Stephen A. Diamond – Tại sao Freud khinh thường âm nhạc

Tôi từng là một nhạc sỹ và người yêu âm nhạc. Không phải tôi yêu tất cả các loại nhạc. Tôi chưa bao giờ thích opera. Tôi cũng không quan tâm nhiều đến nhạc đồng quê. Tôi có thể thưởng thức nhạc cổ điển, đặc biệt là nhạc của Beethoven, Bach, Mozart và Vivaldi. Tôi cũng thích jazz và jazz-fusion, đánh giá cao tính phức tạp và tính tự do ngẫu hứng của nó, nhưng thành thực mà nói, tôi không nghe nhiều hai loại nhạc đó. Tôi lớn lên đã nghe, yêu thích và chơi nhạc pop và rock. Chuck Berry. Motown. Beach Boys. Beatles. Rolling Stones, Kinks, the Who và toàn bộ cuộc cách mạng âm nhạc tuyệt vời được biết đến như là “sự xâm lược Anh.”Hôm nay, với tư cách là một nhạc sỹ nghiệp dư và một nhà tâm lý học chuyên nghiệp, tôi đặt ra những câu hỏi sau: Điều gì ở âm nhạc làm nó trở thành một loại hình nghệ thuật phổ biến? Tại sao loài người chúng ta yêu nó? Và tại sao Freud xem thường nó?

Sigmund Freud, cha đẻ của phân tâm học và tâm lý trị liệu, không thích hầu hết các loại nhạc. Ngoại trừ một số vở opera nhạt nhẽo, ông không đánh giá cao âm nhạc như một hình thức nghệ thuật. Quả thật, ông tránh né gần như tất cả các loại nhạc giống như tránh dịch bệnh vậy. Một người có thể suy đoán rằng Freud mắc chứng sợ âm nhạc (music phobia). Herr Doktor Freud (1914) giải thích về sự kháng cự mạnh mẽ của ông với âm nhạc:

…Tôi không am hiểu về nghệ thuật, tôi chỉ là một thường dân…Tuy nhiên, những tác phẩm nghệ thuật có một tác động mạnh mẽ lên tôi, đặc biệt những tác phẩm văn chương và điêu khắc, còn hội họa thì ít hơn…Tôi dành nhiều thời gian cho chúng, cố gắng hiểu chúng theo cách của riêng tôi… trường hợp với âm nhạc, tôi hầu như không thể có được bất kỳ niềm vui nào. Một số phần lý trí trong tôi chống lại việc bị kích thích bởi một thứ mà không biết tại sao tôi bị tác động và cái gì đã tác động đến tôi.

Tại sao một người với một sự hiểu biết sâu sắc về hội họa, kiến trúc, điêu khắc, văn chương, thơ và những hình thức nghệ thuật truyền thống khác lại từ chối âm nhạc? Một lý do khả thi đó là Freud, người được biết là từng bị những triệu chứng thần kinh như những ám ảnh, xu hướng ép buộc, sợ chết, mắc chứng đau nửa đầu và những cơn ngất xỉu tâm lý, cũng có thể biểu lộ chứng sợ/ghét âm nhạc (melophobia). (Một số người còn suy đoán rằng Freud mắc một chứng rối loạn hiếm gặp là bệnh động kinh musicogenic epilepsy. Trong trường hợp đó, âm nhạc, dù được chơi hoặc nghe, gây ra một sự rối loạn chức năng thần kinh, gây ra những sự co giật từ nhẹ đến nghiêm trọng và một nỗi sợ mạnh mẽ có thể hiểu được và tránh né những loại nhạc nào đó.) Với những ám ảnh sợ khác (thí dụ, sợ rắn, nhện, sợ bay, sợ độ cao, thang máy…), melophobia bao gồm những phản ứng lo sợ trước một số kích thích cụ thể. Trong trường hợp của Freud, kích thích này là âm nhạc. Khi tiếp xúc với âm nhạc trong khi đang ở thị trấn ở Vienna hoặc Munich, phản ứng tự động của ông là ngay lập tức đặt hai tay lên tai để ngăn chặn âm thanh. Điều gì có thể gây ra một phản ứng tiêu cực như vậy?

Một lời giải thích khả thi cho melophobia là đôi khi âm nhạc – hoặc là tất cả các loại nhạc hoặc một số bản nhạc – có liên quan tiêu cực về mặt tâm lý với một sự kiện hoặc một khoảng thời gian sang chấn tâm lý trong quá khứ của một người. Một cách giải thích theo trường phái Freud gần như chắc chắn sẽ kết luận rằng âm nhạc kích thích mọt số ký ức hoặc nội dung cảm xúc phức tạp thuộc vô thức bị kìm nén, mà người đó cảm thấy bị thôi thúc phải tránh ý thức về nó bằng mọi giá. Nhưng hãy tiến thêm một bước nữa: Điều gì xảy ra nếu sự không thích và né tránh hoặc thậm chí căm ghét âm nhạc của một người bắt nguồn từ một nỗi sợ bản thân cái vô thức? Hoặc sợ “điều phi lý”? Continue reading

Advertisements

Sisyphus tự vẫn

Sisyphus tự vẫn

                                             Chỉ có một vấn đề triết học thật sự nghiêm túc: đó là sự tự sát.

Albert Camus

Tự cổ chí kim, tự sát luôn là lựa chọn khó khăn nhất đối với một con người, nó đòi hỏi một sự dũng cảm phi thường cho dù đó là dũng cảm chấm dứt sự hiện tồn của bản thân. Dưới con mắt của các nhà tâm lý học, sức ép từ bên ngoài xã hội và từ nội giới cá nhân là nguyên nhân cốt yếu đưa người ta đến tình trạng chán ngán cuộc sống và tìm hướng giải quyết bằng việc tự kết liễu đời mình. Trong tiểu luận “Huyền thoại Sisyphus”, Albert Camus đã khái quát lên thân phận con người thông qua hình tượng người hùng nổi loạn trong thần thoại Hy Lạp Sisyphus.  Sisyphus chống đối Zeus cho nên phải chịu đựng hình phạt là lăn đá từ chân đồi đến đỉnh đồi,thả cho đá lăn xuống rồi lại tiếp tục lăn lên,cứ thế công việc tiếp diễn cho đến bất tận và không biết đến khi nào Sisyphus mới có thể thoát khỏi hình phạt khủng khiếp đó của Zeus..?  Camus xem Sisyphus là anh hùng vì hắn đã dám tiếp tục sống bất chấp khổ hình miên viễn cũng như sự nhàm chán cực độ của công việc hắn đang làm hay chính xác hơn là cái cuộc sống hắn đã mang vác như cây thập từ khi mới lọt lòng mẹ; Sisyphus không thiết tha gì với cuộc sống nhưng hắn, như một điều tất yếu, hiểu rằng việc từ bỏ tất cả những gì hắn đang sở hữu kể cả tính mạng của hắn, sẽ không mang lại điều gì có ý nghĩa. Tự sát nghĩa là đi về phía hư vô.

Continue reading

Chủ nghĩa siêu thực & nhiếp ảnh (Heilbrunn Timeline of Art History)


Chủ nghĩa siêu thực (James Voorhies – Department of European Paintings, The Metropolitan Museum of Art)

Duy Đoàn chuyển ngữ

Chủ nghĩa Siêu thực khởi nguồn vào cuối thập niên 1910 và đầu thập niên 1920 như là một phong trào văn nghệ nhằm thử nghiệm cách thức trình hiện mới mẻ mà người ta gọi là lối viết tự động, hay còn gọi là chủ nghĩa tự động (automatism), đây là cách thức tìm cách giải phóng trí tưởng tượng cực độ nằm trong tiềm thức. Trường phái siêu thực chính thức ra mắt năm 1924 ở Paris khi nhà thơ, và cũng là nhà phê bình André Breton (1896-1966) cho ra đời bài Manifesto of Surrealism (Tuyên ngôn Siêu thực), khi đó chủ nghĩa Siêu thực trở thành một phong trào trí thức và chính trị quốc tế. Breton, một nhà tâm thần học chính qui, cùng với những nhà thơ Pháp như Louis Aragon (1897-1982), Paul Éluard (1895-1952), và Philippe Soupault (1897-1990), hết thảy đều bị ảnh hưởng bởi lí thuyết tâm lí học và nghiên cứu giấc mơ của Sigmund Freud (1856-1939) và những ý tưởng chính trị của Karl Marx (1818-1883). Bằng cách dùng phương pháp tự do liên tưởng của Freud, thơ và tản văn của họ vận dụng lấy cái thế giới tâm thức cá nhân mỗi người, là thứ xưa nay vốn bị kiềm hãm bởi lí tính và những hạn định xã hội, nhằm tạo ra những hình ảnh đáng kinh ngạc không ai ngờ tới. Những nguyên lí giàu trí tuệ và mang tính phi lí của chủ nghĩa Siêu thực khám phá ra ở tổ tiên của chúng tính chất coi thường truyền thống một cách khôn khéo và kì dị, là tính chất vốn được chủ nghĩa Dada cổ vũ trước đó một thập kỉ. Continue reading