Ngũgĩ wa Thiong’o – Cuộc cách mạng đứng thẳng: Hoặc tại sao con người đi với dáng thẳng đứng

Ngũgĩ wa Thiong’o

Cuộc cách mạng đứng thẳng: Hoặc tại sao con người đi với dáng thẳng đứng

Duy Đoàn chuyển ngữ

Hồi xưa, con người thường đi bằng cả tay lẫn chân, giống y như mọi sinh vật tứ chi khác. Con người nhanh hơn thỏ, báo và cả tê giác. Chân và tay ở gần nhau hơn bất kì cơ quan nào khác: chúng có những khớp nối tương ứng giống nhau: vai và hông; khuỷu tay và đầu gối; mắt cá chân và cổ tay; bàn chân và bàn tay, mỗi cái đều có phần cuối là 5 ngón chân và 5 ngón tay, với móng ở mỗi đầu ngón chân và ngón tay. Bàn tay và bàn chân có 5 ngón được sắp xếp giống nhau từ ngón chân cái và ngón tay cái cho đến ngón chân và ngón tay nhỏ nhất. Thuở đó, ngón tay cái nằm gần các ngón khác, ngón chân cái cũng vậy. Chân và tay gọi nhau là anh em con chú bác.

Chúng giúp lẫn nhau trong việc mang vác cơ thể tới bất cứ đâu cơ thể muốn đến; chợ, cửa hàng, leo lên leo xuống mấy cái cây và mấy ngọn núi, bất cứ đâu cần đến việc di chuyển. Thậm chí ở dưới nước, chúng cũng hợp tác tốt để giúp cơ thể nổi lên, bơi hoặc lặn xuống. Chúng theo có mối quan hệ dân chủ và bình đẳng. Chúng cũng có thể mượn cái dụng từ sản phẩm của những cơ quan khác, phát âm thanh từ miệng, nghe từ tai, ngửi từ mũi, và cả nhìn từ mắt.

Nhịp điệu và việc phối hợp liền lạc của chúng làm các bộ phận khác vô cùng ganh tị. Chúng tức giận vì phải cho mượn thiên tư đặc biệt của mình cho hai cặp anh em đó. Sự ganh tị làm chúng mù quáng trước thực tế rằng chân và tay mang chúng đi mọi nơi. Chúng bắt đầu lập mưu chống lại hai cặp đó. Continue reading

Raymond Carver – Ngôi nhà của Chef

Raymond Carver

Ngôi nhà của Chef

Duy Đoàn chuyển ngữ

Mùa hè năm đó, Wes thuê một căn nhà với đầy đủ đồ nội thất ở phía bắc Eureka từ một gã nghiện rượu nay đã hết nghiện tên là Chef. Sau đó anh ta gọi bảo tôi hãy quên đi những thứ đang diễn ra và di chuyển lên đây sống cùng anh. Anh bảo anh kiêng rượu rồi. Tôi biết vụ kiêng khem đó. Nhưng anh ta sẽ không chịu câu trả lời không đâu. Anh gọi lại và nói, Edna, em có thể thấy biển từ cửa sổ mặt trước. Em có thể ngửi thấy muối trong không khí. Tôi lắng nghe anh nói. Anh không phát âm líu nhíu các ngôn từ của mình. Tôi nói, Em sẽ nghĩ về chuyện này. Và tôi có nghĩ. Một tuần sau anh gọi lại và nói, Em đến chứ? Tôi bảo là mình vẫn còn suy nghĩ. Anh nói, Chúng ta sẽ bắt đầu lại. Tôi nói, Nếu em lên trên đó, em muốn anh làm điều này cho em. Cứ nói, Wes bảo. Tôi nói, Em muốn anh hãy cố gắng và trở thành Wes mà em từng biết. Wes của ngày xưa. Wes mà em đã cưới. Wes bắt đầu khóc, nhưng tôi lấy đó làm dấu hiệu cho những ý định tốt của anh. Do vậy tôi bảo, Được rồi, em sẽ lên đó.

Wes đã bỏ cô bạn gái của anh, hoặc cô ta đã rời bỏ anh – tôi không biết, mà cũng chẳng quan tâm. Khi tôi quyết định đi cùng Wes, tôi phải nói lời từ biệt với bạn tôi. Bạn tôi bảo, Em đang mắc sai lầm đó. Anh ta bảo, Đừng làm điều này với anh. Chúng ta thì sao đây? Anh ta bảo. Tôi nói, Em phải làm điều này vì Wes. Anh ấy đang cố không uống rượu. Anh nhớ chuyện đó ra sao chứ. Anh nhớ, bạn tôi nói, nhưng anh không muốn em đi. Tôi nói, Em sẽ đi vào hè này. Rồi em sẽ xem thử. Em sẽ trở về, tôi nói. Anh ta nói, Còn anh thì sao? Không vì anh sao? Đừng quay trở lại, anh ta bảo.

Chúng tôi uống cà-phê, nước có ga, và toàn bộ những loại nước ép trái cây vào mùa hè đó. Cả mùa hè, đó là những gì chúng tôi phải uống. Tôi nghe lòng mình ước rằng mùa hè này sẽ không kết thúc. Tôi dư biết, nhưng sau một tháng ở cùng Wes ở căn nhà của Chef, tôi đeo lại nhẫn cưới. Tôi đã không mang nhẫn hai năm rồi. Không mang nó kể từ cái đêm Wes say xỉn và ném nhẫn anh ta ra vườn đào. Continue reading

Clarice Lispector – Một trăm năm cho sự tha thứ

 

Clarice Lispector

Một trăm năm cho sự tha thứ

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Rachel Klein

Ai chưa từng ăn trộm sẽ không hiểu được tôi. Và ai chưa từng ăn trộm hoa hồng sẽ không bao giờ có thể hiểu được tôi. Khi tôi còn nhỏ, tôi đã ăn trộm hoa hồng.

Ở Recife đường sá nhiều vô kể. Những con đường của giới giàu sang có mấy toà lâu đài nho nhỏ xếp thành hàng, cái nào cái nấy đều ngự ở giữa những khu vườn rộng lớn. Cô bạn tôi và tôi thích chơi trò đoán xem toà lâu đài nho nhỏ này thuộc về ai. “Cái trắng này của tớ.” “Không, tớ đã bảo cậu rồi, những cái màu trắng của tớ hết.” “Nhưng cái này có trắng hoàn toàn đâu. Nó có mấy cửa sổ màu xanh lục mà.”Có những ngày bọn tôi đứng rất lâu tựa mặt vào hàng rào, nhìn vào trong.

Đó là cách câu chuyện bắt đầu. Ngày nọ, trong khi chơi trò “căn nhà này của tớ”, bọn tôi dừng lại trước một căn nhà trông như toà thành nhỏ. Ở sau lưng căn nhà, bọn tôi có thể thấy một khu vườn cây ăn quả rộng mênh mông, và trước căn nhà là những luống đất được chăm sóc kĩ càng, ở đó người ta trồng hoa.

Bỗng, trong chính luống hoa đó bật lên một đoá hồng nửa mở nửa khép với sắc hồng thẫm. Tôi ngẩn người ra, nhìn chằm chằm một cách thích thú vào đoá hồng cao ngạo này, vốn chưa trở thành đàn bà. Và rồi xảy thế này: từ sâu thẳm trong tim, tôi muốn đoá hồng này dành cho chính mình. Tôi muốn nó, a, tôi muốn nó ghê lắm. Và không có cách chi lấy được nó cả. Nếu người làm vườn có ở đó, tôi ắt hẳn sẽ hỏi xin đoá hồng kia, dù lúc nào cũng biết rằng ông ấy sẽ xua bọn tôi đi chỗ khác như cách người ta xua đi lũ trẻ phá phách vậy. Không thấy người làm vườn nào, không một bóng người. Và do có ánh mặt trời nên người ta đóng hết cửa sổ lại. Đây là con đường không có xe điện đi ngang qua và hiếm khi thấy có chiếc xe hơi nào. Giữa sự lặng yên nơi tôi và sự lặng yên nơi đoá hồng, có một niềm khát khao sở hữu nó – một thứ chỉ thuộc về tôi mà thôi. Tôi muốn mình có thể tóm lấy nó. Tôi muốn ngửi nó cho đến khi ngất đi, cho đến khi mắt mờ đi bởi choáng ngợp trước mùi hương này.  Continue reading

Clarice Lispector – Câu chuyện thứ năm

 

Clarice Lispector

Câu chuyện thứ năm

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Eloah F. Giacomelli

Câu chuyện này có lẽ có nhan đề là “Những bức tượng”. Một nhan đề khả dĩ khác có lẽ là “Chuyện giết chóc”. Hay thậm chí là “Cách giết bọn gián”. Do đó tôi sẽ kể ít nhất là ba câu chuyện, toàn bộ đều chân thật bởi vì các câu chuyện không bác bỏ lẫn nhau. Mặc dù chỉ có một câu chuyện duy nhất, nhưng chúng có thể là một ngàn lẻ một câu chuyện, nếu tôi có được một ngàn lẻ một đêm.

Câu chuyện đầu tiên, “Cách giết bọn gián”, bắt đầu thế này: Tôi than phiền về chuyện có gián. Có bà kia nghe được lời than phiền ấy. Bà ta đưa tôi công thức tiêu diệt chúng. Tôi phải trộn một hỗn hợp gồm đường, bột mì, và thạch cao với tỉ lệ bằng nhau. Bột mì và đường sẽ dụ chúng, còn thạch cao sẽ làm bộ đồ lòng của chúng khô cứng lại. Tôi làm theo chỉ dẫn. Chúng chết queo. Continue reading

João Guimarães Rosa – Bờ thứ ba của dòng sông

João Guimarães Rosa

Bờ thứ ba của dòng sông

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Barbara Shelby

Cha tôi là người có ý thức trách nhiệm, nề nếp và bộc trực. Và theo như lời mấy người đáng tin cậy mà tôi dò hỏi được, thì ông có những phẩm chất này từ hồi mới lớn hoặc ngay từ lúc bé thơ. Theo kí ức chính tôi, ông không vui nhộn hơn cũng chẳng sầu muộn hơn những người quen khác. Có lẽ có chút trầm lặng hơn. Chính mẹ tôi, chứ không phải cha, mới là người cai quản ngôi nhà. Bà la mắng chúng tôi hàng ngày – chị tôi, anh tôi, và tôi. Nhưng ngày nọ cha tôi bỗng đặt hàng một chiếc thuyền.

Ông rất nghiêm túc về con thuyền. Nó được làm đặc biệt dành cho ông, bằng gỗ cây trinh nữ. Nó đủ cứng cáp để trụ suốt hai mươi hay ba mươi năm và kích cỡ vùa đủ cho một người. Mẹ tôi càu nhàu vụ này dữ lắm. Phải chăng chồng bà bất thần sẽ đi đánh cá? Hay đi săn? Cha không nói gì hết. Nhà chúng tôi cách con sông chưa đầy một dặm, xung quanh đó thật bí ẩn, tĩnh mịch, và quá rộng đến mức chúng tôi không thể nhìn sang bờ bên kia.

Tôi không thể quên cái ngày người ta giao đến chiếc thuyền có mái chèo kia. Cha tôi không biểu lộ vui mừng hay cảm xúc nào khác. Ông chỉ đội nón như vẫn thường lệ và chào tạm biệt chúng tôi. Ông không mang theo thức ăn mà cũng chẳng gói ghém thứ gì. Chúng tôi tưởng mẹ sẽ chửi rủa om sòm, nhưng bà không nói gì. Bà trông nhợt nhạt và tự cắn môi mình, nhưng tất cả những gì bà nói là:

“Nếu ông đi, thì đi luôn đi. Đừng bao giờ quay về!”  Continue reading

Clarice Lispector – Con gà

Clarice Lispector

Con gà

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh

Đó là con gà mái cho buổi ăn trưa Chủ nhật. Vẫn còn sống, bởi vì lúc ấy mới chín giờ sáng thôi. Nó trông khá yên bình. Nó rúc mình vào góc bếp từ hôm thứ bảy. Nó không nhìn ai cả và không ai chú ý gì đến nó hết. Thậm chí khi họ chọn con gà này, cảm nhận sự thân quen nơi cơ thể nó bằng vẻ thờ ơ, họ không thể cho biết nó đầy đặn hay ốm. Không ai từng đoán được con gà cũng có cảm giác lo âu.

Do đó, thật ngạc nhiên khi họ thấy nó dang rộng đôi cánh ngắn ngủn nhiều lông của mình, phồng ngực lên, và sau hai ba lần cố gắng, nó bay lên bức tường ở sân sau. Nó vẫn còn chần chừ một thoáng – đủ thời gian để người đầu bếp la toáng lên – và ngay sau đó nó đã ở sân hiên nhà hàng xóm, rồi từ nơi đó, bằng một động tác bay vụng về khác, nó lên tới được mái nhà. Ở trên đó con gà, như một món trang trí, đậu tạm nghỉ với vẻ do dự lúc thì đứng bằng chân này, lúc thì chân kia. Gia đình nhà đó hối hả tụ lại và với vẻ sửng sốt họ thấy bữa trưa của mình bật lên trên nền ống khói. Ông chủ nhà, tự nhắc mình về hai chuyện cần phải làm là đôi lúc nên chơi thể thao và cho gia đình một bữa trưa, xuất hiện sặc sỡ khi đang mặc quần bơi và quyết đi theo lối do con gà kia vạch ra: bằng những cú nhảy thận trọng, ông lên được mái nhà nơi có con gà đang chần chừ và run run, rồi nó cấp tốc chọn con đường khác. Màn đuổi nhau giờ đây càng quyết liệt hơn. Từ mái nhà này sang mái nhà nọ, băng qua mấy khu nhà dọc theo con đường. Hầu như không quen với việc tranh đấu tàn bạo thế này để sống còn, con gà phải tự quyết định con đường mình phải theo mà không có sự trợ giúp nào từ đồng loại. Tuy nhiên, người đàn ông nọ lại là kẻ đi săn bẩm sinh. Và bất kể con mồi khốn đốn ra sao, tiếng hò reo chiến thắng sắp sửa diễn ra. Continue reading

Jorge Luis Borges – Cái chết khác

 

Jorge Luis Borges

Cái chết khác

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Andrew Hurley

Khoảng hai năm trước, tôi nghĩ vậy (tôi làm mất lá thư rồi), Gannon ở Gualeguaychú [1] viết thư cho tôi thông báo là anh sắp gửi tôi bản dịch, có lẽ là bản dịch đầu tiên sang tiếng Tây-ban-nha, bài thơ của Ralph Waldo Emerson “The Past”; trong phần tái bút, anh thêm vào cho biết Pedro Damián, còn bảo là anh biết tôi còn nhớ gã này, đã chết trước đó mấy đêm do sung huyết phổi. Anh ta bị cơn sốt hành hạ làm thân thể tiều tuỵ, Gannon bảo thế, và trong lúc mê sảng đã làm sống lại cái buổi kinh hoàng đẫm máu ấy ở Masoller [2]. Tin đó làm tôi có cảm giác không có gì bất thường và thậm chí còn thấy tẻ nhạt, bởi hồi lúc mười chín, hai mươi Pedro Damián đã đi theo mấy tấm biểu ngữ của Aparici Saravia [3]. Cuộc nổi dậy năm 1904 đã chộp được anh ở nông trại vùng Río Negro hay Paysandú [4] lúc anh làm việc ở đó. Damián đến từ vùng Entre Ríos, chính xác là Gualeguay [5], nhưng bạn anh đi tới đâu, anh đi theo tới đó – đầy nhiệt huyết và ngu ngốc y như đám bạn. Anh chiến đấu trong một hai trận đánh xáp lá cà cứ lâu lâu diễn ra một lần, và trong trận đánh cuối cùng nữa; được trả về nhà năm 1905, anh quay trở lại (với vẻ ngoan cố nhún nhường) làm việc trên những cánh đồng. Theo như tôi biết, anh không bao giờ rời vùng tỉnh lẻ đó thêm lần nào nữa. Anh sống ba mươi năm cuối đời ở một trang trại tương đối nhỏ bé và cô lập cách Ñancay [6]chừng tám hay mười cây số gì đó; nó là một chốn hoang lương nơi tôi từng nói chuyện với anh vào buổi chiều nọ hồi năm 1942 – hay nói đúng hơn là cố gắng nói chuyện với anh. Anh là một gã kiệm lời, ít học thức. Toàn bộ câu chuyện anh kể chỉ là âm thanh và cuồng nộ ở Masoller; tôi thấy không ngạc nhiên khi anh làm sống lại khoảng thời gian ấy trong lúc nằm chờ chết. … Tôi đã biết được là mình sẽ chẳng bao giờ gặp lại Damián, thế nên tôi cố nhớ anh ta; kí ức về hình ảnh của tôi tệ đến mức toàn bộ những gì tôi nhớ chỉ là bức ảnh Gannon đã chụp anh. Ngay cả bức ảnh cũng không thật sự nổi bật, nếu tính đến chuyện tôi đã gặp chính con người đó chỉ một lần duy nhất, hồi đầu năm 1942, nhưng đã thấy bức ảnh đó nhiều lần. Gannon gửi tôi bức hình; tôi làm mất nó, nhưng giờ thì tôi đã ngưng tìm nó. Tôi sợ tìm thấy nó.

Sự kiện thứ nhì diễn ra tại Montevideo, nhiều tháng sau đó. Cơn sốt và cái chết đau đớn tột cùng của người đàn ông đến từ Entre Ríos đã gợi cho tôi ý tưởng về một câu chuyện huyễn tưởng dựa trên thất bại tại Masoller; khi tôi kể cốt chuyện cho Emir Rodríguez Monegal, anh đưa tôi lá thư giới thiệu đến đại tá Dionisio Tabares, người chỉ huy chiến dịch đó. Vị đại tá đón tiếp tôi sau bữa tối. Ngồi trên chiếc ghế lắc lư dễ chịu ngoài sân, ông ta bồi hồi và bối rối nhớ lại những ngày xa xưa. Ông nói đến súng ống, đạn dược vốn chẳng bao giờ đến tay mình, nói đến mấy con ngựa kiệt sức, về những gã lấm len bùn đất, mơ ngủ dệt nên những mê lộ trong lúc hành quân, và nói đến Saravia, một người có thể tiến vào Montevideo nhưng lại đi băng qua luôn “bởi vì bọn cao-bồi thường có ác cảm với khu đô thị”, nói về mấy gã bị rạch cổ họng xuống tận xương sống [7], về một cuộc nội chiến khiến tôi bất thần chợt thấy đó như là giấc mơ của mấy kẻ ngoài vòng pháp luật hơn là cuộc đụng độ giữa hai đội quân. Ông nói về Illescas, Tupanbaé, Masoller [8], ông kể chuyện kèm theo những đoạn dừng thích hợp đến hoàn hảo, và rõ ràng đến mức tôi nhận ra ông đã kể mấy câu chuyện thế này nhiều lần trước đây rồi – thật sự, những gì tôi e sợ là đằng sau những câu chữ ấy, khó lòng còn sót lại bất kì kí ức nào. Khi ông dừng lại thở một chút, tôi rán đưa ra cái tên Damián. Continue reading

Jorge Luis Borges – Ragnarök

Những hình ảnh trong mơ, Coleridge viết, tạo ra những ấn tượng mà trí năng chúng ta có thể gọi là những căn nguyên; chúng ta không cảm thấy ghê rợn vì chúng ta bị ám bởi một điều bí hiểm, chúng ta mơ về một điều bí hiểm để giải nghĩa nỗi khiếp sợ mà mình cảm thấy. Nếu đó là sự thật, thì làm cách nào chỉ một bản biên niên những dạng thức ấy thôi lại có thể lan truyền trạng thái sững sờ, nỗi hân hoan, những nỗi sợ hãi, nỗi khiếp sợ, và niềm vui cùng nhau đan dệt thành giấc mơ đêm kia? Dù sao thì tôi cũng sẽ cố vượt qua bản biên niên ấy; có lẽ thực ra giấc mơ gồm chỉ một cảnh tượng có thể xoá bỏ hay làm dịu bớt sự trở ngại tất yếu.

Địa điểm là Học viện Triết học và Văn chương; thời gian, đêm xuống. Mọi thứ (như trường hợp thường thấy trong mơ) hơi khác một chút; sự vật bị phóng đại một chút. Chúng tôi đã chọn được những người có thẩm quyền; tôi có thể nói với Pedro Henríquez Ureña*, người sống cuộc đời tỉnh thức đã yên nghỉ từ nhiều năm trước. Bất chợt, chúng tôi điếng người bởi tiếng huyên náo rất lớn của những người biểu tình hay những nhạc sĩ đường phố. Từ Cõi âm, chúng tôi nghe thấy tiếng kêu gào của con người và thú vật. Một giọng gào lên: Họ tới rồi! và rồi: Các vị thần! các vị thần! Bốn hoặc năm cá thể ngoi lên khỏi đám đông và chiếm lấy bục thính phòng. Mọi người hoan nghênh, khóc lóc; đó là các vị thần, đang trở về sau một chuyến lưu đày nhiều thế kỉ. Lù lù một cách huyênh hoang khi đứng trên bục, đầu hếch ra sau và ngực ưỡn về trước, họ ngạo nghễ tiếp nhận sự cung kính của chúng tôi. Một vị trong số đó đang cầm một cành cây (không còn nghi ngờ gì nữa, nó thuộc về tính thực vật mộc mạc của giấc mơ); một vị khác, với một động tác quét, giơ ra một bàn tay là một bộ vuốt; một trong hai khuôn mặt của Janus đang hồ nghi chú mục cái mỏ cong cong của Thoth. Có lẽ do bị kích động bởi sự tán dương của chúng tôi, một vị trong số họ, tôi không còn nhớ là ai, đã oà lên trong niềm hân hoan, tiếng cạc cạc cay đắng nửa sùng sục nửa réo rít đến khó tin. Từ lúc đó trở đi, mọi thứ thay đổi.

Tất cả bắt đầu bằng sự nghi ngờ (có lẽ đã bị cường điệu hoá) rằng các vị thần không thể nói được. Nhiều thế kỉ sống trong hoang dã tháo chạy đã làm hao mòn phần con người họ từng có; trăng Islam và thập tự giá La-mã đã không thể làm xiêu lòng những kẻ chạy nạn này. Lông mày tua tủa, răng vàng khè, bộ râu lưa thưa của một người da màu hay một người Trung-hoa, và nọng xệ như loài quái thú, là những bằng chứng cho sự suy đồi của dòng dõi Olympia. Quần áo họ mặc không phải là trang phục của một người nghèo khó chân chất và tốt bụng, mà là của sự xa hoa vô đạo của những động cờ bạc và quán trọ tai tiếng ở Cõi âm. Một cây cẩm chướng rỉ nhựa từ một lỗ khuy áo; dưới lớp y phục bó sát có thể thấy rõ đường nét một lưỡi dao. Bất chợt, chúng tôi cảm thấy họ đang tung con át chủ bài ra, rằng bọn họ rất xảo quyệt, ngu tối, và hung tợn, như những dã thú già nua, và rằng nếu chúng tôi để bị lung lay vì run sợ hay thương xót, thì họ sẽ kết liễu chúng tôi.

Chúng tôi rút những khẩu súng lục nặng nề của mình ra (thình lình trong giấc mơ có súng lục) và đắc chí kết liễu các vị thần.

Chú thích của Andrew Hurley:
* Pedro Henríquez Ureña (1884-1946), chào đời tại Cộng hoà Dominica, sống nhiều năm ở Buenos Aires và là cộng tác viên từ rất sớm của tờ Sur, một tạp chí do Victoria Ocampo sáng lập và là nơi Jorge Luis Borges làm việc rất cần mẫn. Qua Henríquez Ureña, người từng sống một thời gian ở Mexico City, Jorge Luis Borges gặp gỡ một người bạn khác, nhà nhân văn người Mexico Alfonso Reyes. Henríquez Ureña và Jorge Luis Borges cùng cộng tác viết cuốn Antología de la literatura argentina (1937), họ là hai người bạn thân thiết.

2013.01.11
K.H. dịch

Nguồn:
Borges, Jorge Luis. “Ragnarök.” Jorge Luis Borges: Collected Fictions. Trans. Andrew Hurley. New York: Penguin, 1998.

Jorge Luis Borges – Aleph

(K.H. dịch từ bản Anh ngữ “The Aleph” của Norman Thomas di Giovanni)

Hỡi Thượng đế! Ta có thể bị giới hạn trong một cái vỏ hạt, mà vẫn coi mình như vì Vua của Khoảng không vô tận…
HAMLET, II, 2

Nhưng họ sẽ dạy ta rằng Vĩnh hằng là trạng thái Tĩnh tại của Hiện thời, một Nunc-stans (theo cách gọi của các Học trường); điều mà họ cũng như bất kì ai khác đều không hiểu, không hơn việc họ có thể là một Hic-stans cho cái Vô tận kì vĩ của Trú xứ.
LEVIATHAN, IV, 46

Buổi sáng tháng Hai đổ lửa Beatriz Viterbo qua đời sau khi vật lộn với cơn bi thống không một khắc khoan nhượng cho sự tự thương hại hay sợ hãi, tôi để ý thấy những tấm bảng trên vỉa hè quanh quảng trường Constitution đang quảng bá vài nhãn hiệu thuốc lá mới khác của Mĩ. Sự thật khiến tôi đau lòng, tôi nhận ra vũ trụ thênh thang và không ngừng rộng mở đã trôi tuột khỏi cô ấy, và sự thay đổi mong manh này là khởi đầu của một chuỗi vô tận. Vũ trụ có thể thay đổi nhưng mình thì không, tôi thầm nghĩ trong thoáng hư ảo ưu sầu. Tôi cảm nhận được điều đó mỗi khi lòng tận tuỵ vô ích của mình gây muộn phiền cho cô; giờ cô đã chết, tôi có thể dâng trọn cả bản thân mình cho kí ức về cô, tuy vô vọng nhưng cũng không bẽ bàng. Tôi còn nhớ ngày thứ ba mươi của tháng Tư là sinh nhật cô; hôm ấy việc ghé thăm nhà cô trên phố Garay và gửi lời thăm hỏi đến cha cô và Carlos Argentino Daneri, anh họ của cô, xem ra là một hành động không thể trách cứ và có lẽ cũng là điều không thể tránh khỏi của phép lịch sự. Một lần nữa tôi lại có thể được chờ đợi trong ánh sáng chập choạng của căn phòng nhỏ ngổn ngang những bản vẽ, một lần nữa tôi lại có thể chú tâm vào những chi tiết trong nhiều tấm ảnh của cô: Beatriz Viterbo sơ lược và trong đủ sắc thái; Beatriz đeo một chiếc mặt nạ, trong lễ hội Carnival năm 1921; Beatriz trong Giáo đoàn đầu tiên của mình; Beatriz trong ngày cưới của cô với Roberto Alessandri; Beatriz sau khi li hôn không lâu, trong một bữa tiệc trưa tại Turf Club; Beatriz tại một khu nghỉ dưỡng ven biển ở Quilmes cùng với Delia San Marco Porcel và Carlos Argentino; Beatriz với chú chó Bắc-kinh được Villegas Haedo tặng; Beatriz, nhìn thẳng và chếch ba phần tư, đang mỉm cười, một tay đặt lên cằm… Tôi có thể không bị buộc phải biện bạch cho sự hiện diện của mình như ngày xưa bằng việc khiêm tốn gửi tặng những cuốn sách – những cuốn sách với những trang mà rốt cuộc tôi đã tìm cách loại bỏ từ sớm, cũng như không hề phát hiện ra rằng, mấy tháng sau đó, chúng vẫn cứ chỏng chơ chưa từng được lật mở. Continue reading

Ernest Hemingway – Một nơi sạch sẽ, sáng choang

Ernest Hemingway

Một nơi sạch sẽ, sáng choang

Duy Đoàn chuyển ngữ

Trời về khuya và mọi người đã ra về, ngoại trừ ông già kia đang ngồi trong bóng râm dưới tán lá nổi lên dưới ánh đèn điện. Vào ban ngày thì con đường này đầy bụi bặm, nhưng tối đến thì sương đêm làm bụi lắng xuống, ông già đó thích ngồi đến khuya bởi vì ông bị điếc và lúc này vào buổi đêm trời tĩnh mịch, ông cảm nhận được sự khác biệt. Hai gã phục vụ trong quán biết ông già kia hơi say say rồi, và dù cho ông là vị khách đàng hoàng nhưng họ biết nếu say xỉn quá thì ông sẽ ra về mà không trả đồng nào, thế là họ cứ quan sát ông ta.

“Hồi tuần rồi ổng cố gắng tự tử nữa đó,” một gã nói.

“Sao vậy?”

“Ổng tuyệt vọng đó mà.”

“Về vụ gì”

“Không gì hết.”

“Làm sao cậu biết là không có gì?”

“Ổng có cả đống tiền mà.”

Họ ngồi cùng nhau ở chiếc bàn sát tường gần cửa ra vào và nhìn ra ngoài hàng hiên, chỗ đó bàn nào cũng trống chỉ trừ bàn của ông già kia trong bóng râm dưới tán lá nọ đang khẽ đu đưa theo gió. Ở ngoài đường có một cô gái và một anh lính đi ngang qua. Cô gái để đầu trần và đang đi hối hả bên cạnh anh lính.  Continue reading