổi và hoàn cảnh của nhân vật do Hara thủ vai; trong phim Banshun, cô gái ở độ tuổi  mà ai cũng mong cô sẽ lấy chồng, trong phim Bakushū (Early Summer) cô đã qua độ tuổi đó, và trong phim Akibiyori (Late Autumn) cô là một quả phụ trung niên. Ba bộ phim đầu là Banshun (1949), Bakushū (1951), Tōkyō Monogatari (1953) – cách quãng đều đặn hai năm và xen kẽ đó là những phim không có Hara đóng, có thể được xem là bộ ba phim với những nối kết mơ hồ. Trong cả ba phim (và chỉ ba phim này) nhân vật của Hara đều mang tên Noriko, và trong mỗi phim thì câu chuyện chính yếu liên quan đến áp lực đặt lên cô gái để cô kết hôn (trong trường hợp ở phim Tōkyō Monogatari) hoặc tái giá.

Banshun, cùng với nhiều phim khác của Ozu, đã chịu sự phân cực đáng tiếc ở phương Tây theo hai lối phê bình có sức ảnh hưởng nhưng chưa tương xứng: loại phân tích nội dung do Joan Mellen thực hành trong cuốn The Waves of Genji’s Door (sau phần tóm tắt cốt truyện là phần đánh giá cho rằng Ozu là một người bảo thủ nhốt mình trong nỗi hoài niệm về những giá trị của chế độ phụ quyền truyền thống ở Nhật vốn đang bị đe doạ hoặc sụp đổ) và dạng phân tích hình thức luận của Nöel Burch (To the Distant Observer) giới thiệu Ozu như một nhà làm phim “mang chất hiện đại” bởi vì phương pháp của ông kháng cự lại sự thống trị của các quy tắc Hollywood, một cách tiếp cận khiến cho chủ đề của những cuốn phim thành ra không liên quan. (Cuốn Ozu and the Poetics of Cinema của David Bordwell đại diện cho một động thái đáng ngạc nhiên hướng đến việc điều chỉnh lại sự phân cực này, Bordwell trước đó từng được liên hệ với hình thức luận nghiêm ngặt của Burch.) Cách xử lí những quan hệ không gian trong tác phẩm của Ozu chắc chắn khác đáng kể với những chuẩn tắc của Hollywood, và điều này ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa chúng ta với các nhân vật và với câu chuyện, nhưng câu chuyện rõ ràng vẫn chiếm ưu thế: một mặt Ozu có mối quan tâm tỉ mỉ đến các chi tiết tế vi của cách xây dựng kịch bản và mặt khác diễn xuất không thể bị gạt qua bên một cách đơn giản được nhằm tôn sùng những kĩ thuật hình thức của ông (“những chẩm cảnh”, những cảnh không trùng khớp theo tầm nhìn (eyeline mismatch), cách dùng không gian 360 độ, v.v.). Về lời buộc tội bảo thủ, độ nhạy cảm mang tính phê phán của Ozu đối với toàn bộ các khía cạnh của sự thay đổi xã hội, đối với những gì đạt được và những gì mất đi, và đối với sự suy tàn của các giá trị cũ và sự xuất hiện các giá trị mới, đến mức sao cho những bộ phim của ông ít nhất tự đưa mình sẵn sàng đến với lối đọc cấp tiến cũng như đến với lối đọc bảo thủ. Chúng thực tế quá phức tạp đến nỗi chống lại bất kì sự phân loại đơn giản nào mang tính chính trị, mỗi vị trí được kịch tính hoá trong những phim đó đều được những vị trí khác đảm bảo. Thường ta khó xác định rõ ràng một cách tất yếu và khó xác định chính xác những phim đó nói về điều gì. Continue reading

David Bordwell – Về đạo diễn Ozu Yasujirō

Ozu Yasujiro

David Bordwell

Về đạo diễn Ozu Yasujirō

Duy Đoàn chuyển ngữ

Trong suốt sự nghiệp của mình, Ozu Yasujirō làm việc trong nền công nghiệp điện ảnh chính thống. Tuân thủ vai trò của mình, trung thành với hãng phim của mình (hãng Shochiku phi thường), ông thường sánh mình với người bán đậu hủ, cung cấp những món bổ dưỡng nhưng cực kì bình thường. Đối với một số nhà phê bình, sự vĩ đại của ông bắt nguồn từ mối quan hệ gần gũi với những thực tế hàng ngày trong đời sống Nhật-bản. Tuy nhiên kể từ cái chết của ông, một quan điểm phê bình khác đã xuất hiện. Con người bảo thủ khiêm nhường này bắt đầu được công nhận như một trong những nhà làm phim thú vị nhất về mặt hình thức trên thế giới, một đạo diễn đã mở rộng thể loại mình đã làm việc cùng và phát triển nên một phong cách điện ảnh phong phú và độc nhất.

Ozu khởi nghiệp trong một hệ thống phân loại có sẵn bấy lâu, và ông nhanh chóng tự chứng tỏ mình là người đa năng, làm về những bộ phim hài về trường đại học, những câu chuyện buồn bã về những viên chức văn phòng, thậm chí còn làm phim về băng đảng. Tuy nhiên, tới năm 1936, ông bắt đầu chuyên môn hoá. Thể loại “chính kịch gia đình”, một nét đặc trưng của Shochiku, tập trung vào những thử thách và niềm vui nơi cuộc sống của tầng lớp trung lưu hoặc của tầng lớp lao động – nuôi dạy con cái, tìm việc làm, gả con trai và gả con gái, dàn xếp những bất đồng trong hôn nhân, đem lại sự thoải mái cho những người ông bà. Chính ở thể loại này mà Ozu tạo được những bộ phim nổi tiếng nhất và người ta nói rằng ông đã tỏ lòng thán phục trước thể loại này ngay giờ phút lâm chung: “Sau rốt, ngài chủ tịch, là chính kịch gia đình.” Continue reading

Roger Ebert – Về bộ phim Tōkyō Monogatari (1953) của Ozu Yasujirō

Tokyo Story

Gần như không có cốt truyện nào có thể đơn giản hơn. Một cặp vợ chồng già lên thành phố thăm con cháu. Những đứa con đều bận rộn, và cặp vợ chồng già làm đảo lộn sinh hoạt hằng ngày của họ. Theo một cách lặng lẽ mà không ai kịp nhận ra, chuyến đi trở nên tồi tệ. Cặp vợ chồng trở về quê. Vài ngày sau, bà mẹ chết. Lúc này đến lượt những người con phải lên đường.

Từ những yếu tố ít ỏi như vậy, Ozu Yasujirō đã làm nên một trong những bộ phim vĩ đại nhất mọi thời đại. “Câu chuyện Tokyo” (1953) không có những giật gân và cảm xúc được sắp đặt; nó lờ đi những khoảnh khắc mà một bộ phim kém cạnh hơn sẽ khai thác. Nó không cố gắng trói buộc những xúc cảm của chúng ta mà muốn chia sẻ sự đồng cảm của mình. Bộ phim làm điều này tuyệt đến nỗi tôi gần như rơi nước mắt trong khoảng 30 phút cuối phim. Nó làm điện ảnh trở nên cao quý. Nó muốn nói rằng một bộ phim có thể đưa chúng ta tiến thêm một bước chống lại những khiếm khuyết của bản thân.

Bộ phim làm được điều này với những nhân vật quen thuộc đến nỗi chúng ta có thể nhận ra họ ngay lập tức — đôi khi là ở ngay trong gương. Bộ phim được làm khoảng 50 năm trước ở Nhật, bởi một người đàn ông được sinh ra 100 năm trước, và nó nói về gia đình của chúng ta, bản tính của chúng ta, những khiếm khuyết và sự vụng về của ta trong cuộc kiếm tìm tình yêu và ý nghĩa. Không phải cuộc sống làm cho chúng ta bận rộn đối với gia đình. Chính chúng ta đã sắp xếp chúng như vậy để phòng cho chúng ta không phải đối mặt với những câu hỏi lớn về tình yêu, sự nghiệp và cái chết. Chúng ta trốn vào những thứ hiển nhiên, những câu chuyện vụn vặt và những thứ phiền toái. Khi có cơ hội sum họp gia đình để chia sẻ những mong muốn và điều lo âu, chúng ta lại nói về thời tiết và xem TV. Continue reading

BFI – 10 bộ phim tuyệt vời về mùa hè

Tác giả: Samuel Wigley

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Hè tới, và cuộc sống trông dễ chịu. Monsieur Hulot khởi hành trên chiếc xe ọp ẹp để đi du lịch ở bãi biển (Les Vacances de M. Hulot, 1953). Mười hai vị bồi thẩm đoàn do dự đã toát mồ hôi ướt đẫm hết áo trong một phiên toà ở New York (12 Angry Men, 1956). Sandra Dee đánh bóng tấm ván lướt sóng của mình (Gidget, 1959)…

Đây là quãng thời gian nóng nực, Jack Lemmon và Walter Matthau cố gắng xoa dịu cơn nóng bằng cách mở cửa tủ lạnh (The Odd Couple, 1967). Julie cứ theo Céline sau khi thấy cô nàng quẩn quanh đó với vẻ bối rối ở khu công viên nọ vào một buổi chiều huyền ảo tại Paris (Céline and Julie Go Boating, 1974). River Phoenix và những người bạn xuất phát đi tìm phần cơ thể bị thất lạc của cậu bé nọ (Stand by Me, 1986). Jesse Eisenberg nén lòng kiêu hãnh mình lại để làm công việc thời vụ tại một công viên giải trí ở địa phương (Adventureland, 20009)…

Với ý tưởng đưa mùa hè lên màn ảnh, một loạt những hình ảnh như thế ồ ạt xuất hiện ra, đó là những bộ phim thể loại tiệc tùng trên bãi biển hồi thập niên 1950 xô đẩy nhau với những cảnh nô đùa theo đợt sóng mới ở vùng nông thôn Pháp (Jules et Jim, 1962; Pierrot le fou, 1965). Có nhiều bộ phim dành cho thanh thiếu niên nói về lứa tuổi sắp trưởng thành suốt kì nghỉ hè dài đằng đẵng, và những bộ phim nói về tâm trạng người ta trở nên cáu bẳn khi phải chịu cái nóng oi bức nơi những thành phố lớn (Dog Day Afternoon, 1975; Falling Down, 1992). Có những bộ phim diễn ra ở phương đông, với bối cảnh nhiệt đới ở Việt-nam và Thái-lan, nơi đó người ta dễ có cảm giác nóng ẩm đến mức lúc nào bạn cũng đầm đìa mồ hôi (At the Height of Summer, 2000; Blisfully Yours, 2002).

Danh sách này liệt kê những bộ phim tuyệt vời về mùa hè và nó không hẳn là danh sách chung quyết: những bộ phim mùa hè giống như những kì nghỉ hè vậy, ai cũng có sở thích riêng. Nhưng đây là 10 bộ phim có thể làm bạn cảm giác được sức nóng của mùa hè, cảm giác được những buổi ban ngày dài đằng đẵng và những buổi đêm oi bức, cùng cảm giác về tự do và những khả năng có thể xảy ra trong đời. Continue reading

11 bộ phim tuyệt vời về tuổi thơ

(Theo BFI)

Cría cuervos (1976)

Đạo diễn: Carlos Saura

Cría cuervos

Diễn viên người Tây-ban-nha Ana Torrent có một chỗ đứng ý nghĩa trong lịch sử điện ảnh – với vai diễn là một đứa trẻ, đôi mắt mở to mà lại chất chứa nét bí ẩn với vẻ buồn rầu, bà góp mặt trong hai bộ phim vốn được xem là những thước phim bất hủ nhất khơi gợi về thời thơ ấu.

Lúc bảy tuổi, trong bộ phim mê hoặc lòng người The Spirit of the Beehive (1973) của Victor Erice, bà đóng vai một cô bé khép kín trong một gia đình vùng Castile, cô bé này trở nên thích thú, thậm chí còn bị ám ảnh trước con quái vật của Boris Karloff sau khi xem trên màn ảnh phiên bản phim năm 1931 của Frankenstein.

Ba năm sau, trong phim Cría cuervos (1976, nhan đề tiếng Anh là “Raise Ravens”), Carlos Saura đã cho bà đóng vai một đứa trẻ bị ám ảnh khác, Ana, một cô bé 8 tuổi phải đương đầu với cái chết của người mẹ. Khi tạo dựng một thế giới không có sự hiện diện của những đứa bé dễ thương hay những cảnh tượng uỷ mị về tuổi thơ vốn xuất hiện trong nhiều bộ phim Hollywood, như Pollyanna (1960), thì bộ phim của Saura đã nhận thấy được thời thơ ấu mỏng manh phải vật lộn với tổn thương và mất mát, và bị vây quanh bởi nhiều suy nghĩ và xúc cảm lạ thường.

Tựa như người đồng hương Luis Buñuel, Saura đan xen huyễn tưởng và thực tại trong bộ phim của mình, không bao giờ báo hiệu rõ ràng khi nào thì cái này trở thành cái kia. Đối với Ana, luôn có ý nghĩ là mình đã chuốc độc người cha quan hệ lăng nhăng, thì những lần tâm trí bay bổng và mỗi chuyến trở lại u tối của trí tưởng tượng cô bé trông mãnh liệt và hiển hiện như nhà cửa trong khu phố hay như những món đồ nội thất trong căn nhà ảm đạm của giới tư sản mà cô bé đang ở.

Một Ana tò mò, hay cáu kỉnh, u buồn, thích vui đùa là một sự hiện diện thu hút người xem, giống như một trong những đứa trẻ kì dị, phức tạp mà ta gặp được ngoài đời thực chứ không phải một bức tranh lí tưởng về những nét dễ thương và tràn ngập ánh sáng.

Sau đây là 10 bản khắc hoạ điện ảnh tuyệt vời khác về tuổi thơ trên toàn thế giới. Chúng đầy ắp niềm vui mà cũng hàm chứa nhiều thách thức thời tuổi nhỏ, những bộ phim này nói về tuổi thơ chứ không phải là những bộ phim dành cho trẻ em – mỗi bộ phim đều cho thấy làm thế nào mà số phận, tình bạn, sự bất định và những bí ẩn của thế giới người lớn lại định hình và tô vẽ nên những năm tháng ấu thơ của chúng ta.  Continue reading