10 điều mà các giảng viên tâm lý học muốn bạn biết

image

Hằng năm, là một giảng viên tâm lý học, tôi giúp hàng trăm bạn trẻ vượt qua một chương trình học khắt khe và chuẩn bị cho tương lai của họ. Theo một ý nghĩa, tương lai đó sẽ bao gồm sự huấn luyện đại học tiên tiến hoặc một nghề nghiệp có liên quan đến khoa học hành vi – hoặc cả hai. Nhưng chúng không phải là mục tiêu duy nhất chúng tôi muốn các sinh viên của chúng tôi đạt được trong 4 năm học của họ dưới sự dẫn dắt của chúng tôi. Dưới đây là mười sản phẩm của một nền giáo dục tâm lý học mà các giảng viên tâm lý học cố gắng trau dồi ở các sinh viên của họ trong nhiều năm.

10. Hiểu rõ sự rộng lớn của nội dung các lĩnh vực trong tâm lý học. Tâm lý học rất rộng lớn! Nó bao gồm bất kỳ lĩnh vực nghiên cứu nào có liên quan đến những quá trình tâm lý hoặc hành vi – ở các loài! Những chủ đề được các nhà tâm lý nghiên cứu gồm nhiều loại khác nhau – ví dụ, trẻ sơ sinh nhận diện các khuôn mặt như thế nào, chó học cách tránh né những hậu quả đáng ghét ra sao, làm sao những tình huống tưởng chừng nhỏ bé lại có thể gây ra những hậu quả to lớn về hành vi ở người trưởng thành, con người ghi nhớ các danh sách như thế nào, và còn nhiều nữa. Khi một ai đó nói anh ấy đang học “tâm lý học” thì bạn cần hỏi “Học lĩnh vực gì? Chủ đề gì?”

9. Hiểu rõ giá trị của sự rộng lớn của các lĩnh vực ứng dụng trong tâm lý học. Các sinh viên năm nhất học tâm lý học thường nghĩ rằng tất cả các nhà tâm lý đều là những nhà tâm lý học ứng dụng (rằng tất cả các nhà tâm lý có nhiệm vụ giúp đỡ ai đó xử lý vấn đề) và tất cả các nhà tâm lý học ứng dụng đều là những nhà trị liệu. Không đúng! Các nhà tâm lý học ứng dụng có nhiều kiểu khác nhau. Một số nhà tâm lý học ứng dụng là các nhà trị liệu (như nhà tâm lý học lâm sàng, tham vấn sức khoẻ tinh thần, nhà tham vấn học đường) trong khi một số khác thì giúp các tổ chức tối ưu hoá các điều kiện làm việc (nhà tâm lý học công nghiệp/tổ chức) và những người khác làm việc trong ngành công nghiệp chăm sóc sức khoẻ để giúp đạt được những kết quả khoẻ mạnh có liên quan đến những cái chung của sức khoẻ thể chất và tinh thần (các nhà tâm lý học sức khoẻ) và nhiều nữa! Khi ai đó nói rằng anh ấy muốn “làm việc trong lĩnh vực tâm lý học”, thì anh ta cần nhận ra có rất nhiều con đường nghề nghiệp khác nhau! Continue reading

Susan K Perry – 10 lầm tưởng về tình yêu

null

Tôi thích rất nhiều thứ: Màu xanh nước biển, những trái dâu và tình yêu. Nhưng tình yêu nam nữ, chính xác là gì?

Tùy thuộc vào người bạn hỏi.

Phần lớn chúng ta khá chắc chắn chúng ta biết thế nào là yêu khi ta cảm nhận thấy nó. Nhưng những xúc cảm, một trạng thái tinh thần, thì phức tạp và đa dạng hơn để bất cứ ai trong chúng ta, kể cả một chuyên gia, có thể miêu tả đầy đủ. Cái bạn trải qua tùy thuộc vào bộ phận nào của con voi bạn chạm vào.

Rất nhiều nhà tâm lý học, nhà triết học, thậm chí cả một nhà toán học đã viết các cuốn sách cho ta cái nhìn mới mẻ về tình yêu. Từ ba ấn bản này, tôi đã thu thập lại mười lầm tưởng phổ biến nhất, và những lý do của tác giả tại sao chúng lại không như ta vẫn nghĩ.

TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC, HAY LÀ NHỮNG GIẢ ĐỊNH SAI LẦM?

1. Tình yêu là một cảm xúc vô lý, bạn hoặc là “yêu” hoặc là “không yêu”

Điều đó là không đúng, theo nhà triết học Berit Brogaard, tác giả của cuốn Bàn về tình yêu: Những sự thật đơn giản về một cảm xúc phức tạp (On Romantic Love: Simple Truths about a Complex Emotion). Thực tế, tình yêu tuân theo cấp độ. Bạn có thể yêu một chút, yêu rất nhiều hoặc không yêu chút nào. Thỉnh thoảng những cảm giác của bạn khá lý trí; những lúc khác nó lại là vô lý.

2. Bạn không thể làm mình ngừng yêu hoặc chưa từng yêu

Nhưng bạn có thể. Bạn có thể dùng các chiến thuật để giúp bản thân thoát khỏi tình yêu mà bạn nghĩ là sai trái với bạn, theo lời Brogaard, tác giả của một cuốn sách là tập hợp thú vị các quan điểm mạnh mẽ, những câu chuyện có thật đầy chi tiết và tính đáng tin cậy về mặt học thuật.

3. Rơi vào tình yêu là một trạng thái sinh lí độc nhất

Không hẳn, Brogaard viết. Nó giống nhiều hơn với những gì xảy ra khi bạn phản ứng lại những nguy hiểm cảm thấy với sự tăng cao của cortisol và các hormones khác được chuẩn bị cho bạn để cao chạy xa bay hay chiến đấu. Do sự bí ẩn và hấp dẫn giới tính của đối tác tiềm năng mới, hạch hạnh nhân (amygdata) của bạn được hoạt hóa mạnh. Các chất dẫn truyền thần kinh báo hiệu cho tuyến thượng thận điều gì đó phấn khích, sợ hãi hay bí ẩn đang xảy ra. Như vậy, tình yêu có thể cảm nhận và hành động trong não bộ của bạn giống với cocaine. Continue reading

Alex Lickerman – Nhìn lại nguyên nhân thực sự của độc ác

null

Nguyên nhân thực sự đằng sau việc con người đối xử tàn ác với nhau.
Xuất bản ngày 23/06/2013 của tác giả Alex Lickerman, M.D. trong Hạnh phúc trong thế giới này (Happiness in this World)

Hồi học lớp bảy, có một lần, khi đang ở trong phòng thay đồ trước giờ thể dục, tôi bắt gặp một nhóm bạn cùng lớp đang bắt nạt một cậu bạn tên Pino chỉ vì cậu ta có ngực (hội chứng có tên gynecomastia – đôi khi xuất hiện ở các cậu bé vào tuổi dậy thì, thông thường sẽ tự biến mất). Tôi đã không dám đứng ra bảo vệ cậu ấy, bởi tôi sợ rằng chúng sẽ chĩa mũi dùi sang mình, nhưng tôi vẫn nhớ cái cảm giác tội lỗi với Pino và luôn tự hỏi tại sao con người ta có thể đối xử tàn ác với người khác dễ dàng đến thế.

Một điều thường thấy là trẻ con có thể hành xử tệ hại với đứa này đứa kia trong những giai đoạn phát triển nhất định của chúng, có thể nhẫn tâm bắt nạt những đứa bé khác nhưng bằng cách nào đó mà khi trưởng thành đứa trẻ đó vẫn có thể trở thành một người biết cư xử, biết bỏ lại sau lưng quá khứ xấu xa của bản thân khi còn ở thủa thiếu thời (đương nhiên, đáng tiếc là không phải đứa trẻ nào cũng làm được điều đó, nhiều đứa đã không thể cứ như vậy mà bỏ lại mọi thứ sau lưng được, thường là do xung động tuổi trẻ, tính độc ác hay do chúng bị người lớn bỏ bê, thiếu quan tâm). Phần lớn chúng ta đều cho rằng trẻ nhỏ mà có hành vi tàn ác là không thể chấp nhận được vì khi đã trưởng thành, chúng ta thường có xu hướng trấn áp, chấm dứt hành vi đó ngay khi ta nhận biết được về chúng. Và ngay cả khi ta đã biết được nguồn cơn của những hành vi độc ác ấy, chúng ta vẫn cứ cố áp đặt rằng bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể trở thành nạn nhân của hành vi đó, và hơn thế nữa, cho rằng về cơ bản thì giết người hay chiến tranh đều gây ra phản ứng tương tự nhau. Continue reading

Loretta Graziano Breuning – Dừng so sánh bản thân với những người khác, và thế giới của bạn được cải thiện ngay

null

Chúng ta gây đau đớn cho bản thân khi chúng ta so sánh mình với những người khác, vậy tại sao chúng ta vẫn tiếp tục làm việc đó? Vì các loài động vật so sánh bản thân chúng với những con vật khác, và chúng ta được thừa hưởng bộ não tạo ra sự thôi thúc (so sánh) này.

Các loài động vật luôn luôn nhìn nhau, kiểm tra nhau. Sự sinh tồn của chúng phụ thuộc vào điều đó, và những hoá chất não bộ của chúng phản ứng với những cảm giác sinh tử. Chúng ta cũng có những hoá chất não bộ tương tự, và chúng đem đến cho bạn cảm giác rằng cuộc sống của bạn đang bị đe doạ khi bạn nhìn thấy một ai đó có những cặp sừng to hơn. Khi cặp sừng của bạn sắc, bạn có được cảm giác an toàn. Chọn lọc tự nhiên tạo nên một bộ não ban thưởng cho bạn một cảm giác tốt khi bạn nhìn thấy một cách để tăng sự tồn tại của bạn, và cảnh báo bạn bằng một cảm giác tiêu cực khi bạn nhìn thấy bất kỳ mối đe doạ nào đến sự tồn tại của gen của bạn.

Bạn có lẽ từng nghe nói rằng các con vật hợp tác, và cuộc sống đó là ấm áp trong điều kiện tự nhiên. Bạn nên biết phần còn lại của câu chuyện vì serotonin của bạn phụ thuộc vào nó. Bộ não động vật có vú phóng thích serotonin khi nó nhìn thấy nó vượt trội hơn con vật khác. Cảm giác tốt đẹp thúc đẩy một con vật có vú làm những việc để kích thích serotonin. Serotonin không phải là một cảm giác xung hấn mà là một cảm giác êm dịu rằng những nhu cầu của bạn sẽ được đáp ứng. Tôi đang nói rằng bạn phải quản lý được những cảm giác chiếm ưu thế của bạn thay vì đổ lỗi cho thế giới vì chúng. Continue reading

Jim Stone – 7 nguyên lý của “thiếu kiên nhẫn”

null
Nghe quen thuộc?

Đã bao giờ bạn muốn từ bỏ một bài báo mà bạn đang viết? Hay bỏ học luôn? Bạn đã bao giờ có một dự án rất hào hứng lúc đầu rồi trở nên chán nản khi những rối rắm không lường trước xuất hiện? Bạn đã bao giờ phải ngồi suốt buổi diễn kịch hay chiếu phim của trường mà bạn đã không còn hứng thú ngay từ cảnh đầu tiên? Bạn đã bao giờ phải chờ đợi quá lâu để xếp hàng, hay để khởi động máy tính, hay cảm thấy quá lâu mà Giáng sinh chưa đến?

Ai mà lại không có lúc trong tình cảnh như vậy, phải không? Chúng ta đều từng thiếu kiên nhẫn ở một thời điểm nào đó.

Và chúng ta đều đưa ra những quyết định vội vàng trước sự thiếu kiên nhẫn của chúng ta. Chúng ta bỏ một hàng mà chúng ta đang xếp để rồi chỉ phải xếp vào một hàng còn dài hơn. Chúng ta lấy pizza ra khỏi lò sớm hơn 2 phút bởi vì chúng ta không thể chờ. Hay chúng ta làm tồi tệ đi một mối quan hệ tốt đẹp bởi vì chúng ta không chắc rằng chuyện sẽ tới đâu, và chúng ta không thể chịu đựng sự không chắc chắn.

Chúng ta nhiều khi cũng trở nên kiên nhẫn quá mức, và bị kẹt trong những dự án, công việc, hay những mối quan hệ sau khi chúng ta thấy có chút lý do để kiên nhẫn.

Cái nào khiến chúng ta phải trả giá nhiều hơn trong cuộc sống? Lòng kiên nhẫn? Hay sư thiếu kiên nhẫn? Những người khác nhau sẽ có những câu trả lời khác nhau. Lý tưởng mà nói, chúng ta sẽ có câu trả lời đúng trong từng trường hợp. Chúng ta sẽ để cho sự thiếu kiên nhẫn lấn át khi việc thay đổi là cần thiết, và chúng ta kiên nhẫn giữ nguyên tình trạng khi “nguyên trạng” là quan trọng. Thật không may, chúng ta không thể nào đúng trong mọi tình huống.

Nhưng cái cốt lõi là, nếu chúng ta hiểu hơn về sự thiếu kiên nhẫn, việc đó sẽ cho chúng ta sức mạnh nhiều hơn để có thể đúng trong nhiều trường hợp. Và vì vậy tôi sẽ trình bày sau đây 7 nguyên lý của sự thiếu kiên nhẫn. Continue reading

Suy nghĩ cấm đoán (Forbidden thinking)

Tại sao tất cả chúng ta đều có những ý nghĩ đen tối đó, và tại sao một số người dính chặt vào những ý nghĩ đó.

null

Tất cả chúng ta đều có những thôi thúc đen tối (động lực ngầm). Không ai trong chúng ta muốn chúng. Nhưng, những nỗ lực để kìm nén chúng lại có thể gây hại. Xin cảnh báo trước: lực lượng lao động trong hệ thống giá trị của nền văn hoá chúng ta có thể làm chúng ta dễ bị tổn thương hơn trước những ý nghĩ cấm đoán–và ít khả năng để đương đầu với chúng.

Bạn đã từng có ý nghĩ lừa dối bạn đời của bạn chưa? Còn ý nghĩ tát vào mặt một đồng nghiệp đáng ghét thì sao? Hoặc đâm vào một số tên ngốc trên đường cao tốc? Bạn đã từng có những ý nghĩ về điều cấm kỵ hoặc tình dục hoang dại chưa? Hoặc ly dị? Hoặc bỏ nhà? Còn ý nghĩ hãm hại một ai đó thân thiết thì sao? Hoặc thậm chí hãm hại bản thân bạn? Cũng có những thứ lành hơn: ví dụ, Bạn có tưởng tượng về thức ăn khi bạn đang ăn kiêng? Có ai chưa từng hả hê trước sự bất hạnh của người khác hoặc thèm muốn ngôi nhà, chiếc xe hơi hoặc lối sống hào nhoáng của một người hàng xóm khi chúng ta muốn tưởng tượng bản thân có cuộc sống như thế?

Vài người trong chúng ta sẽ bác bỏ quan điểm cho rằng con người dành nhiều thời gian để nghĩ về những ý nghĩ mà tốt hơn không nên nghĩ tới.

Đa số chúng ta sẽ không bao giờ thực hiện những thôi thúc bị cấm đoán của chúng ta. Nhưng sự thật là chúng ta có thể nghĩ về những ý nghĩ đó cũng có thể làm chúng ta quá lo lắng đến nỗi chúng ta tốn nhiều nỗ lực kìm nén và giữ chúng bí mật. “Tôi không thể kể với chồng tôi”, Beth nhớ lại, một người mẹ dịu dàng của ba đứa con, sau khi trải qua những suy nghĩ điên rồ về việc làm hại các con của cô. “Tôi dành nhiều thời gian tự hỏi bản thân, ‘Điều này có ý nghĩa gì? Tôi đang bị bệnh?”

Chừng nào loài người còn tán dương những sức mạnh sáng tạo của tâm trí, thì chúng ta bị buộc phải đối mặt với phần đen tối, xấu xa của trí tưởng tượng: những ý nghĩ quá xấu hổ, quá đáng sợ, quá trái ngược với tục lệ xã hội và những nguyên tắc của riêng chúng ta mà chúng ta giật mình vì ghê tởm hoặc sợ hãi. Năm 1852, gần ba thập kỷ trước sự trở lại của tâm lý học hiện đại, tác giả Herman Melville cung cấp một trong những quan sát sâu sắc về cuộc sống của tâm trí. “Một người rùng mình suy nghĩ,” ông viết, “điều bí ẩn trong tâm hồn,…mặc cho cái tôi vô tội của cá nhân đó, sẽ vẫn mơ về những giấc mơ kinh khủng, và thì thầm những ý nghĩ không nên nói đến.”

Trong quá khứ, chúng ta đổ lỗi cho Cái ác vì những thôi thúc xấu xa đó, hoặc đổ lỗi cho nhân cách đạo đức yếu kém của chính mình. Chúng ta không xem những suy nghĩ tương đương với hành vi, và quở trách bản thân-hoặc bị người khác quở trách-để mỗi lần đều chà đạp lên những thứ tạp nham không thích đáng. (Không phải ngẫu nhiên mà, năm trong số bảy tội lỗi chết người – tức giận, hám lợi, ghen tỵ, tham lam, và dục vọng–chỉ cụ thể về những trạng thái của tâm trí.) Continue reading

Guy Winch – 10 sự thật bất ngờ về sự cô đơn

null
Những tổn thương cô đơn gây ra cho sức khỏe và hạnh phúc của bạn.

Ước tính hơn 40% dân số sẽ chịu nỗi đau thống khổ của sự cô đơn trong suốt cuộc đời của họ. Song, cho dù cô đơn có phổ biến như thế nào thì chỉ có một số người là nhận thức được đầy đủ những ảnh hưởng mạnh mẽ mà nó tác động lên chúng ta. Sau đây là 10 sự thật bất ngờ về cô đơn sẽ khiến bạn thay đổi cách nhìn về tình trạng tâm lý vừa rất phổ biến nhưng đồng thời cũng gây thiệt hại đáng kể

1. Cô đơn không phụ thuộc vào số lượng bạn bè hay mối quan hệ mà bạn có. Cô đơn phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng chủ quan của những mối quan hệ – liệu rằng bạn có cảm thấy cô lập với những người xung quanh về mặt tình cảm lẫn giao tiếp xã hội. Đó là lý do tại sao:

2. Hơn 60% số người cô đơn là những người đã kết hôn. Khi mà những cặp vợ chồng không còn chia sẻ những tình cảm thầm kín nhất, những suy nghĩ, và những trải nghiệm của họ với người còn lại có thể để lại trong họ cảm giác bị cô lập và đơn độc. Những người trong tình trạng này thật sự tin rằng người bạn đời không còn có thể cho họ sự đồng điệu mà họ muốn. Trong khi nỗi lo sợ của họ có thể đúng, chúng cũng có thể bắt nguồn từ thực tế đó là:

3. Sự cô đơn bóp méo nhận thức của chúng ta về những mối quan hệ. Nhiều nghiên cứu cho thấy chỉ yêu cầu mọi người nhớ lại những lần mà họ cảm thấy cô đơn là đủ để khiến họ làm giảm giá trị những mối quan hệ của chính mình. Những nhận thức sai lệch này thường khiến những người cô đơn thậm chí càng rời xa những người có thể làm giảm bớt sự cô đơn của chính họ. Làm cho vấn đề càng xấu đi, bạn bè của họ có thể sẽ do dự khi tiếp xúc cũng bởi vì:

4. Sự cô đơn có tính lây lan trong cộng đồng xã hội. Cô đơn có một sự phân biệt rõ ràng. Chúng ta có xu hướng phát hiện và xác định những người cô đơn xung quanh chúng ta. Một nghiên cứu cho thấy trong khoảng thời gian hơn sáu tháng, những người cô đơn bị đẩy ra rìa xã hội và đáng ngạc nhiên là bạn bè của họ cũng vậy. Bị đẩy vào “bên trong khoảng lạnh” bằng cách này để lại một sự thật ngạc nhiên trên cơ thể của chúng ta:

5. Cô đơn thật sự có thể khiến chúng ta cảm thấy lạnh hơn. Những nghiên cứu cho thấy nhớ lại khoảng thời gian mà chúng ta cảm thấy cô đơn đã làm cho những người tham gia thực nghiệm đánh giá nhiệt độ trong phòng lạnh hơn đáng kể. Nó thậm chí còn làm cho nhiệt độ thực tế của da họ giảm xuống. Quan niệm về cảm giác “bị đẩy vào bên trong khoảng lạnh” chịu sự ảnh hưởng từ quá trình tiến hóa trong quá khứ của chúng ta trong đó việc bị li khai khỏi bộ lạc của mình cũng đồng nghĩa với việc bị tách khỏi nguồn sưởi ấm và nhóm cộng đồng xung quanh đó. Trên thực tế, cơ thể của chúng ta phản ứng lại với sự cô đơn bằng những cách bi đát nhất:

6. Cô đơn khiến cơ thể của chúng ta cảm thấy như là đang bị tấn công. Cô đơn gây ra sự phản ứng cơ thể tức thời và nghiêm trọng. Nó làm gia tăng huyết áp và cholesterol, và nó kích thích những phản ứng căng thẳng về thể chất lẫn tinh thần của chúng ta. Đó là tại sao:

7. Cô đơn mãn tính làm cho nguy cơ về bệnh tim mạch ở chúng ta gia tăng đáng kể. Qua thời gian, những người cô đơn mãn tính có tỉ lệ về bệnh tim mạch cao hơn bởi vì cơ thể của họ chịu sự căng thẳng liên tục không ngừng. Nhưng đó không phải là tác hại duy nhất mà cô đơn gây ra cho cơ thể của chúng ta:

8. Cô đơn ngăn chặn hoạt động của hệ thống miễn dịch của chúng ta.Cô đơn làm cho hệ thống miễn dịch hoạt động ít hiệu quả hơn, mà qua thời gian, làm chúng ta gia tăng nguy cơ phát triển đủ thứ loại bệnh tật và đau ốm. Kể cả khi cô đơn trong thời gian ngắn cũng ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch của chúng ta, đó là lý do tại sao:

9. Những sinh viên năm nhất những người mà cảm thấy cô đơn sẽ có những phản ứng xấu hơn đối với tác động của cảm cúm. Chỉ với một vài tuần cô đơn là đủ để ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch của những tân sinh viên năm nhất đến nỗi mà những người được nhận định là cảm thấy cô đơn chịu sự ảnh hưởng xấu đối với cảm cúm theo mùa hơn những sinh viên không cảm thấy cô đơn. Gộp chung lại, cô đơn tác động đến cơ thể chúng ta một cách nghiêm trọng:

10. Cô đơn cũng nguy hiểm như hút thuốc lá. Các nhà khoa học đã kết luận rằng bằng việc đưa ra tất cả những hình thức khốc liệt mà cô đơn tác động đến cơ thể chúng ta, điều này cho ta thấy một nguy cơ lớn đối với sức khỏe lâu dài và tuổi thọ cũng giống như hút thuốc lá. Thật vậy, các nghiên cứu kết luận rằng cô đơn kinh niên làm tăng nguy cơ chết sớm đến 14%

Rõ ràng là cô đơn đại diện cho tổn thương vật lý to lớn và quan trọng và là một vấn đề mà chúng ta không nên làm lơ. Vì thế, hảy đảm bảo có đủ các bước khi bạn đang cô đơn và truyền bá đến những người cô đơn xung quanh các bạn về nguy hiểm khi vẫn tiếp tục cô dơn.

Rekita dịch
Nguồn

http://www.psychologytoday.com/blog/the-squeaky-wheel/201410/ten-surprising-facts-about-loneliness

David DiSalvo – Sức mạnh quyến rũ của sự tự tin quá mức

null

Quá tự tin. Bản thân từ đó đã gây khó chịu. Biết được những người quá tự tin thường thành công còn làm bạn điên tiết hơn. Chúng ta thích tin rằng người quá tự tin, giống như sự kiêu căng, sẽ mắc sai sót vấp phải một thất bại có thể dự đoán được và nhường đường cho những người tự tin điềm đạm, có vẻ khiêm tốn, leo lên bậc thang cao hơn. Nhưng điều đó không phải lúc nào cũng đúng hoặc thường xảy ra.

Nghiên cứu tâm lý học thường hỏi tại sao lại thế, và đưa ra một vài câu trả lời khả thi. Một nghiên cứu từ năm 2012 kết luận rằng ngay cả khi sự quá tự tin tạo ra những kết quả dưới trung bình, dưới mức chuẩn, thì sức quyến rũ của nó vẫn chiến thắng trong thời nay. Chúng ta có thể kỳ vọng rằng một ai đó quá tự tin sẽ bị thất bại khi bị thúc ép. Nghiên cứu kiểm tra kỳ vọng đó và phát hiện thấy nó là đúng, không ít thì nhiều – nhưng cũng phát hiện thấy nó thực sự không quan trọng. Người quá tự tin có thể không toả sáng khi được kiểm tra một cách khách quan, nhưng họ có một sở trường là quyến rũ mọi người đến mức làm họ phớt lờ các kết quả.

Nếu bạn phải xác định được tại sao, thì dường như đó là một vấn đề của địa vị (xã hội)—một loại hàng hoá mà người quá tự tin là chuyên gia trong việc tạo ra và nuôi dưỡng nó. Khi được kiểm soát tốt, địa vị xã hội được ban cho bởi sự quá tự tin phát tiết ra ma lực, có khả năng làm chệch sự chú ý của chúng ta ra khỏi những kết quả có thể đo lường.

Đó là một kết luận thật trớ trêu, gây khó chịu khi bạn xem xét phản ứng của người bình thường trước “tên ngốc quá tự tin.” Làm sao chúng ta có thể vừa từ chối, vừa bị quyến rũ bởi người đó? Nghiên cứu khác chỉ ra làm thế nào mà sự thô lỗ có thể thành công nếu sự quá tự tin của người truyền tải làm biến đổi được địa vị.

Trong một thực nghiệm của nghiên cứu, những người tham gia xem một video về một người đàn ông ở một quán cafe vỉa hè gác chân lên chiếc ghế khác, để tàn thuốc lá rơi xuống đất và thô lỗ gọi món ăn. Những người tham gia đã đánh giá người đàn ông này có nhiều khả năng “đưa ra các quyết định” và có khả năng “khiến người khác lắng nghe những gì anh ta nói” hơn những người tham gia được xem một video về người đàn ông tương tự nhưng hành xử một cách lịch sự. Thông qua một vài thực nghiệm khác, các kết quả tương tự vẫn chiếm ưu thế – mọi người có xu hướng đánh giá những người phá luật là mạnh mẽ và kiểm soát hơn so với những người tuân theo luật lệ.

Và yếu tố quan trọng gì nằm trong niềm tin rằng bản thân một người là cao hơn những luật lệ? Sự quá tự tin, tất nhiên. (Điều này cũng có thể giải thích tại sao những người bán hàng thô lỗ bán được nhiều hơn ở những cửa hàng sang trọng. Theo nghiên cứu mới từ đại học University of British Columbia’s Sauder School of Business, Ở các cửa hàng sang trọng, xa xỉ, nhân viên bán hàng càng thô lỗ thì việc bán hàng càng thuận lợi.)

Những nghiên cứu đó xoay quanh câu hỏi tại sao chúng ta có xu hướng bị thu hút trước sự trơ tráo của người quá tự tin, nhưng ít đề cập đến chuyện tại sao người quá tự tin là quá giỏi trong việc tạo ra sự thu hút đó. Nghiên cứu gần đây nhất về chủ đề đó đã đem đến một câu trả lời, có thể không làm giảm bớt sự khó chịu của chúng ta về điều này, nhưng làm cho điều đó có thể hiểu được.

Nó có thể được tóm tắt như thế này: Niềm tin đánh lừa chúng ta, dù nó đúng hay không. Trong trường hợp của sự quá tự tin, niềm tin vào khả năng của một người – tuy không hợp với thực tế —tạo ra nguồn năng lượng có tính lây lan của nó. Sự tự lừa dối bản thân là một phương tiện hùng mạnh để thuyết phục thế giới nhìn sự việc theo cách của bạn.

Những người tham gia trong nghiên cứu (một nhóm các sinh viên đại học) được yêu cầu đánh giá về những năng lực của riêng họ và của bạn bè họ lúc bắt đầu một khoá học dài 6 tuần. Khoảng một nửa số sinh viên là kém tự tin và một ít (ít hơn một nửa) là quá tự tin (với sự cân bằng nhỏ của những sinh viên đánh giá chính xác về những khả năng của họ). Sau đó họ được yêu cầu đấnh giá lại vào cuối khoá học, sau khi mọi người có cơ hội thể hiện và tất cả mọi người đều nhìn thấy những kết quả thực tế.

Nghiên cứu cho thấy lúc bắt đầu khoá học, những sinh viên quá tự tin nhận được những đánh giá cao hơn từ bạn bè – và đến cuối khoá học, bất kể họ học tốt hoặc kém ra sao, những sinh viên quá tự tin vẫn được đánh giá cao hơn những người khác. Thực vậy, các kết quả hầu như không quan trọng khi so với những dấu hiệu quyến rũ được gửi đi bởi những người tin rằng họ là nhất.

Nghiên cứu bổ sung cách đánh giá mức độ lừa dối bản thân của những người tham gia về những khả năng của họ, và phát hiện thấy một mối tương quan vững chắc giữa sự thống trị về mặt xã hội của sự quá tự tin và chiều sâu của sự tự lừa dối bản thân. Các nhà nghiên cứu kết luận như sau: “Các phát hiện của chúng tôi cho thấy mọi người có thể không phải lúc nào cũng tưởng thưởng cho cá nhân đạt được nhiều thành tựu hơn mà đúng hơn là thưởng cho cá nhân tự lừa dối bản thân nhiều hơn.”

Dù chúng ta có thể không thích kết luận đó, thì thật khó mà cãi rằng nó không nằm trong những bằng chứng xung quanh chúng ta hằng ngày. Những người không tin vào bản thân họ – cho dù niềm tin đó có cơ sở hay không – thì không thể thuyết phục những người khác tin theo. Đó là điều mà chức năng tâm lý học của sự tự tin nói đến: nếu bạn mong đợi người khác nghĩ rằng bạn có năng lực, thì bạn tốt hơn là tự tin vào điều đó.

Điều đó đúng đối với sự tự tin lành mạnh cũng như sự tự tin được thổi phồng.

Điều mà nghiên cứu mới nhất và những yếu tố của những người khác nói với chúng ta đó là sự tự lừa dối bản thân là một thứ nuôi dưỡng địa vị xã hội. Khi đi cùng với tính cách, nó làm người khác muốn tin vào ngay cả khi các kết quả chỉ về điều khác. Và dù điều đó không làm cho chủ đề này bớt gây khó chịu hơn, thì nó làm sáng tỏ điều gì khiến cho sự quá tự tin có hiệu quả mặc cho tiếng xấu của nó.

Nghiên cứu mới nhất được đăng trên tạp chí PLOS One.

Thanh Hằng dịch
Nguồn
http://www.psychologytoday.com/blog/neuronarrative/201410/the-surprising-infuriating-power-overconfidence

6 điều hoang đường về đàn ông, phụ nữ và mối quan hệ

null

Nghiên cứu cho thấy chúng ta giống nhau nhiều hơn chúng ta nghĩ
Khi nói đến hành vi của đàn ông và phụ nữ trong các mối quan hệ, đa số mọi người có một quan điểm – và thường là về hai giới khác biệt nhau như thế nào. Nhưng nghiên cứu nói gì với chúng ta về việc đàn ông và phụ nữ hành xử như thế nào trong các mối quan hệ tình cảm? Thường thì họ giống nhau nhiều hơn chúng ta nghĩ, và những giả định phổ biến của chúng ta là sai lầm.

Hãy xem xét 6 điều hoang đường phổ biến sau:

1. Phụ nữ lãng mạn hơn đàn ông.

Khi phần lớn tiểu thuyết lãng mạn và những bộ phim lãng mạn nhắm đến những độc giả nữ, thì khó mà tin rằng đàn ông trong thực tế có một quan điểm lãng mạn về tình yêu hơn phụ nữ. Thang đo về chủ nghĩa lãng mạn được dùng nhiều, Romantic Beliefs Scale, yêu cầu mọi người đánh giá họ đồng ý đến mức độ nào với những câu như “Sẽ chỉ có một tình yêu đích thực đối với tôi” và “Nếu tôi yêu một ai đó, thì tôi biết mình có thể làm mối quan hệ tiến triển, mặc cho bất kỳ chướng ngại nào.” Nhưng hoá ra đàn ông thường ghi nhiều điểm hơn phụ nữ trong thang đo này.(1) Đàn ông cũng có nhiều khả năng tin vào quan điểm lãng mạn của “yêu từ cái nhìn đầu tiên” hơn phụ nữ. 2,3

2. Sự quyến rũ về ngoại hình của một người bạn đời là quan trọng với đàn ông nhiều hơn với phụ nữ.

Điều hoang đường này dựa trên một hạt nhân chủ yếu của sự thật: Nhiều nghiên cứu chỉ ra, khi đàn ông và phụ nữ được hỏi những phẩm chất nào mà họ ưa thích hơn ở một người bạn tình, thì đàn ông đánh giá sự quyến rũ ngoại hình quan trọng hơn là phụ nữ. 4 Tuy nhiên, sự xem xét kỹ lưỡng dữ liệu này đã tiết lộ cả đàn ông và phụ nữ cho rằng vẻ ngoài là quan trọng, có điều đàn ông đánh giá nó cao hơn phụ nữ. Trong một nghiên cứu, đàn ông và phụ nữ đánh giá một loạt phẩm chất ở những bạn tình tiềm năng.5 Về trung bình, đàn ông đánh giá ngoại hình là phẩm chất quan trọng hàng thứ tư; còn phụ nữ đánh giá nó quan trọng hàng thứ sáu. Vì vậy, cả hai giới đèu đánh giá cao ngoại hình, nhưng không đánh giá nó quan trọng hàng đầu.

Nhưng dữ liệu này chỉ nói về việc đàn ông và phụ nữ tuyên bố họ đang tìm kiếm điều gì. Nghiên cứu nói gì về kiểu người mà đàn ông và phụ nữ trong thực tế chọn để hẹn hò? Trong một nghiên cứu cổ điển về sự quyến rũ liên nhân cách, các sinh viên đại học được ghép cặp ngẫu nhiên cho các cuộc hẹn hò, và đối với đàn ông và phụ nữ, sự quyến rũ ngoại hình là yếu tố chính dự đoán liệu họ có hứng thú hẹn hò với ai đó lần thứ hai hay không.6 Trong một nghiên cứu gần đây, các nhà nghiên cứu xem xét những sở thích của các sinh viên đại học tham gia trong một sự kiện hẹn hò-nhanh. Trước những cuộc hẹn hò nhanh của họ, các sinh viên đánh giá về những phẩm chất khác nhau sẽ có tầm quan trọng như thế nào trong việc đưa ra sự lựa chọn của họ, và những khác biệt về giới (được mong đợi) đã xuất hiện, khi phụ nữ đánh giá về sự quyến rũ ngoại hình ở bạn tình là kém quan trọng hơn ở đàn ông. Nhưng khi các nhà nghiên cứu xem xét những người tham gia trong thực tế đã chọn ai trong suốt sự kiện, thì sự khác biệt về giới biến mất: Cả đàn ông và phụ nữ ưa thích những đối tác quyến rũ về ngoại hình hơn, và không có sự khác biệt giới trong vấn đề vẻ ngoài ảnh hưởng đến những lựa chọn của họ nhiều như thế nào.7

Như vậy, cả đàn ông và phụ nữ đều đánh giá cao sự quyến rũ ngoại hình, và đàn ông đánh giá nó cao hơn – nhưng không cao hơn quá nhiều – và sự xem xét về những lựa chọn hẹn hò trong thực tế cho thấy cả hai giới đều bị say mê bởi vẻ ngoài ngang nhau. Continue reading

Có hay không tình yêu từ cái nhìn đầu tiên

Những gì tình yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên thật sự có nghĩa …

null

Thật sự có một thứ gì như tình yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên hay không? Nhiều người sẽ nói là có, và họ đã từng trải nghiệm nó. Nhưng liệu đây có phải chỉ đơn thuần là một nhầm lẫn giữa sự cuốn hút giới tính và tình yêu? Tình yêu từ cái nhìn đầu tiên có khả dĩ; và cái tính chất “từ cái nhìn đầu tiên” thật sự có nghĩa gì? Vậy, trước hết chúng ta hãy định nghĩa các thuật ngữ và xem xem chúng ta có thể làm sáng tỏ ý tưởng này hay không.

Trên thực tế, “tình yêu từ cái nhìn đầu tiên” có vẻ như là một thuật ngữ sai bởi vì chúng ta không thể hiểu nó theo nghĩa đen. Bởi vì chỉ đơn thuần nhìn thấy một ai đó không thể nào đủ để biết được bản chất của một người. Ví dụ như, nhìn thấy Brad Pitt hay Gwyneth Palthrow trong bộ phim mới đây nhất của họ không phải là cơ sở để yêu thích họ. Thật ra, các nhân vật xuất hiện trên màn hình không phải thực sự là con người của các diễn viên, một sự thật mà một nhóm hâm mộ cuồng nhiệt dường như không thể thấy. Những fan này có thể cảm thấy cuốn hút về mặt giới tính, hay cảm thấy mê mẩn, đối với các diễn viên này nhưng họ không thể được xem là yêu họ bởi vì họ không hiểu tí gì về con người của các diễn viên này dù họ có thể biết được một số thông tin (ví dụ như từ các tạp chí hay các cuộc tán gẫu). Tương tự như thế, bằng việc chỉ nhìn thấy người khác mà không có cơ hội để hiểu về họ, chúng ta không thể nào, một cách có lý, nói là yêu họ. Trong một vài trường hợp, khi chúng ta hiểu về con người của một số người mà ta cảm thấy ngưỡng mộ lúc còn lạ lẫm, chúng ta có thể xem họ rất rất đáng tởm!

Tuy nhiên, một số người tin rằng có thể có một sự liên kết kỳ diệu nào đó ngay sau khi ta nhìn thấy người ta yêu lần đầu tiên. Có lẽ cảm giác deja vu được kích hoạt bởi việc đã biết người này ở kiếp trước. Có lẽ từ cái nhìn đầu tiên, một nửa kia của bạn kéo bạn tới gần anh ấy như hai cực trái dấu của một nam châm. Vì vậy, Plato quan niệm rằng, khi linh hồn của chúng ta hạ thế từ thiên đường, chúng đã bị chia ra, để rồi khi ta gặp người bạn đời của mình “lần đầu tiên” trong cuộc đời, đó chính là một sự tái hợp. Tuy nhiên cần chú ý rằng, những cách giải thích siêu hình này về tình yêu từ cái nhìn đầu tiên cũng có ẩn chứa một sự trải nghiệm trực tiếp với người còn lại [đã gặp ở tiền kiếp, hay là hai nửa của một thực thể, tức luôn có một mối liên kết nào đó giữa hai người trước đó, bất kể là ở dạng linh hồn hay tiền kiếp – ND]. Như thế, thậm chí nếu chấp nhận những cách giải thích đó đi chăng nữa, chúng ta phải thừa nhận rằng tình yêu từ cái nhìn đầu tiên không thật sự là “cái nhìn đầu tiên”. Có một sự thân quen nào đó; chúng ta không thể chỉ thấy ai đó rồi sau đó, tự động yêu họ. Có một thứ mà Betrand Russell đã gọi là “tri thức của cảm giác thân quen” (“knowledge by acquaintance”). Chúng ta phải trực tiếp quen biết người khác theo một cách nào đó trước khi chúng ta có tình cảm với họ. Continue reading