8 nghiên cứu chứng minh sức mạnh của sự đơn giản

Nghiên cứu tâm lý học trên sự lưu loát về nhận thức cho thấy tại sao dễ hiểu = sinh lời nhiều hơn, dễ chịu hơn, thông minh hơn và an toàn hơn.

Bạn nghĩ chất phụ gia nào sau đây nguy hiểm hơn : Hnegripitrom hay Magnalroxate ?

Đa số mọi người sẽ nói Hnegripitrom nghe có vẻ nguy hiểm hơn. Nhưng thực chất chữ “Magnalroxate” dễ nghĩ hơn là “Hnegripitrom”, có lẽ vì nó dễ đọc hơn, và mọi người đánh đồng sự đơn giản với sự an toàn (sự thật là cả hai chữ đều được bịa ra).

Đây là một ví dụ của nghiên cứu tâm lý học về sự biến đổi nhận thức : ý nghĩ về những ý nghĩ khác. Một thứ có dễ nghĩ hay không – sự lưu loát về nhận thức – là một kiểu quan trọng của biến đổi nhận thức, với tất cả các kiểu lợi ích đến từ những điều dễ xử lý.

Dưới đây là 8 nghiên cứu ưa thích của tôi cho sự lưu loát về nhận thức, cho thấy cảm giác một điều gì đó dễ suy nghĩ có thể giải thích nhiều đến thế nào (hoặc ngược lại).

1. Bài viết phức tạp làm bạn có vẻ ngu ngốc

Nhiều người trong chúng ta đã từng làm như vậy ở trường : cố gắng gây ấn tượng với giáo viên với ngôn ngữ bóng bẩy và những câu văn phức tạp, cho rằng chúng sẽ làm cho ta có vẻ thông minh. Nhưng chúng tôi đã sớm phát hiện ra, đa số mọi người không thành công với ý nghĩ đó.

Điều này đã được kiểm chứng bởi một nghiên cứu thay đổi sự phức tạp trong bài viết để xem người đọc sẽ đánh giá trí thông minh của tác giả như thế nào. Kết quả là bài viết càng phức tạp, người đọc lại càng đánh giá trí thông minh của người viết thấp hơn (Oppenheimer, 2005).

Vậy nên nếu bạn muốn được xem là thông minh (ai mà lại không muốn chứ ?), hãy giữ bài viết của bạn đơn giản. Điều này hoàn toàn phù hợp với những lời khuyên tiêu chuẩn cho những ai muốn trở thành nhà văn. Đáng buồn là sự đơn giản có khi còn khó đạt được hơn là sự phức tạp.

(Chú thích : hoàn cảnh của nghiên cứu này là các học sinh nhận xét bài luận của học sinh khác. Nghiên cứu này có thể không mở rộng đến những kiểu bài viết hay người đọc khác.) Continue reading

Advertisements

10 điều bất thường thú vị về trí nhớ mà mọi người nên biết

Nhiều người nói rằng họ có trí nhớ kém, nhưng phần lớn là sai. Cách hoạt động của trí nhớ có thể gây bất ngờ, gây thất vọng, kỳ lạ – nhưng không hẳn là ‘kém’.Đối với đa số chúng ta thì vấn đề không nằm ở trí nhớ của chúng ta, mà nằm ở sự hiểu biết của chúng ta về cách hoạt động của trí nhớ.

Sau đây là 10 điều bất thường thú vị của trí nhớ đem lại một sự hiểu biết tốt hơn về thứ làm chúng ta nhớ – hoặc quên.

[Image: leaking_head2.jpg]

1.Bối cảnh là vua

Thứ chúng ta có thể ghi nhớ phụ thuộc một phần vào tình huống và trạng thái tinh thần của chúng ta vào thời điểm đó. Đó là vì trí nhớ của chúng ta làm việc bằng cách liên tưởng.

Bản thân bối cảnh có thể chỉ về mọi kiểu sự việc: một số sự việc thì dễ dàng hơn để ghi nhớ ở một địa điểm nào đó, những sự việc khác thì dễ nhớ hơn khi chúng ta trải nghiệm về những mùi cụ thể, hoặc khi chúng ta đang có những trạng thái cảm xúc đặc biệt.

Một nghiên cứu chứng minh điều này bằng cách yêu cầu những người lặn biển học danh sách các từ hoặc là dưới nước 15ft hoặc học trên cạn (Godden & Baddeley, 1975).

Hóa ra khi họ học các từ dưới nước, họ đã nhớ được 32% số từ khi được kiểm tra dưới nước, nhưng chỉ nhớ được 21% khi được kiểm tra trên cạn.

Tất nhiên trí nhớ của chúng ta phức tạp hơn nhiều so với danh sách các từ. Nhưng nghiên cứu khẳng định rằng đối với trí nhớ thì bối cảnh rất quan trọng. Continue reading

Bản đồ cơ thể của những cảm xúc

Nghiên cứu mới tiết lộ nơi con người cảm nhận những cảm xúc khác nhau trong cơ thể.

Không giống như những ý nghĩ, các cảm xúc không hoàn toàn sống trong tâm trí mà chúng còn gắn liền với những cảm giác cơ thể.

Ví dụ, khi chúng ta cảm thấy lo lắng, chúng ta có cảm giác bồn chồn trong dạ dày.

Nhờ nghiên cứu mới mà lần đầu tiên chúng ta có được một bản đồ về những mối liên kết giữa các cảm xúc và cảm giác cơ thể.

Các nhà nghiên cứu Phần Lan đã gây ra những cảm xúc khác nhau ở 701 người tham gia và sau đó sử dụng chúng để tô màu trong một bản đồ cơ thể về nơi họ cảm nhận hoạt động gia tăng hoặc giảm xuống (Nummenmaa et al., 2013). Continue reading

7 sự thật thú vị về trầm cảm

Trầm cảm không chỉ là tình trạng thường xuyên “cảm thấy buồn” hoặc nghĩ rằng cuộc sống vô nghĩa.

Sau đây là 7 sự thật thú vị về trầm cảm, đem lại một số hiểu biết sâu sắc về một tình trạng phúc tạp và rất phổ biến.

1. Không có những mục tiêu cụ thể

Người bị trầm cảm có xu hướng khái quát hóa quá mức và trừu tượng. Đó là lí do tại sao người trầm cảm có xu hướng có nhiều mục tiêu chung chung hơn những người không bị trầm cảm (Dickinson, 2013).

Ví dụ, người trầm cảm có thể nói với bản thân: “Tôi muốn trở nên hạnh phúc,” nhưng điều này không đưa ra chỉ dẫn nào về làm thế nào đạt được hạnh phúc.

Ngược lại, người không bị trầm cảm có nhiều khả năng có những mục tiêu cụ thể như: “Tôi giữ liên lạc với gia đình bằng cách gọi điện cho họ một lần một tuần.”

Vì chúng là những mục tiêu cụ thể, rõ ràng nên có thể đạt được hơn những mục tiêu chung chung.

2. Nghiền ngẫm

Một triệu chứng quan trọng của trầm cảm là sự nghiền ngẫm: khi những suy nghĩ chán nản, thất vọng lặp đi lặp lại trong tâm trí.
Điều không may là bạn không thể yêu cầu một người bị trầm cảm dừng suy nghĩ về những điều gây chán nản; nó thật vô nghĩa. Đó là vì việc điều trị những triệu chứng của trầm cảm một phần là giành quyền kiểm soát với sự chú ý của một người.

Một phương pháp có thể đạt được điều này là sự chú tâm (mindfulness). Chú tâm nói về việc sống trong hiện tại hơn là tập trung vào những hối tiếc trong quá khứ hoặc lo lắng về tương lai. Continue reading

8 nghiên cứu về trí thông minh giúp khám phá những bí ẩn của trí tuệ

Điều hoang đường về một trí thông minh đơn nhất

 Một số người cho rằng quan điểm về trí thông minh như một thứ đơn nhất là một điều hoang đường.

Theo một nghiên cứu gần đây với hơn 100,000 người tham gia, IQ thực sự được tạo nên từ 3 thành phần (Hampshire et al., 2012).

Phân tích các kết quả, họ phát hiện thấy IQ phân thành yếu tố trí nhớ ngắn hạn, lập luận và lời nói.

Nói cách khác: một số người có thể có trí nhớ ngắn hạn mạnh mẽ nhưng là những người lập luận kém. Hoặc: một số người giỏi về ngôn ngữ nhưng có trí nhớ ngắn hạn kém.

Trí thông minh tổng thể của bạn là một kết quả của 3 tiểu hệ thống đó hoạt động như thế nào – và chúng có thể không có mức độ giống nhau. Continue reading

Làm thế nào để dạy trẻ biết chia sẻ

Làm cho trẻ em chia sẻ đồ chơi của chúng với những bạn khác có thể là khó khăn.

Bản năng đầu tiên của một số phụ huynh đó là mua chuộc hoặc thậm chí ra lệnh cho trẻ chia sẻ, nhưng điều này có thể là một sai lầm về lâu dài, theo một nghiên cứu gần đây được xuất bản trên Psychological Science (Chernyak & Kushnir, 2013).

Nghiên cứu phát hiện thấy khi trẻ 3 và 4 tuổi được cho quyền tự do để chia sẻ thì điều này khuyến khích trẻ chia sẻ nhiều hơn trong tương lai, so với khi chúng được dạy chia sẻ.

Xây dựng một tính cách chia sẻ

Yêu cầu trẻ chia sẻ có vẻ là một quan điểm hay, nhưng nó có thể phản tác dụng. Continue reading

6 hiệu ứng tâm lý khi rửa tay

Rửa tay không chỉ giúp bạn khỏe mạnh hơn mà nó còn có những tác động tâm lý tinh tế.

Rửa tay gửi một thông điệp ẩn dụ vô thức cho tâm trí: chúng ta không chỉ tẩy sạch những chất cặn bã khỏi cơ thể mà chúng ta còn tẩy sạch những cặn bã tinh thần.

Sau đây là 6 hiệu ứng tâm lý của việc rửa tay…

1. Khôi phục tính lạc quan

Rửa tay của bạn có thể rửa sạch cảm giác thất bại.

Trong một nghiên cứu của Kaspar (2012) những người tham gia từng thất bại trong một nhiệm vụ, sau đó rửa tay của họ, đã cảm thấy lạc quan hơn sau đó so với những người không rửa tay.

Điều không may là, rửa tay có vẻ như làm giảm động cơ thử làm lại nhiệm vụ của họ.

Dù sao thì rửa tay có thể giúp nâng cao sự lạc quan sau một thất bại. Continue reading

Khoa học thần kinh tiết lộ sức mạnh của sự thấu cảm ở con người

Trong một thực nghiệm mới, những người tham gia đầu tiên được đặt trong một máy fMRI và được xem một loạt hình của X và O trên một màn hình (Beckes et al., 2013).

X chỉ về 17% khả năng họ sẽ bị một dòng điện nhẹ giật qua mắt cá chân, còn O chỉ rằng họ an toàn (được một lúc).

Máy quét não của những người tham gia cho thấy khi có một khả năng họ bị điện giật, những phần não liên quan đến phản ứng trước đe doạ trở nên năng động hơn. Điều này đúng như tiên liệu.

Nhưng đôi lúc những người tham gia nắm tay một người bạn thân, và bạn của họ bị điện giật chứ không phải họ.

Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy sự hoạt động trong não của những người tham gia hầu như giống nhau khi bạn họ sắp bị điện giật cũng như khi họ sắp bị điện giật.
Có tương đối ít hoạt động trong những vùng não phản ứng trước đe doạ khi họ nắm tay một người lạ. Continue reading

Tại sao con người là những nhà truyền bá lối sống của riêng họ

Bạn có để ý thấy những người đã kết hôn muốn mọi người đều phải kết hôn…? Và những người đang độc thân nghĩ rằng độc thân là cách duy nhất để sống cho một người văn minh,  hiện đại?

Con người dễ trở thành những nhà truyền giáo về cách sống của riêng họ. 1 số người nghĩ rằng vì họ đã đưa ra một lựa chọn cuộc sống nào đó nên tất cả mọi người cũng nên làm tương tự.

Tại sao rất khó để chấp nhận rằng những lựa chọn khác nhau phù hợp với những người khác nhau?

Đó là câu hỏi đã thu hút  Laurin et al. (2013), người đã kiểm tra một lời giải thích.

Họ tự hỏi liệu đó có phải là kết quả của cảm giác rằng hoàn cảnh của bạn là không thể thay đổi được một cách tương đối. Nói rằng bạn cảm thấy bạn sẽ không bao giờ gặp được bất kì ai và bạn sẽ độc thân mãi mãi, hoặc bạn sẽ bị mắc kẹt trong một cuộc hôn nhân mãi mãi và không có hy vọng thoát khỏi nó.

Họ tự hỏi liệu tâm trí chống lại điều không thể tránh khỏi này bằng cách hợp lý hoá và lý tưởng hoá hoàn cảnh hiện tại

Lý tưởng hoá một hoàn cảnh làm bạn có nhiều khả năng xem nó là tốt nhất cho tất cả mọi người, hơn là một điều gì đó xảy ra phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của bạn.

Qua 4 nghiên cứu, các nhà nghiên cứu phát hiện thấy chính xác kiểu mẫu này. Khi con người nghĩ rằng tình trạng mối quan hệ của họ là không thể thay đổi được thì họ có nhiều khả năng lý tưởng hoá nó. Họ cũng có nhiều khả năng thích những người có tình trạng giống như của họ:

“Biết rằng những người khác sống cuộc sống của họ khác biệt với bạn có thể đe doạ đến sự hợp lý của những lựa chọn cuộc sống của bạn, và sự lý tưởng hoá về tình trạng của một người đem lại một sự hợp lý hoá đơn giản khi đối mặt với những đe doạ tiềm ẩn không ngừng của hiện tại đó. Sự lý tưởng hoá này ngụ ý rằng những người khác là tệ hơn vì những sự sắp xếp cuộc sống khác biệt của họ và “cách sống của tôi là cách mà tất cả mọi người nên làm theo.” (Laurin et al., 2013)

Thanh Hằng dịch

Nguồn: http://www.spring.org.uk/2013/07/its-my-way-or-the-highway-why-people-are-evangelists-for-their-own-way-of-life.php

Sự lười biếng xã hội: khi nhóm không tốt cho năng suất lao động

Làm việc theo nhóm có thể không hiệu quả vì nhóm mang lại sự ngụy trang thần kỳ. Dưới vỏ bọc làm việc theo nhóm, mọi người sẽ lười biếng, và nếu họ chăm chỉ, ai sẽ biết điều đó?

Đó là điều các nhà tâm lý gọi là sự lười biếng xã hội (social loafing) và nó được mô tả bởi giáo sư kỹ thuật nông nghiệp người Pháp, Max Ringelmann vào những năm 1890.

Ringelmann thường được biết đến là một trong những nhà sáng lập tâm lý học xã hội. Ông đã phát hiện thấy trong nhóm càng có nhiều người thì họ càng ít làm việc.

Để ý thấy mọi người chỉ làm khoảng 1/2 công việc khi trong nhóm có 8 người so với khi họ làm một mình.

Lười biếng và bạn biết nó? Không buồn vỗ tay.

Kể từ nghiên cứu ban đầu của Ringelmann, những nghiên cứu khác cũng có kết quả tương tự dù sử dụng những kiểu nhiệm vụ khác nhau. Nghiên cứu thú vị nhất là của giáo sư Bibb Latané và các cộng sự đã yêu cầu mọi người cổ vũ, reo hò và vỗ tay càng to càng tốt (Latané et al., 1979). Khi mọi người ở trong những nhóm 6 người họ chỉ hò hét bằng 1/3 khả năng của họ.

Hiệu ứng đó được phát hiện trong những nền văn hoá khác nhau bao gồm Ấn Độ, Đài Loan, Pháp, Ba Lan và Mỹ, nó được phát hiện trong những nhiệm vụ khác nhau như bơi lội, đánh giá những bài thơ, di chuyển trong mê cung và trong nhà hàng. Tuy nhiên, sự lười biếng xã hội ít thấy hơn trong những nền văn hoá theo chủ nghĩa tập thể như ở nhiều nước châu Á, quả thực đôi khi nó được đảo ngược.

Lưu ý rằng sự lười biếng xã hội gây nguy hại nhất cho năng suất nhóm khi những nỗ lực của mỗi thành viên nhóm bị cộng lại. Tuy nhiên không phải tất cả các công việc đều phù hợp với phân loại này. Ví dụ, những buổi họp nhóm giải quyết vấn đề dựa trên những đóng góp của những thành viên giỏi nhất trong nhóm (lười xã hội) sẽ không nhất thiết làm giảm năng suất của nhóm này. Continue reading