Michael Austin – Đạt đến sự hạnh phúc: Lời khuyên từ Kierkegaard

 

Michael Austin

Đạt đến sự hạnh phúc: Lời khuyên từ Kierkegaard

Các cấp độ trên đường đời

Triết gia Đan-mạch Sören Kierkegaard (1813-1855) tin rằng triết học nên tập trung vào những câu hỏi sâu sắc về Thượng đế,  nhân tính, đạo đức và ý nghĩa cuộc đời. Với niềm tin rằng triết học nên liên hệ với cuộc sống thường nhật của ta và nói về những mối quan tâm sâu sắc nhất của ta, Kierkegaard luận bàn về một diễn trình nhờ đó con người có thể đạt được sự thỏa mãn sâu sắc và trở thành những con người đích thực. Để hiểu diễn trình này ông thường luận bàn về các cấp độ trong đời người [1].

Cấp độ đầu tiên trên đường đời là cấp độ hiếu mĩ (aesthetic stage). Mục đích chính của một người trong cấp độ này là thỏa mãn những dục vọng của y. Những dục vọng này có thể hướng đến nhiều thứ khác nhau. Kẻ theo chủ nghĩa hưởng lạc chạy theo những thú vui thân xác là một ví dụ tuyệt vời về cấp độ này trên đường đời.  Nhưng có một vấn đề nổi lên, thậm chí khi y có được những gì mình muốn. Xét về bản tính, con người không thỏa mãn với những thú vui đơn thuần, dù là từ ăn uống, rượu chè, tình dục, hay cho đến chương trình truyền hình thực tế (reality tv). Chúng ta cần một thứ  gì đó nhiều hơn. Vì lẽ đó, một người sống trong cấp độ này vào một thời điểm nào đó sẽ cảm thấy tuyệt vọng. Để đáp lại, y sẽ tìm kiếm nhiều thú vui hơn hay những thú vui khác trong cuộc truy tìm sự thỏa mãn của mình, hay y có thể tiến lên cấp độ kế tiếp trên đường đời. Nếu y thực hiện việc ấy, y có thể dần tiến đến thực hiện sự tự do của mình hơn là đắm chìm trong những dục vọng của mình. Continue reading

Advertisements

Michael Austin – Các tiêu chuẩn của tư duy phê phán

 

Michael Austin

Các tiêu chuẩn của tư duy phê phán

Tư duy phê phán (critical thinking) là gì? Theo cuốn sách ưa thích của tôi về tư duy phê phán thì nó là tư duy có kỉ luật bị chi phối bởi các chuẩn mực trí thức rõ ràng (clear intellectual standards). Điều này liên quan đến việc nhận diện và phân tích các luận chứng (argument) và các khẳng định về chân lí, phát hiện và vượt qua những thành kiến (prejudice) và những bias (thiên hướng) (1), phát triển cho riêng bạn các lí lẽ và các luận chứng ủng hộ cho những gì bạn tin tưởng, xem xét các lí lẽ đối nghịch với những niềm tin của bạn, và thực hiện sự lựa chọn thuần lí về những gì phải làm dựa trên các niềm tin của bạn.

Sự rõ ràng (clarity) là một tiêu chuẩn quan trọng của tư duy phê phán. Sự rõ ràng về truyền thông là một phương diện của tiêu chuẩn này. Chúng ta phải rõ ràng trong cách chúng ta truyền đạt những tư tưởng, niềm tin và những lí lẽ của ta ủng hộ cho các niềm tin ấy. Sự chú ý cẩn trọng đối với ngôn ngữ là thiết yếu ở đây. Chẳng hạn, khi ta nói về luân lí, một người nào đó có thể nghĩ về nền luân lí truyền thống của một cộng đồng cụ thể, trong khi đó một người khác lại có thể nghĩ về các chuẩn mực liên-văn hóa (transcultural) nào đó của luân lí. Việc định nghĩa các thuật ngữ của ta có thể trợ giúp lớn lao cho ta trong việc tìm kiếm sự rõ ràng. Sự rõ ràng về tư tưởng cũng quan trọng không kém; điều này có nghĩa là ta phải hiểu một cách rõ ràng những gì ta tin tưởng, và tại sao ta tin tưởng nó.

Sự cân nhắc (precision) liên quan đến sự cẩn trọng trong việc suy xét vấn đề một cách nào đó. Một cách để thực hiện điều này là hỏi những câu hỏi sau: Đâu là vấn đề trong chủ đề đang bàn luận? Đâu là những câu trả lời khả dĩ? Đâu là những điểm mạnh và điểm yếu của mỗi cách trả lời?

Sự chính xác (accuracy) thì thiết cốt một cách bất khả nghi đối với tư duy phê phán. Để đạt đến hay tiệm cận với chân lí [sự thật] (truth), các nhà tư tưởng phê phán tìm kiếm những thông tin chính xác và thỏa đáng. Họ muốn các sự kiện, bởi vì họ cần thông tin chính xác trước khi có thể đi đến và phân tích nó.

Sự xác đáng (relevance) có nghĩa là thông tin và các ý tưởng được bàn luận phải liên kết về mặt logic với vấn đề đang được bàn luận. Nhiều chuyên gia và chính trị gia rất giỏi làm ta xao nhãng điều này.

Sự nhất quán (consistency) là một phương diện cốt yếu của tư duy phê phán. Những niềm tin của ta phải nhất quán. Chúng ta không nên giữ các niềm tin mâu thuẫn. Nếu ta nhận thấy ta thực sự có hai niềm tin mâu thẫn, thì một hoặc cả hai niềm tin đó đều sai lầm. Chẳng hạn, tôi sẽ tự mâu thuẫn với chính mình khi tôi vừa tin rằng “Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc luôn là trái luân lí”, vừa tin rằng “luân lí thì hoàn toàn tương đối”. Có một hình thức không nhất quán khác, gọi là sự bất nhất về mặt thực hành (practical inconsistency), nó liên quan đến việc bạn tin một đằng, nhưng lại làm một nẻo. Chẳng hạn, nếu tôi nói rằng tôi tin gia đình của tôi thì quan trọng hơn công việc của tôi, nhưng tôi lại có xu hướng hi sinh những lợi ích của họ để theo đuổi công việc của mình, khi đó tôi đang bất nhất về mặt thực hành.

Ba tiêu chuẩn sau cùng là sự đúng logic (logical correctness), sự đầy đủ ( completeness), và sự công bằng (fairness). Sự đúng logic có nghĩa là chúng ta tiến hành lập luận đúng đắn từ những gì ta tin tưởng trong một trường hợp cụ thể đến các kết luận suy ra từ những niềm tin đó. Sự đầy đủ có nghĩa là chúng ta thực hiện sự suy nghĩ và đánh giá sâu sắc và thấu đáo, tránh tư tưởng và phê phán nông cạn và hời hợt. Sự công bằng liên quan đến nỗ lực trở nên phóng khoáng, vô tư, và thoát khỏi các bias (thiên hướng) và các tiên kiến (preconception) xuyên tạc suy nghĩ của ta.

Giống như bất cứ một kĩ năng hay một nhóm kĩ năng nào, việc cải thiện tư duy phê phán cũng đòi hỏi sự thực hành. Bất cứ ai muốn phát triển trong lĩnh vực này có thể suy xét các tiêu chuẩn này và áp dụng chúng vào một bài xã luận trên tạp chí hay trên web, vào một bài đăng trên blog, hay ngay cả những niềm tin của chính họ. Việc làm như vậy có thể là một sự luyện tập hữu ích và thường là quan trọng.

Chú thích:

(1) Bias là một thiên hướng. Hầu hết các bias – như sự ưa thích ăn thức ăn thay vì những chiếc kẹp giấy, hay cho rằng ai đó đang bốc cháy nên được dập lửa – là hữu ích. Nhưng các trực giác (cognitive shortcuts) có thể gây ra những vấn đề khi ta không ý thức chúng và áp dụng chúng một cách không thích hợp, dẫn đến những quyết định vội vàng hay những thực hành bất công ( dựa trên, chẳng hạn, sự phân biệt chủng tộc và phân biệt giới tính). Việc dựa vào các bias một cách có kiểm soát đòi hỏi một sự cân bằng tinh tế của sự tự-ý thức (self-awareness).

Hoàng Phúc chuyển ngữ

 Nguồn: 

 Austin, Michael. “Standards of Critical Thinking.” Psychology Today, 2012.

http://www.psychologytoday.com/blog/ethics-everyone/201206/standards-critical-thinking