[Scientific American] Bí mật để nuôi dạy những đứa trẻ thông minh

null

Đừng nói cho con bạn biết rằng chúng thông minh. Hơn ba thập kỷ nghiên cứu chỉ ra, một sự tập trung vào “quá trình” – không phải tập trung vào trí thông minh hoặc tài năng—là chìa khoá cho sự thành công trong học tập và cuộc sống.

Jonathan, một học sinh xuất sắc vượt qua những năm học phổ thông. Cậu hoàn thành bài tập một cách dễ dàng và thường đạt điểm A. Jonathan thắc mắc tại sao một số bạn cùng lớp của cậu lại cố gắng, và bố mẹ cậu nói rằng cậu là một thiên tài đặc biệt. Tuy nhiên, đến lớp bảy, Jonathan đột nhiên mất hứng thú học tập, từ chối làm bài tập về nhà hoặc học bài để kiểm tra. Hậu quả là, điểm số của cậu rơi thẳng xuống. Bố mẹ cậu cố gắng nâng cao sự tự tin của con trai họ bằng cách trấn an cậu rằng cậu rất thông minh. Nhưng nỗ lực của họ không thúc đẩy được Jonathan. Bài học ở trường là nhàm chán và vô nghĩa.

Xã hội chúng ta tôn thờ tài năng, và nhiều người giả định rằng sở hữu trí tuệ hoặc năng lực phi thường – cùng với sự tự tin vào năng lực đó – là một công thức cho sự thành công. Tuy nhiên, trong thực tế, hơn 35 năm nghiên cứu khoa học cho thấy sự quá nhấn mạnh vào trí tuệ hoặc tài năng khiến con người dễ bị tổn thương trước thất bại, sợ những thách thức và không sẵn sàng sửa chữa những khuyết điểm của họ. Continue reading

[Scientific American] Huấn luyện bộ não không làm bạn thông minh hơn

Tác giả: David Z. Hambrick

null

Nếu bạn dành nhiều hơn 5 phút lướt web, nghe radio hoặc xem tv cách đây vài năm, thì bạn sẽ biết rằng việc huấn luyện nhận thức hay còn gọi là “huấn luyện bộ não” là một trong những xu hướng mới, hot nhất về cải thiện bản thân. Lumosity, cung cấp những nhiệm vụ dựa trên web được thiết kế để cải thiện những khả năng nhận thức như trí nhớ và chú ý, khoe khoang là có 50 triệu người đăng ký và quảng cáo trên đài quốc gia. Cogmed tuyên bố là “một giải pháp dựa trên máy tính cho những vấn đề về chú ý bị gây ra bởi trí nhớ ngắn hạn kém,” và BrainHQ sẽ giúp bạn “tận dụng tối đa bộ não duy nhất của bạn.” Lời hứa hẹn của tất cả những sản phẩm đó, ngầm hoặc công khai, đó là việc huấn luyện bộ não có thể làm bạn thông minh hơn – và làm cho cuộc sống của bạn tốt hơn.

Nhưng, theo một tuyên bố của Stanford University Center on Longevity và the Berlin Max Planck Institute for Human Development, không có bằng chứng khoa học vững chắc ủng hộ lời hứa hẹn này. Được ký tên bởi 70 nhà tâm lý học nhận thức và nhà khoa học thần kinh hàng đầu thế giới, tuyên bố này là rõ ràng và trực tiếp:

“Sự nhất trí mạnh mẽ của nhóm này đó là tài liệu khoa học không ủng hộ những tuyên bố cho rằng việc sử dụng “những trò chơi cho bộ não” dựa trên phần mềm làm thay đổi chức năng thần kinh theo những cách làm cải thiện năng lực nhận thức nói chung trong cuộc sống hằng ngày, hoặc ngăn ngừa sự trì độn nhận thức và bệnh về não.

Tuyên bố cũng lưu ý rằng dù một số công ty về huấn luyện bộ não “đưa ra những danh sách gồm những ý kiến khoa học được uỷ nhiệm và những đăng ký về các nghiên cứu khoa học thích hợp cho việc huấn luyện nhận thức…nghiên cứu được trích dẫn[thường] chỉ liên quan đến những tuyên bố mang tính khoa học của công ty, và những game họ bán.” Continue reading

[Scientific American] Thế giới không có ý chí tự do

Tác giả: Azim F. Shariff & Kathleen D. Vohs

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Vào tháng 7 năm 2008, Brian Thomas, một công nhân ngành thép đã nghỉ hưu, cùng cô vợ Christine lái chiếc xe dã ngoại đến một ngôi làng nhỏ ven biển ở xứ Wales. Cảm thấy phiền nhiễu từ đám đàn ông đang phô diễn ầm ĩ trên mấy chiếc xe máy, hai vợ chồng này chuyển tới bãi đậu xe của một quán trọ gần đó. Sau đó vào buổi đêm, Thomas mơ thấy một trong những tay cưỡi xe máy kia đột nhập vào xe. Khi ngủ, anh nhầm vợ mình với tay cưỡi xe máy tưởng tượng kia và bóp cổ cô ấy đến chết. Anh ta đã kể câu chuyện này như thế.

Năm sau đó, bồi thẩm đoàn phải quyết định liệu Thomas có phạm tội sát nhân không. Bồi thẩm đoàn biết được rằng anh đã mắc phải chứng mộng du từ thuở nhỏ. Một bác sĩ tâm thần lão luyện giải thích rằng Thomas không nhận thức được mình đang làm gì khi bóp cổ vợ mình và anh ta không chọn cách tấn công cô ấy bằng ý thức của mình. Thomas sau đó được tự do.

Những vụ như thế buộc người ta phải xem xét việc có ý chí tự do có ý nghĩa gì. Trong lúc mộng du, bộ não rõ ràng có thể chỉ thị cho hành động của người ta mà không cần đến sự hợp tác hoàn toàn của ý thức. Gần đây, càng lúc càng nhiều triết gia và những nhà khoa học thần kinh lập luận – dựa trên sự hiểu biết hiện thời về bộ não con người – rằng ở chừng mực nào đó thì hết thảy chúng ta đều mộng du ở mọi thời điểm. Thay vì làm chủ cuộc sống theo ý hướng bản thân, chúng ta hoàn toàn bị đưa đẩy bởi những sự kiện quá khứ và những mưu đồ của tâm trí vô thức diễn ra bên dưới. Thậm chí khi chúng ta tỉnh thức hoàn toàn, thì ý chí tự do chỉ là một ảo tưởng.

Các triết gia với quan điểm này đã lập luận rằng toàn bộ các sinh vật đều bị ràng buộc bởi các quy luật vật lí của một vũ trụ mà trong đó mọi hành động đều là kết quả của những sự kiện trước. Con người là những sinh vật. Do đó, hành vi con người là kết quả từ một chuỗi nhân quả phức hợp vốn dĩ vượt khỏi tầm kiểm soát của ta hoàn toàn. Vũ trụ này đơn giản là không cho phép có ý chí tự do. Những nghiên cứu khoa học thần kinh gần đây đã tiếp thêm nhiên liệu cho quan niệm đó bằng cách đề xuất ý rằng cái trải nghiệm của sự chọn lựa có ý thức là kết quả của những tiến trình xử lí não bộ bên dưới vốn là thứ sinh ra hành động con người, chứ không phải là nguyên nhân của những tiến trình đó. Bộ não chúng ta quyết định mọi thứ mình làm mà không cần “ta” giúp – chỉ là cảm giác giống như ta làm được vậy mà thôi.

Tất nhiên không phải ai cũng đồng ý, và cuộc tranh luận về sự tồn tại của ý chí tự do sẽ tiếp tục trào lên. Tuy nhiên, chúng tôi cảm thấy hiếu kì về một vấn đề liên quan cũng có tầm quan trọng tương đương: Chuyện gì xảy đến khi niềm tin của con người vào ý chí tự do – cho dù có được biện minh hay không – lại bị lung lay? Liệu một xã hội thời hậu ý chí tự do (post-free will), hoặc nói đúng hơn là một xã hội sau cái thời người ta có niềm tin vào ý chí tự do, thì sẽ trông ra sao? Nghiên cứu của chúng tôi trong vấn đề này đã đưa ra những manh mối cho một câu trả lời, một số làm người ta thấy bất an. Cụ thể, chúng tôi thấy được những dấu hiệu cho biết nếu thiếu đi niềm tin vào ý chí tự do thì kết cuộc là cấu trúc xã hội sẽ bị phá huỷ tan tành. Continue reading

[Scientific American] Tại sao bộ não chuộng sách giấy hơn

Tác giả: Ferris Jabr

Duy Đoàn chuyển ngữ 

Một trong những đoạn phim Youtube lan truyền rất nhanh và làm người ta phấn khích nhất hồi hai năm trước, với phần mở đầu bình thường vô cùng: một bé gái một tuổi chơi với iPad, lướt ngón tay dọc ngang màn hình cảm ứng và đẩy các nhóm biểu tượng qua lại trên màn hình. Ở những cảnh tiếp theo đó, cô bé có vẻ như đang khum bàn tay lại, túm túm gì đó và ấn vào những trang giấy của mấy tờ tạp chí như thể chúng là những màn hình. Đoạn phim còn xoáy vào những cử chỉ đó bằng cách tua lại và chiếu cận cảnh vào.

Đối với cha của đứa bé, thì đoạn phim đó – A Magazine Is an iPad that Does Not Work – là bằng chứng cho sự chuyển dời thế hệ. Trong đoạn mô tả kèm theo, ông viết, “Những cuốn tạp chí giờ đây vô dụng và không thể hiểu được, đối với cư dân số (digital native)” – tức là, đối với những người đã tương tác với những công nghệ số từ lúc còn rất nhỏ, khi mà xung quanh họ lúc đó không chỉ có sách và tạp chí bằng giấy mà còn có điện thoại thông minh (smartphone), Kindle và iPad.

Cho dù bé gái đó có thực sự kì vọng những cuốn tạp chí phải hành xử như một chiếc iPad hay không, thì đoạn phim cũng làm ta chú ý đến một vấn đề vô cùng thực tế: Chính xác làm thế nào mà công nghệ chúng ta dùng để đọc có thể thay đổi cách đọc của chúng ta?

Ít nhất kể từ thập niên 1980, các nhà nghiên cứu tâm lí học, kĩ thuật máy tính, và khoa học thư viện và thông tin đã công bố hơn 100 nghiên cứu khám phá những khác biệt ở cách đọc trên sách giấy và cách đọc trên màn hình. Trước năm 1992, hầu hết các thí nghiệm đều kết luận rằng khi người ta đọc truyện và đọc báo ở màn hình thì họ đọc chậm hơn và ghi nhớ thông tin ít hơn. Tuy vậy, khi độ phân giải của màn hình của tất cả các loại thiết bị trở nên sắc nét hơn, thì một loạt những khám phá theo nhiều chiều hướng khác nhau bắt đầu xuất hiện. Những khảo sát gần đây cho thấy rằng mặc dù hầu hết mọi người đều chuộng dùng giấy hơn – đặc biệt khi họ cần tập trung trong thời gian dài – nhưng những thái độ đó đang thay đổi khi máy tính bảng và công nghệ đọc sách điện tử được cải thiện dần và khi mà chuyện đọc những văn bản số để tìm dữ kiện và để giải trí đang trở nên ngày càng phổ biến hơn. Ở Mĩ, e-book hiện nay chiếm hơn 20 phần trăm tổng số sách được bán cho công chúng.

Mặc cho loại công nghệ phổ thông thân thiện người dùng ngày càng phát triển, nhưng hầu hết các nghiên cứu được công bố kể từ đầu thập niên 1990 đều xác nhận những kết luận trước đó: giấy vẫn chiếm ưu thế so với màn hình như một phương tiện đọc sách báo. Cùng với những thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, những cuộc bỏ phiếu và những báo cáo người tiêu dùng đều chỉ ra rằng các thiết bị số ngăn người ta định vị những đoạn văn bản dài một cách hiệu quả, điều này có thể làm ngăn trở chút ít trong việc đọc hiểu. So với giấy, màn hình cũng có thể làm cạn kiệt nguồn tài nguyên trí óc của chúng ta trong lúc đọc và làm ta khó ghi nhớ hơn những gì mình đọc được sau khi đọc xong. Bất kể họ có nhận ra điều đó hay không, người ta vẫn thường tiếp cận máy tính và máy tính bảng với tinh thần ít hướng đến chuyện học hơn so với lúc tiếp cận sách giấy. Và máy đọc sách không tái dựng lại được một số trải nghiệm theo cảm giác có được lúc đọc sách giấy, và một số người thấy bất an khi thiếu vắng những cảm nghiệm đó. Continue reading

Michael F. Hammer – Những hỗn hợp nhân chủng

 

Michael F. Hammer

Những hỗn hợp nhân chủng

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Các phân tích DNA phát hiện rằng chủng Homo sapiens sơ kì đã giao phối với các chủng người khác và còn gợi ý rằng việc lai giống như vậy đóng vai trò then chốt trong việc hình thành nên loài người chúng ta.

Thật khó hình dung ngày nay, ngoại trừ đối với phần lớn lịch sử tiến hoá loài người, có nhiều chủng giống người cùng san sẻ trái đất này. Khoảng 40,000 năm trước, Homo sapiens đã sống cùng với một số họ hàng khác với mình, bao gồm chủng Neandertal và chủng Homo floresiensis nhỏ bé. Trong nhiều thập niên qua, các nhà khoa học đã tranh cãi về việc chính xác làm thế nào mà Homo sapiens là cội nguồn và trở thành loài người chung cuộc hiện tại. Phần lớn nhờ vào các nghiên cứu di truyền hồi thập niên 1980 mà xuất hiện một lí thuyết với vai trò tiên phong rõ ràng. Theo quan điểm này, loài người hiện đại xét theo giải phẫu học phát sinh từ châu Phi và lan toả ra khắp phần còn lại của Cựu Thế giới (Old World), hoàn toàn thay thế các nhóm người tối cổ hiện hữu vào thời điểm đó. Dạng người mới này chính xác làm thế nào trở thành chủng người chung cuộc ngày nay trên trái đất vẫn còn là điều bí ẩn. Có lẽ những kẻ xâm lược ngày ấy đã loại bỏ hết những kẻ bản địa họ tiếp cận được, hoặc lấn át những kẻ lạ mặt ấy ngay trên chính đất đai của họ, hoặc chỉ đơn giản là sinh sản ở mức cao hơn. Dẫu cho nó xảy ra thế nào, thì những kẻ mới đến dường như đã loại trừ hết mà không giao phối với những đối thủ của mình.

Mô hình Người Phi Thay thế (African Replacement) này, như người ta thường gọi, vô cùng quan trọng khi giữ vai trò làm hệ hình cho nguồn gốc con người hiện đại trong 25 năm qua. Tuy thế càng lúc càng có chứng cứ chỉ ra sai lầm của hệ hình này. Những phát triển gần đây trong công nghệ sắp xếp chuỗi DNA đã cho phép các nhà nghiên cứu gia tăng đáng kể bộ sưu tập dữ liệu từ người sống cũng như từ các nhóm người tuyệt chủng. Các phân tích dựa trên nguồn dữ liệu này cùng với những công cụ tính toán ngày càng phức tạp đã chỉ ra rằng câu chuyện lịch sử loài người chúng ta không đơn giản như nhiều chuyên gia vẫn tưởng. Có vẻ con người ngày nay mang chuỗi DNA thừa hưởng từ chủng Neandertal và các chủng người tối cổ khác, điều này hé lộ cho biết rằng chủng Homo sapiens sơ kì đã giao phối với các chủng khác này và sinh ra con cái khoẻ mạnh vốn có thể truyền cái di sản gene này cho hàng ngàn thế hệ sau này. Ngoài việc lật đổ sự hiểu biết thông thường về nguồn gốc của chúng ta, thì các khám phá này còn làm cho những nghiên cứu mới đi theo hướng tìm hiểu việc lai giống này diễn ra mạnh mẽ ra sao, nó xảy ra ở những khu vực địa lí nào và tìm hiểu xem liệu con người hiện đại có biểu lộ ra những lợi thế do nhận được các đóng góp gene từ những họ hàng tiền sử của ta hay không.  Continue reading

Rodrigo Quian Quiroga, Itzhak Fried & Christof Koch – Tế bào tổ mẫu trong não bộ

Rodrigo Quian Quiroga, Itzhak Fried & Christof Koch

Tế bào tổ mẫu trong não bộ

Duy Đoàn chuyển ngữ

Có lần nhà giải phẫu thần kinh thông thái người Nga Akakhi Akakhievitch có khách hàng là một anh chàng muốn quên đi người mẹ độc đoán, quá quắt của mình.

Akakhievitch hào hứng giúp đỡ, mở toang bộ não bệnh nhân ra, và dần dần loại bỏ vài ngàn neuron, mỗi neuron trong số này đều có liên quan đến ý niệm người mẹ của bệnh nhân đó. Khi bệnh nhân tỉnh dậy sau cơn mê, anh ta mất hết toàn bộ khái niệm về mẹ mình. Toàn bộ kí ức về bà ta, tốt lẫn xấu, đều biến mất. Mừng rỡ trước thành công đó, Akakhievitch chuyển hướng sang nỗ lực kế tiếp – tìm kiếm các tế bào liên kết với phần kí ức của “người bà.”

Câu chuyện đó dĩ nhiên là hư cấu. Nhà khoa học thần kinh quá cố Jerry Lettvin (một nhân vật có thật ngoài đời) đã kể câu chuyện đó cho sinh viên ở Học viện Công nghệ Massachusetts hồi năm 1969 nhằm minh hoạ cho một ý tưởng đầy khiêu khích cho rằng có một lượng tầm khoảng 18,000 neuron có thể hình thành nên cơ sở cho bất kì dạng kinh nghiệm ý thức, cho bất kì loại tư duy hoặc kí ức đặc thù nào về người thân, về bất kì một người nào khác hoặc bất kì món đồ nào mà ta chợt bắt gặp. Lettvin chưa bao giờ chứng minh hoặc bác bỏ giả thuyết táo bạo đó, và trong hơn 40 năm qua các nhà khoa học đã tranh luận, hầu hết là đùa cợt, về ý tưởng “các tế bào tổ mẫu (grandmother cells)”.  Continue reading

Mark Fischetti – Thành phố hiệu năng cao

 

Mark Fischetti

Thành phố hiệu năng cao

Duy Đoàn chuyển ngữ 

 

Những khu đô thị trên khắp thế giới đang tận dụng nhiều giải pháp sáng tạo nhằm giảm việc tiêu thụ năng lượng, sử dụng nước, giảm lượng chất thải và khí thải, đồng thời cũng làm cho người dân có thể đi lại dễ dàng hơn.

Continue reading

Mark W. Moffet – Loài kiến và binh pháp

Mark W. Moffet

Loài kiến và binh pháp

Duy Đoàn chuyển ngữ

Các trận đánh của loài kiến có thể tương đồng đến mức kinh ngạc với các chiến dịch quân sự của loài người.

Những kẻ tham chiến cuồng nộ hình thành một vệt mờ từ mọi phía, gần như không ai hiểu được mức độ bạo lực sẽ đến đâu, trận đánh trải dài vượt quá nhãn quan của tôi. Hàng chục ngàn con kiến càn quét lên trước chỉ chuyên tâm vào mục đích tự sát. Cống hiến hết mình cho nhiệm vụ, các chiến sĩ không bao giờ rút lui khỏi cuộc đối đầu – thậm chí khi đang đối diện với cái chết rõ ràng. Những cuộc giao chiến diễn ra ngắn ngủi và bạo tàn. Đột nhiên, ba tên lính bộ nắm lấy kẻ thù và giữ nó ở đó đến khi một trong những chiến binh to con hơn tiến lại và chẻ đôi cơ thể của kẻ bị bắt, để lại một mớ bầy hầy và rỉ máu.

Tôi cầm máy quay phim lùi lại, hít vào luồng không khí ẩm thấp của khu rừng nhiệt đới Malaysia, và tự nhắc mình rằng đối thủ là bọn kiến, chứ không phải con người. Tôi đã tốn hàng tháng trời thu thập tài liệu về việc chết chóc này bằng một cái máy quay phim thực địa mà tôi dùng như kính hiển vi, dù vậy tôi vẫn thấy là thật dễ dàng quên đi rằng tôi đang quan sát bọn côn trùng nhỏ bé này – trong trường hợp này là một chủng loài được biết với tên Pheidologeton diversus, bọn kiến cướp bóc (marauder ant).  Continue reading