Peter Gray – Thiếu thốn việc chơi đùa

 

Peter Gray

Thiếu thốn việc chơi đùa

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Lời người dịch: Đây là bài viết của nhà tâm lí học Peter Gray, bàn về chuyện chơi đùa của trẻ con và tầm quan trọng của nó.

The play deficit

 

Hồi thập niên 1950, lúc tôi còn bé, mấy đứa trẻ tụi tôi có hai môi trường giáo dục. Chúng tôi có trường học (vốn chẳng phải là thứ to tát giống như ngày nay), và chúng tôi còn có cái mà tôi gọi là “nền giáo dục săn bắt – hái lượm”. Gần như ngày nào sau giờ học, chúng tôi cũng chơi cùng với những đám trẻ đủ mọi lứa tuổi, thường là chơi đến lúc tối mịt. Chúng tôi chơi suốt những ngày cuối tuần và suốt cả mùa hè dài đằng đẵng. Chúng tôi có thời giờ khám phá đủ kiểu, và cũng có thời giờ để cảm thấy chán chường và tìm cách hết chán, có thời giờ để gặp đủ mọi rắc rối và tìm cách thoát khỏi chúng, có thời giờ để mộng mơ, có thời giờ để lao vào chìm đắm trong đủ mọi thú vui, và có cả thời giờ đọc truyện tranh hay đọc bất kì thứ nào tuỳ ý thay vì chỉ đọc sách ở trường. Những gì tôi học được ở nền giáo dục săn bắt – hái lượm rất quý giá đối với cuộc sống trưởng thành của mình, hơn hẳn những gì tôi học được ở trường lớp, và tôi nghĩ những người cùng lứa tuổi với tôi hẳn cũng nghĩ giống thế nếu họ có thời giờ suy nghĩ về điều này.

Hơn 50 năm trôi qua, nước Mĩ hiện nay đang dần dần giảm đi các cơ hội chơi đùa của bọn trẻ, và chuyện tương tự cũng xảy ra ở nhiều nước khác. Trong cuốn sách Children at Play: An American History (2007), Howard Chudacoff cho rằng nửa đầu thế kỉ 20 là ‘thời kì hoàng kim’ đối với việc tự do chơi đùa của bọn trẻ. Vào khoảng năm 1900, nhu cầu lao động trẻ em đã giảm xuống, do vậy trẻ em lúc này có nhiều thời giờ rảnh. Nhưng sau đó, từ khoảng năm 1960 hoặc trước đó một chút, người lớn bắt đầu xén bớt sự tự do ấy bằng cách tăng giờ học hành của bọn trẻ, và thậm chí còn làm giảm việc tự do chơi đùa một mình của trẻ, thậm chí khi chúng hết giờ học và không phải làm bài tập.  Những môn thể thao do người lớn điều khiển bắt đầu thay thế những trò trẻ con; những lớp học ngoại khoá do người lớn chủ trì bắt đầu thay thế những thú vui con trẻ; và những nỗi sợ hãi của các bậc cha mẹ khiến họ thậm chí còn cấm con mình ra ngoài chơi với những đứa trẻ khác, cấm tụi nhỏ đi xa khỏi nhà mà không ai giám sát. Có nhiều lí do cho những đổi thay này nhưng cái tác động đó, qua nhiều thập niên, đã liên tục làm suy giảm một cách đáng kể những cơ hội chơi đùa của bọn trẻ và những cơ hội khám phá theo cách riêng của chúng. Continue reading

Advertisements

Scientific American Mind – Giúp trẻ yêu thích toán học

 

Giúp trẻ yêu thích toán học

Tác giả: John Mighton

Hình minh hoạ của Celia Johnson

Duy Đoàn chuyển ngữ

Với kế hoạch giảng dạy thích hợp, giáo viên có thể biến những em học sinh chật vật trở thành những nhà toán học tiềm năng. Bí mật ở đây là việc hướng dẫn kĩ lưỡng các em trong chuyến phiêu lưu vào thế giới những con số.

Tôi vẫn còn nhớ rõ cái ngày cách đây 14 năm, khi đó tôi gặp được một cô bé lớp sáu cao ráo và rất chi là nhút nhát tên là Lisa, cô bé ngồi ở bàn để chuẩn bị buổi học toán đầu tiên với tôi. Hiệu trưởng của Lisa đã khuyến nghị cô bé nên tham gia chương trinh phụ đạo miễn phí sau giờ học mà tôi đã khởi xướng ở căn hộ của mình cùng với mấy người bạn nữa. Mặc dù tôi đã yêu cầu vị hiệu trưởng kiếm giúp mình những em học sinh đang chật vật với môn toán, nhưng tôi thật sự chưa sẵn sàng để gặp Lisa.

Tôi đã lên kế hoạch tăng cường sự tự tin ở Lisa bằng cách dạy cô bé phép cộng các phân số. Theo kinh nghiệm làm gia sư trước đây, tôi biết trẻ con thường hình thành những nỗi âu lo về môn toán khi lần đầu tiên tiếp cận các phân số. Bởi vì bài học của tôi liên quan đến phép tính nhân, nên tôi hỏi Lisa liệu em ấy có gặp vấn đề gì trong việc ghi nhớ bất kì bảng cửu chương nào hay không, nhưng cô bé cứ ngây ra nhìn tôi chằm chằm. Cô bé không biết phép nhân nghĩa là gì. Ngay cả khái niệm đếm cách quãng hơn một cũng là điều lạ lẫm đối với em. Em ấy sợ hãi khi tôi đặt câu hỏi và lúc tôi đế cập đến những khái niệm đơn giản nhất thì em ấy cứ luôn miệng bảo, “Em không hiểu.”

Tôi không biết phải làm gì với Lisa, thế là tôi quyết định thử xem liệu cô bé có học được cách đếm cách quãng hai con số hay không để cuối cùng cô bé có thể làm được phép nhân hai. Để làm dịu nỗi sợ của cô bé, tôi bảo rằng tôi chăc chắn em ấy đủ thông minh để học phép nhân. Tôi sợ có thể mình đưa ra lời khen giả tạo, nhưng lời khuyến khích của tôi dường như giúp em ấy tập trung được, và em ấy tiến bộ nhiều hơn tôi mong đợi. Continue reading

Scientific American Mind – Nghiên cứu khoa học về sự viết tay

 

Nghiên cứu khoa học về sự viết tay

Tác giả: Brandon Keim

Hình minh hoạ của Celia Johnson

Duy Đoàn chuyển ngữ

Tôi đang viết bài báo này bằng kiểu táo bạo, thử nghiệm ngược ngạo, dùng một kĩ thuật hiếm khi được thấy trong giới xuất bản hiện đại: viết tay, dùng bút và giấy, những dụng cụ xuất xứ từ cây cối này vốn chỉ được coi là những vật lạ kì mang tính lịch sử trong mắt giới mê công nghệ, giống như mấy tấm bản đất sét hay máy đánh chữ Remington.

Tại sao tôi lại làm điều như vậy trong thời đại bấm phím này? Một phần tôi làm vậy vì viết tay đang trở thành một hoạt động bên lề, ở ngoài xã hội và trong đời tôi. Chúng ta gõ chữ nhiều hơn bao giờ hết, và không phải điều gì bất thường khi ta gặp những người hoàn toàn ngưng dùng tay để viết, chữ viết của họ khô quắt như những chi cụt còn để lại vết tích.

Tôi luôn có cảm giác rằng suy nghĩ của tôi sẽ khác – cân nhắc hơn, phong phú hơn – khi thông qua bàn tay thay vì cỗ máy. Mấy người tôi gặp thường kể những câu chuyện giống vậy. Họ vẫn dùng bàn phím để chuyển tải phần lớn chữ nghĩa, nhưng vẫn dùng tay lập danh sách, ghi chú, phác thảo các đoạn văn hay sắp xếp ý nghĩa. Họ cũng cảm thấy viết tay liên quan đến trí óc theo một cách khác.

Chỉ cảm giác thôi chắc chắn thiếu tính khoa học. Nó có thể là ảo tưởng hoặc bị nhiều nhân tố làm xáo trộn, chẳng hạn khó khăn khi kiểm tra e-mail trên giấy, vốn không có liên quan gì đến những thuộc tính tri nhận của viết tay. Các nhà hoài nghi có thể khẳng định rằng trẻ em thời hiện đại, khi trải nghiệm bàn phím và màn hình, sẽ vận dụng được các thiết bị đó để có được kết quả tương đương. Chừng nào mà ta còn viết, thì chuyện đó ảnh hưởng ra sao có quan trọng gì?

Minh triết theo truyền thống cũng theo hướng vậy. Mọi cuộc chuyển dời công nghệ quan trọng ngàn năm có một đều gây ra mối bận tâm đau đầu: chúng ta lo lắng về chứng nghiện Internet, tình bạn trở nên tầm thường hơn do các phương tiện truyền thông xã hội, máy đọc sách điện tử thay thế sách giấy, màn hình điện tử sẽ biến bọn trẻ thành những kẻ nghiện ngập thế giới mô phỏng. Tuy vậy ngoại trừ cuốn The Missing Ink đáng yêu của Philip Hensher có đi dò xét phần lịch sử văn hoá của lối viết tay, thì chuyện kĩ thuật này mất dần, trọng tâm cho sự trỗi dậy của nền văn minh, phần lớn không được người đời lưu ý đến. Continue reading

Scientific American Mind – Đánh giá các phương pháp học tập

Scientific American Mind

Đánh giá các phương pháp học tập

Các tác giả: John Dunlosky, Katherine A. Rawson, Elizabeth J. Marsh, Mitchell J. Nathan & Daniel T. Willingham

Hình minh hoạ của Celia Johnson

Duy Đoàn chuyển ngữ

Nhìn chung giáo dục thường tập trung vào nội dung học tập, chẳng hạn đại số, các nguyên tố trong bảng tuần hoàn hay cách chia động từ. Nhưng tìm hiểu cách học cũng là điều quan trọng không kém, đi kèm nhiều lợi ích lâu dài. Điều đó có thể dạy bạn cách thu thập kiến thức nhanh và hiệu quả hơn cũng như cho phép bạn giữ được thông tin suốt nhiều năm thay vì trong nhiều ngày.

Hơn 100 năm nay, những nhà tâm lí học tri nhận và giáo dục đã phát triển và đánh giá vô số kĩ thuật, từ việc đọc lại tài liệu cho đến tóm tắt lại để tự kiểm tra bản thân. Một số chiến lược phổ biến rõ ràng có cải thiện thành tích của học viên, trong khi số khác lại tốn thời gian và không hiệu quả. Tuy vậy những thông tin này thường không được đưa vào áp dụng ở lớp học. Các giáo viên ngày nay không được cho biết những kĩ thuật học tập nào được các chứng cứ thực nghiệm hậu thuẫn, còn học viên thì không được dạy cách dùng những kĩ thuật đó sao cho hiệu quả. Thực tế, hai cách trợ giúp học tập mà các học viên đang dựa vào nhiều nhất lại không hiệu quả. Một trong hai cách này thậm chí còn làm suy giảm thành tích học tập.

Một nguyên do tiềm tàng chính là việc có quá nhiều nghiên cứu khiến chúng ta choáng ngợp, làm cho các nhà giáo dục và các học viên khó xác định những phương cách học tập thực tiễn và ích lợi nhất. Để đáp ứng thách thức này, chúng tôi điểm lại hơn 700 bài báo khoa học bàn về 10 kĩ thuật học tập thường được sử dụng nhất. Chúng tôi tập trung vào những chiến lược trông có vẻ dễ sử dụng và đạt mức hiệu quả rộng khắp. Chúng tôi cũng có cái nhìn sát sao hơn về một số phương pháp các học viên thường dùng.

Để được chúng tôi đưa ra giới thiệu ở đây, kĩ thuật đó phải hữu ích ở nhiều hoàn cảnh học tập khác nhau, chẳng hạn lúc học viên học một mình hay học chung nhóm. Nó phải trợ giúp học viên ở nhiều lứa tuổi khác nhau, có những năng lực khác nhau và những cấp độ hiểu biết ban đầu khác nhau – và nó phải được kiểm tra trong lớp học hoặc trong tình huống ngoài thế giới thực. Các học viên có thể dùng phương pháp đó để tinh thông nhiều môn khác nhau, và việc học tập của họ phải được hưởng lợi từ phương pháp đó bất kể trải qua loại hình kiểm tra gì. Những cách tiếp cận tốt nhất cũng phải dẫn đến những cải thiện dài lâu về mặt kiến thức và khả năng lĩnh hội.

Bằng cách dùng những tiêu chuẩn này, chúng tôi định ra hai phương pháp tối ưu rõ ràng. Chúng tạo ra những kết quả vững chắc, ổn định và thích hợp cho nhiều tình huống. Chúng tôi cũng đưa ra ba phương pháp khác để dự phòng những tình huống khác, và năm phương pháp – trong đó có hai cách trợ giúp học tập phổ biến – không được chúng tôi khuyến nghị, vì chúng chỉ hữu ích trong một số hoàn cảnh hạn chế nhất định hoặc vì chưa đủ chứng cứ để có thể đánh giá chúng cao hơn. Chúng tôi khuyến khích các nhà nghiên cứu khảo sát sâu thêm một số kĩ thuật chưa được kiểm nghiệm, nhưng học viên và giáo viên nên cẩn trọng khi dựa vào những kĩ thuật đó.

Những kĩ thuật vàng

1. Tự kiểm tra (self-testing)

Ra bài kiểm tra chính bản thân mình sẽ giúp đạt điểm cao  Continue reading

Trẻ 14 tháng tuổi có thể bắt chước hành vi bất thường nếu có ngôn ngữ kèm theo

Ảnh: © Aurum/Fotolia

Trong một nghiên cứu của trường Northwestern University công bố trên tập san Developmental Psychology thuộc American Psychological Association (Hiệp hội tâm lí học Hoa-kì) hồi tháng 7/2012, người ta đã chứng minh được năng lực của ngôn ngữ có thể khiến trẻ 14 tháng tuổi hiểu được ý định của người khác.

Khi bọn trẻ đang nhìn chăm chú thì nhà nghiên cứu thực hiện một hành vi bất thường – cô ta dùng trán để bật công-tắc đèn. Nhưng bọn trẻ diễn giải hành vi này ra sao? Liệu chúng có thấy đây là hành vi cố tình, đáng để bắt chước không? Hay chúng coi đó là hành động bất chợt thôi? Để giải đáp câu hỏi này, người ta đã cho bọn trẻ con mới 14 tháng tuổi tự chơi với cái đèn.

Các kết quả dựa trên hai thí nghiệm khác nhau đã chứng tỏ việc giới thiệu một từ ngữ mới mẻ cho một sự kiện mới mẻ diễn ra ngay sau đó sẽ tạo ra tác động mạnh khiến cho bọn trẻ có xu hướng bắt chước hành vi vừa được thực hiện ấy.Nghiên cứu đã chứng minh được là nếu hành vi đó được người ta gọi tên thì bọn trẻ có nhiều khả năng sẽ bắt chước hơn, bất luận hành vi có lạ thường ra sao đi nữa, so với trường hợp hành vi đó không được đặt tên. Continue reading

Evangelia G. Chrysikou – Óc sáng tạo trong công việc

Evangelia G. Chrysikou

Óc sáng tạo trong công việc

Duy Đoàn chuyển ngữ

Vào ngày 4/7, đó là một buổi cuối tuần năm 1994, trong lúc lái chiếc Chevy Blazer đời 1988 đi cùng với vợ, một kĩ sư máy tính tên là Jeff Bezos đã đặt nền tảng cho cuộc cách mạng lĩnh vực bán lẻ. Hồi đó thì Internet chỉ là công cụ dành cho người trong cuộc, phần lớn hoạt động còn giới hạn trong phạm vi chính phủ và các tổ chức học thuật. Nhưng sau nhiều tháng quan sát kĩ càng về công dụng của Internet, Bezos đã tiên liệu được mạng lưới này sẽ bành trướng rất khủng khiếp và có thể len vào đời sống hàng ngày của mọi người. Ông phác thảo ngay trên xe bản kế hoạch kinh doanh cho một dự án sẽ hiện thực hoá hướng nhìn đó: ông hiểu Internet có thể làm tăng mức hiệu quả của hệ thống buôn bán qua thư từ, và bắt đầu bằng việc bán sách.

Khi thực hiện bước đi táo bạo ấy, Bezos và vợ, Mackenzie, đã rời bỏ công việc lương cao ở New York về mảng tài chính để tạo dựng một nhà sách bán qua Internet đặt trụ sở tại Seattle. Họ gọi nó là “Amazon”, đặt tên theo con sông Nam-mĩ dài bất tận với nhiều nhánh khác nhau. Sau vài tháng thử nghiệm và không quảng cáo chút gì, công ti bắt đầu có được tiền doanh thu $20,000 mỗi tuần. Chỉ trong vài năm, Amazon trị giá hàng tỉ USD. Bezos đã thay đổi mãi mãi cách thức mua hàng của mọi người và tạo nên ảnh hưởng trường tồn trong giới kinh doanh.  Continue reading

Wolfgang Stroebe – Quyền năng phảng phất trong những thông điệp ẩn tàng

Wolfgang Stroebe

Quyền năng phảng phất trong những thông điệp ẩn tàng

 Duy Đoàn chuyển ngữ

Liệu những mẩu quảng cáo ngầm ẩn có ảnh hưởng đến cách hành xử của ta hay không? Các nghiên cứu mới thì bảo có – nhưng chỉ trong một số trường hợp nhất định.

Sự khai sinh của phương pháp quảng cáo ngầm ẩn trông gần như là kịch bản của một chương trình truyền hình. Trong câu chuyện có thật này, tâm điểm chú ý dồn vào James M. Vicary, một nhà nghiên cứu độc lập về marketing.

Ngày 12/9/1957, Vicary tổ chức họp báo để đưa tin về kết quả một cuộc thí nghiệm khác thường. Suốt quãng thời gian sáu tuần trong mùa hè trước đó, trong khi người ta đang xem phim Picnic, ông ấy đã sắp xếp sao cho những câu khẩu hiệu – cụ thể là “Hãy ăn bỏng ngô” và “Hãy uống Coca-Cola” – cứ mỗi năm giây lại nhấp nháy trong ba mili-giây trên màn ảnh chiếu phim ở Fort Lee, N.J. Vicary đưa ra lí lẽ rằng những thông điệp này phát ra nhanh đến mức khán giả sẽ không đọc được nhưng vừa đủ để họ ghi nhận một cách vô thức ý nghĩa của các thông điệp đó. Để chứng minh, ông đưa ra dữ liệu cho thấy rằng các thông điệp kia đã làm doanh thu bán soda ở rạp hát tăng lên 18 phần trăm và doanh thu bỏng ngô tăng lên 58 phần trăm.

Công chúng lúc ấy đã phản ứng giận dữ. Phát hiện của Vicary trực tiếp dẫn đến nỗi sợ của dân chúng vào lúc đó, họ sợ rằng Madison Avenue có thể kiểm soát khách hàng như mấy con búp-bê vô hồn. Ý tưởng cho rằng quảng cáo có thể được phát sóng ngầm ẩn đi, nằm bên dưới ngưỡng chú ý bằng nhận thức, dường như trông giống với việc tẩy não. Ngày 5/10/1957, ba tuần sau sự kiện họp báo của Vicary , Norman Cousins, tổng biên tập của tờ Saturday Review, viết một bài báo với nhan đề “Làm hoen ố tiềm thức” (Smudging the Subconscious), ở bài báo đó ông công kích chiến dịch quảng cáo “đã đột nhập vào những phần sâu thẳm và riêng tư nhất của tâm thức con người và để lại nhiều vết xước.” Cục Tình báo Trung ương (CIA) nhanh chóng đưa ra một bản báo cáo về tiềm năng khả dụng của việc nhận thức ngầm ẩn. Cuốn sách The Hidden Persuaders của Vance Packard – mô tả chi tiết tuyên bố của Vicary – chỉ trong một đêm đã trở thành sách bán chạy nhất lúc đó. Khi sức ép công chúng tăng lên, để đáp lại thì Vương quốc Anh, Úc và National Association of Broadcasters (Hiệp hội Phát thanh viên Quốc gia) ở Mĩ, tất cả đều cấm việc quảng cáo ngầm ẩn không ai thấy.  Continue reading

Michael Austin – Đạt đến sự hạnh phúc: Lời khuyên từ Kierkegaard

 

Michael Austin

Đạt đến sự hạnh phúc: Lời khuyên từ Kierkegaard

Các cấp độ trên đường đời

Triết gia Đan-mạch Sören Kierkegaard (1813-1855) tin rằng triết học nên tập trung vào những câu hỏi sâu sắc về Thượng đế,  nhân tính, đạo đức và ý nghĩa cuộc đời. Với niềm tin rằng triết học nên liên hệ với cuộc sống thường nhật của ta và nói về những mối quan tâm sâu sắc nhất của ta, Kierkegaard luận bàn về một diễn trình nhờ đó con người có thể đạt được sự thỏa mãn sâu sắc và trở thành những con người đích thực. Để hiểu diễn trình này ông thường luận bàn về các cấp độ trong đời người [1].

Cấp độ đầu tiên trên đường đời là cấp độ hiếu mĩ (aesthetic stage). Mục đích chính của một người trong cấp độ này là thỏa mãn những dục vọng của y. Những dục vọng này có thể hướng đến nhiều thứ khác nhau. Kẻ theo chủ nghĩa hưởng lạc chạy theo những thú vui thân xác là một ví dụ tuyệt vời về cấp độ này trên đường đời.  Nhưng có một vấn đề nổi lên, thậm chí khi y có được những gì mình muốn. Xét về bản tính, con người không thỏa mãn với những thú vui đơn thuần, dù là từ ăn uống, rượu chè, tình dục, hay cho đến chương trình truyền hình thực tế (reality tv). Chúng ta cần một thứ  gì đó nhiều hơn. Vì lẽ đó, một người sống trong cấp độ này vào một thời điểm nào đó sẽ cảm thấy tuyệt vọng. Để đáp lại, y sẽ tìm kiếm nhiều thú vui hơn hay những thú vui khác trong cuộc truy tìm sự thỏa mãn của mình, hay y có thể tiến lên cấp độ kế tiếp trên đường đời. Nếu y thực hiện việc ấy, y có thể dần tiến đến thực hiện sự tự do của mình hơn là đắm chìm trong những dục vọng của mình. Continue reading

Michael Austin – Các tiêu chuẩn của tư duy phê phán

 

Michael Austin

Các tiêu chuẩn của tư duy phê phán

Tư duy phê phán (critical thinking) là gì? Theo cuốn sách ưa thích của tôi về tư duy phê phán thì nó là tư duy có kỉ luật bị chi phối bởi các chuẩn mực trí thức rõ ràng (clear intellectual standards). Điều này liên quan đến việc nhận diện và phân tích các luận chứng (argument) và các khẳng định về chân lí, phát hiện và vượt qua những thành kiến (prejudice) và những bias (thiên hướng) (1), phát triển cho riêng bạn các lí lẽ và các luận chứng ủng hộ cho những gì bạn tin tưởng, xem xét các lí lẽ đối nghịch với những niềm tin của bạn, và thực hiện sự lựa chọn thuần lí về những gì phải làm dựa trên các niềm tin của bạn.

Sự rõ ràng (clarity) là một tiêu chuẩn quan trọng của tư duy phê phán. Sự rõ ràng về truyền thông là một phương diện của tiêu chuẩn này. Chúng ta phải rõ ràng trong cách chúng ta truyền đạt những tư tưởng, niềm tin và những lí lẽ của ta ủng hộ cho các niềm tin ấy. Sự chú ý cẩn trọng đối với ngôn ngữ là thiết yếu ở đây. Chẳng hạn, khi ta nói về luân lí, một người nào đó có thể nghĩ về nền luân lí truyền thống của một cộng đồng cụ thể, trong khi đó một người khác lại có thể nghĩ về các chuẩn mực liên-văn hóa (transcultural) nào đó của luân lí. Việc định nghĩa các thuật ngữ của ta có thể trợ giúp lớn lao cho ta trong việc tìm kiếm sự rõ ràng. Sự rõ ràng về tư tưởng cũng quan trọng không kém; điều này có nghĩa là ta phải hiểu một cách rõ ràng những gì ta tin tưởng, và tại sao ta tin tưởng nó.

Sự cân nhắc (precision) liên quan đến sự cẩn trọng trong việc suy xét vấn đề một cách nào đó. Một cách để thực hiện điều này là hỏi những câu hỏi sau: Đâu là vấn đề trong chủ đề đang bàn luận? Đâu là những câu trả lời khả dĩ? Đâu là những điểm mạnh và điểm yếu của mỗi cách trả lời?

Sự chính xác (accuracy) thì thiết cốt một cách bất khả nghi đối với tư duy phê phán. Để đạt đến hay tiệm cận với chân lí [sự thật] (truth), các nhà tư tưởng phê phán tìm kiếm những thông tin chính xác và thỏa đáng. Họ muốn các sự kiện, bởi vì họ cần thông tin chính xác trước khi có thể đi đến và phân tích nó.

Sự xác đáng (relevance) có nghĩa là thông tin và các ý tưởng được bàn luận phải liên kết về mặt logic với vấn đề đang được bàn luận. Nhiều chuyên gia và chính trị gia rất giỏi làm ta xao nhãng điều này.

Sự nhất quán (consistency) là một phương diện cốt yếu của tư duy phê phán. Những niềm tin của ta phải nhất quán. Chúng ta không nên giữ các niềm tin mâu thuẫn. Nếu ta nhận thấy ta thực sự có hai niềm tin mâu thẫn, thì một hoặc cả hai niềm tin đó đều sai lầm. Chẳng hạn, tôi sẽ tự mâu thuẫn với chính mình khi tôi vừa tin rằng “Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc luôn là trái luân lí”, vừa tin rằng “luân lí thì hoàn toàn tương đối”. Có một hình thức không nhất quán khác, gọi là sự bất nhất về mặt thực hành (practical inconsistency), nó liên quan đến việc bạn tin một đằng, nhưng lại làm một nẻo. Chẳng hạn, nếu tôi nói rằng tôi tin gia đình của tôi thì quan trọng hơn công việc của tôi, nhưng tôi lại có xu hướng hi sinh những lợi ích của họ để theo đuổi công việc của mình, khi đó tôi đang bất nhất về mặt thực hành.

Ba tiêu chuẩn sau cùng là sự đúng logic (logical correctness), sự đầy đủ ( completeness), và sự công bằng (fairness). Sự đúng logic có nghĩa là chúng ta tiến hành lập luận đúng đắn từ những gì ta tin tưởng trong một trường hợp cụ thể đến các kết luận suy ra từ những niềm tin đó. Sự đầy đủ có nghĩa là chúng ta thực hiện sự suy nghĩ và đánh giá sâu sắc và thấu đáo, tránh tư tưởng và phê phán nông cạn và hời hợt. Sự công bằng liên quan đến nỗ lực trở nên phóng khoáng, vô tư, và thoát khỏi các bias (thiên hướng) và các tiên kiến (preconception) xuyên tạc suy nghĩ của ta.

Giống như bất cứ một kĩ năng hay một nhóm kĩ năng nào, việc cải thiện tư duy phê phán cũng đòi hỏi sự thực hành. Bất cứ ai muốn phát triển trong lĩnh vực này có thể suy xét các tiêu chuẩn này và áp dụng chúng vào một bài xã luận trên tạp chí hay trên web, vào một bài đăng trên blog, hay ngay cả những niềm tin của chính họ. Việc làm như vậy có thể là một sự luyện tập hữu ích và thường là quan trọng.

Chú thích:

(1) Bias là một thiên hướng. Hầu hết các bias – như sự ưa thích ăn thức ăn thay vì những chiếc kẹp giấy, hay cho rằng ai đó đang bốc cháy nên được dập lửa – là hữu ích. Nhưng các trực giác (cognitive shortcuts) có thể gây ra những vấn đề khi ta không ý thức chúng và áp dụng chúng một cách không thích hợp, dẫn đến những quyết định vội vàng hay những thực hành bất công ( dựa trên, chẳng hạn, sự phân biệt chủng tộc và phân biệt giới tính). Việc dựa vào các bias một cách có kiểm soát đòi hỏi một sự cân bằng tinh tế của sự tự-ý thức (self-awareness).

Hoàng Phúc chuyển ngữ

 Nguồn: 

 Austin, Michael. “Standards of Critical Thinking.” Psychology Today, 2012.

http://www.psychologytoday.com/blog/ethics-everyone/201206/standards-critical-thinking

Ingrid Wickelgren – Cố gắng để quên

Ingrid Wickelgren

Cố gắng để quên

Duy Đoàn chuyển ngữ

Khả năng buông cho suy nghĩ và trí nhớ trôi đi hậu thuẫn cho một trạng thái tinh thần minh mẫn, cho một trí năng sắc bén – và thậm chí giúp cho bộ nhớ tốt hơn

Solomon Shereshevsky có thể thuật lại nguyên bài nói chuyện, từng từ một, sau khi nghe chỉ một lần. Trong mấy phút, anh ta ghi nhớ những công thức toán phức tạp, những đoạn văn bằng tiếng nước ngoài và mấy bảng biểu chứa 50 con số hoặc các âm tiết vô nghĩa. Dấu hiệu của những chuỗi này được in hằn lâu dài trong bộ não của anh ta đến mức anh ấy có thể tái tạo lại chúng sau nhiều năm, theo nhà tâm lí học người Nga Alexander R. Luria, người đã viết về người đàn ông mà ông gọi đơn giản là “S” trong cuốn The Mind of a Mnemonist.

Nhưng sức nặng của toàn bộ kí ức, chất chồng lên nhau trong bộ não, đã tạo ra sự lẫn lộn gây thương tật. S khong thể hiểu được ý nghĩa câu chuyện, bởi vì các từ ngữ cứ chen vào làm cản trở. “Không,” [S] sẽ nói. “Điều này là quá nhiều. Mỗi từ gọi ra những hình ảnh, chúng xung đột lẫn nhau, và kết quả là sự hỗn loạn. Tôi không thế làm gì bởi vì vậy.” Khi người ta yêu cầu S đưa ra quyết định, với vai trò chủ trì của một nhóm liên hiệp, thì anh ta không thể phân tích tình huống theo tổng thể, mắc sai sót khi anh ta cứ đi theo những chi tiết không liên quan. Anh ta kiếm sống bằng việc trình diễn những kì tích của trí nhớ.  Continue reading