J. E. Cirlot – Tiên nữ

Một hình tượng thường mang một trong hai dạng: như một nữ nhân điểu hay như một nữ nhân ngư. Những tiên nữ trong thần thoại Hi-lạp được coi là con gái của dòng sông Achelous và nữ thần Calliope; và Ceres biến họ thành chim. Chúng sống ở những vùng núi. Truyền thuyết quy cho chúng một tiếng hát ngọt ngào đến nỗi chúng có thể cám dỗ kẻ du hành, chỉ để nuốt sống y. Về sau, thần thoại làm hồi sinh những tiên nữ với đuôi cá có sào huyệt là những đảo đá và những vách đá và là những kẻ cũng hành xử giống những gì chị em chúng đã thực hiện với Nguyên tố khí. Thần thoại tiên nữ là một trong những thần thoại bền vững nhất trong mọi thần thoại; giữa vài người đi biển nó thậm chí còn dai dẳng đến tận ngày nay (8). Tài liệu có liên quan đến các tiên nữ này được tìm thấy trong tác phẩm của Aristotle, Pliny, Ovid, Hyginus, trong Physiologus (thế kỉ 2) và những sách ngụ ngôn về loài vật thời trung cổ. Continue reading

Advertisements

J. E. Cirlot – Nhân sư

Một hữu thể thần thoại bao gồm vài phần của con người và bốn phần của nhiều loài thú khác nhau. Nhân sư ở Thebes có đầu và ngực của một phụ nữ, thân mình của một con bò hoặc chó, các móng vuốt của một con sư tử, đuôi của một con rồng và đôi cánh của một con chim (8). Là hiện thân tối cao của điều bí ẩn, nhân sư bền bỉ canh gác một ý nghĩa tối hậu cần được giữ nguyên trạng mãi mãi vượt qua sự hiểu biết của con người. Jung nhìn thấy trong nó một sự tổng hợp của ‘Mẹ Khủng khiếp [Terrible Mother]’, một biểu tượng cũng đã ghi dấu trong thần thoại (31). Continue reading

J. E. Cirlot – Nhân ngưu

Một quái vật thần thoại nửa thân dưới là người và nửa thân trên là bò. Mê cung ở Crete đã được xây để khống chế con nhân ngưu. Quái vật này ăn thịt, và những người Athens bại trận bị bắt buộc cứ bảy năm một lần phải tiến cống bảy đồng nam và bảy trinh nữ cho nó ăn thịt. Cống lễ này đã được dâng nộp ba lần, nhưng vào dịp thứ tư Theseus đã tiêu trừ con nhân ngưu với sự trợ giúp của Ariadne và sợi chỉ thần kì của nàng (8). Mỗi thần thoại và truyền thuyết ám chỉ đến những cống lễ, những quái vật hay những anh hùng chiến thắng đều minh hoạ một hoàn cảnh vũ trụ (gồm cả những ý tưởng của thuyết Ngộ-đạo về đấng sáng tạo độc ác và về sự cứu thế), một ẩn ý xã hội (ví dụ, về một tình trạng bị áp bức bởi một bạo chúa, hay một tai hoạ, hay bởi một lực chống đối nào đó khác) và một tạo nghĩa tâm lí gắn liền với tập thể hay cá thể (ngụ ý ưu thế của con quái vật trong con người, và cống lễ và sự hiến tế mặt tốt đẹp của y: những ý tưởng, những tình cảm và những xúc cảm của y). Continue reading

J. E. Cirlot – Con người

Con người coi chính mình như một biểu tượng trong chừng mực y ý thức về sự hiện hữu của y. Nghệ thuật Hallstatt, ở Áo, cho thấy những ví dụ tinh tế về những cái đầu loài vật với hình dáng con người hiện ra phía trên. Ở Ấn-độ, ở New Guinea, cũng như ở phương Tây, đầu bò đực hay đầu bò đực thiến với một hình thể con người được vẽ giữa các sừng là một mẫu hình rất thông thường. Vì bò đực là một biểu tượng cho cha-trời, nên con người từ đó được coi như con trai của cả ngài và trần thế (22), cũng như một khả thể thứ ba, con trai của mặt trời và mặt trăng (49). Những ngụ ý trong các bình luận của Origen: ‘Hãy hiểu rằng bạn là một thế giới khác trong bức hoạ vi tế và rằng trong bạn là mặt trời, mặt trăng và luôn cả những vì sao’, được tìm thấy trong tất cả những truyền thống biểu tượng. Trong tư tưởng bí truyền của người Moslem, con người là biểu tượng của sự tồn tại phổ quát (29), một ý tưởng đã tìm được cách đi vào triết học đương thời trong sự định nghĩa về con người như ‘sứ giả của hiện hữu’; tuy nhiên, trong lí thuyết biểu tượng, con người không được định nghĩa chỉ bởi chức năng (vốn dành riêng cho ý thức của vũ trụ), mà đúng hơn bởi sự tương đồng, do đó y được coi là một hình ảnh của vũ trụ. Continue reading

J. E. Cirlot – Tính biểu tượng của Janus

J. E. Cirlot

Tính biểu tượng của Janus

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Jack Sage

Janus là một vị thần La-mã với hình tượng hai gương mặt được nối với nhau dọc theo đường thẳng từ tai đến hàm, và hai gương mặt này nhìn về hai hướng đối nghịch nhau. Như tất thảy các biểu tượng khác đồng thời hướng về bên phải và bên trái, thì Janus là biểu tượng của cái toàn thể – của lòng ham muốn làm chủ vạn vật. Bởi có tính nhị nguyên, nên nó có thể được xem như biểu đạt cho tất cả mọi cặp đối lập – tức là, tương đương với thần thoại Song-tử (Gemini). Dường như về mặt căn bản thì người La-mã liên hệ Janus với số mệnh, thời gian và chiến tranh. Hai gương mặt xoay về phía quá khứ và tương lai, biểu thị sự nhận thức về lịch sử và sự tiên tri (chim ưng hai đầu cũng có sự tạo nghĩa tương tự). Nhưng theo như Guénon đã có lí khi chỉ ra rằng thực tế hai đầu là trở ngại đối với sự hiểu biết về vận mệnh đích thực, vốn nằm trong ‘hiện tại vĩnh hằng’ (25). Điều này cắt nghĩa tại sao nhiều người (chẳng hạn những người ở vùng Bắc Âu) đã sáng chế ra những biểu tượng tương tự nhưng với ba đầu được sắp theo dạng tam giác xoay vòng, theo kiểu mẫu của Janus, nhưng với cái đầu thứ ba hướng về phía trước. Thần Hekate tam hình thức cũng được biểu tượng theo cách này (59). Janus còn biểu trưng cho sự hợp nhất giữa những quyền năng của linh mục và quốc vương (28). Marius Schneider đề xuất rằng Janus cũng có thể được đồng nhất với vùng đồi núi Mars có hai đỉnh và, hệ quả là, với toàn bộ biểu tượng về sự Nghịch đảo và hi sinh lẫn nhau. Continue reading

Biểu tượng của cái giếng

Trong biểu tượng của Cơ Đốc giáo, giếng thuộc về nhóm ý tưởng có liên hệ với ý niệm đời người ví như một chuyến hành hương và biểu thị cho sự cứu rỗi linh hồn (4). Giếng chứa nước sạch và tinh khiết là biểu tượng của khát vọng tối thượng hoặc của “Sợi dây bạc” nối kết con người với vai trò Trung tâm. Nữ thần  Demeter và các vị thần khác được thể hiện  đứng bên cạnh một cái giếng (15).Nhưng biểu tượng này không chỉ được tìm thấy trong nền văn hóa cổ đại cấp cao hơn mà còn trong thời kỳ nguyên thủy. Schneider chú thích rằng trong những nghi lễ chữa bệnh của con người ở mức độ duy linh thì trung tâm của  bối cảnh  diễn ra gần một cái hồ hoặc một cái giếng nơi mà người bệnh rửa tay, ngực và đầu bằng nước ở đó.Cạnh rìa bờ nước, sậy sinh trưởng và người ta tìm thấy cả vỏ  sò và cả hai thứ đều là biểu tượng cho nguồn nước cứu rỗi (51).Cụ thể thì hành động kéo nước từ giếng lên -giống như việc câu cá- là biểu tượng của việc thu rút những điều bí ẩn của đại dương (31).Nhìn kỹ  nước trong hồ hoặc giếng tương tự như thái độ thần bí của sự trầm tư mặc tưởng. Cuối cùng giếng cũng là biểu tượng của linh hồn và thuộc tính giống cái (32).

Trịnh Ngọc Thìn dịch

Bình Phước 28/3/2013

Chú thích của tác giả:

(4)  BAYLEY, HAROLD. The Lost Language of Symbolism. London, 1912 (repr. 1951).

(15)  DIEL, Pail. Le Symbolisme dans la mythologie grecque. Paris, 1952.

(51)  La danza de espadas y la tarantela. Barcelona, 1948.

(31)  JUNG, C. G. Symbols of Transformation (Collected Works, 5). London, 1956.

(32)  Psychology and Alchemy (Collected Works, 12). London, 1953.

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Well” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Hoa hồng

Một đoá hồng đơn lẻ, về bản chất, là một biểu tượng của sự hoàn thiện, của thành tựu hoàn bị và sự hoàn hảo. Do vậy, đổ dồn về nó các ý niệm kết hợp những đặc tính: Trung tâm thần bí, trái tim (14), khu vườn của Eros, thiên đàng của Dante (4), người thương (31), biểu tượng của Venus (8) và cứ thế. Những ý nghĩa biểu trưng chính xác hơn bắt nguồn từ màu sắc và số cánh hoa của nó. Sự liên quan của đoá hồng trắng và đoá hồng đỏ phù hợp với mối quan hệ giữa hai màu như đã được xác định trong thuật luyện đan. Hoa hồng xanh là biểu tượng của sự bất khả. Hoa hồng vàng là biểu tượng của thành tựu trọn vẹn. Khi mang hình dạng tròn, đoá hồng tương đương về mặt ý nghĩa với mạn-đà-la. Hoa hồng bảy cánh ám chỉ bộ bảy (đó là, bảy Chiều Không gian, bảy ngày trong tuần, bảy hành tinh, bảy cấp độ của sự hoàn hảo). Nó xuất hiện với nghĩa này trong biểu tượng DCCXXIII trong Ars Symbolica của Bosch và trong Summum Bonum của Robert Fludd (32). Hoa hồng tám cánh tượng trưng cho sự phục hồi (46).

K.H. dịch
2013.03.19

Nguyên chú của tác giả:
(14) DAVY, M.-M. Essai sur la Symbolique Romane. Paris, 1955
(4) BAYLEY, HAROLD. The Lost Language of Symbolism. London, 1912  (repr. 1951)
(31) JUNG, C. G. Symbols of Transformation (Collected Works, 5). London, 1956
(8) B. G. P. Diccionario universal de la mitología. Barcelona, 1835
(32) JUNG, C. G. Psychology and Alchemy (Collected Works, 12). London, 1953
(46) PINEDO, Ramiro de. El Simbolismo en la escultura medieval española. Madrid, 1930

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Rose” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Hổ

Hai cách diễn giải về loài hổ được đưa ra dễ dàng hoà hợp nhau: ‘Nó gắn liền với Dionysos, và là biểu tượng của sự thịnh nộ và tàn bạo’ (8); ‘Ở Trung-hoa, nó là biểu tượng của bóng tối và của trăng non’ (17). Bóng tối luôn được đồng nhất với sự bí ẩn của tâm hồn, tương đương với trạng thái mà thuật ngữ Hindu gọi là tamas và thuộc về biểu tượng tính chung của thứ bậc, đồng thời bao hàm sự biểu hiện không bị kiềm toả các sức mạnh nền tảng của bản năng. Ngày nay tại Trung-hoa, hổ dường như đóng vai trò ngang bằng với sư tử trong những nền văn hoá ở châu Phi và phương Tây: cả hai con vật – giống như rồng – đều đảm nhận hai đặc tính khác nhau – như loài thú hoang dã và như loài thú đã được thuần hoá. Đây là những gì ẩn sau hình tượng loài hổ như một biểu hiện phúng dụ của sức mạnh và sự bạo gan trong việc phụng sự cho công bình. Năm con hổ thần thoại cùng tạo thành một biểu tượng vây quanh những ý nghĩa tương đồng với các bộ tứ biểu tượng (tetramorphs) trong truyền thống Ki-tô giáo, trong chừng mực chúng là những hộ vệ của một trật tự không gian chống lại những thế lực của hỗn mang. Hổ Đỏ ngự trị phương nam, mùa của nó là mùa hạ và Nguyên tố của nó là lửa; Hổ Đen ngự trị phương bắc – mùa đông là mùa của nó, Nguyên tố của nó là nước; Hổ Xanh ngự trị phương đông, vào mùa xuân giữa muôn loài thực vật; Hổ Trắng ngự trị phương tây, vào mùa thu giữa các vỉa kim loại; và, cuối cùng, Hổ Vàng (có màu ánh dương) sống trên trái đất và thống ngự tất cả những con hổ khác. Hổ Vàng ngự tại ‘Trung tâm’, như vị Hoàng đế ngự tại trung tâm của Trung-hoa và Trung-hoa nằm ở trung tâm thế giới (13). Sự phân chia làm tư này cộng với trung tâm là Yếu tố thứ năm, như Jung đã chỉ ra, chính là giá trị nguyên mẫu cổ trong biểu tượng tính của vị thế. Khi hổ xuất hiện cùng các loài vật khác, ý nghĩa biểu tượng của nó thay đổi tuỳ theo vị thế của các loài vật trong hệ thứ bậc: ví dụ, cuộc chiến của hổ với một con vật thuộc loài bò sát biểu trưng cho nguyên tắc cấp cao, nhưng sẽ là ngược lại nếu nó lâm vào cuộc chiến với một con sư tử hoặc một sinh vật có cánh.

K.H. dịch
2013.03.18

Nguyên chú của tác giả:
(8) B. G. P. Diccionario universal de la mitología. Barcelona, 1835
(17) ELIADE, Mircea. Tratado de historia de las religiones. Madrid, 1954
(13) CHOCHOD, Louis. Occultisme et magie en Extrême-Orient. Paris, 1945

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Tiger” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

J. E. Cirlot – Xăm

Xăm trổ và tô điểm có thể coi như thuộc về cùng một nhóm biểu tượng, cả hai đều là những biểu hiện của hoạt tính vũ trụ. Nhưng khi hình xăm được xăm lên cơ thể thì những ý nghĩa quan trọng khác đổ dồn về nó – sự cúng tế, bí thuật và ma thuật. E. Gobert, trong Notes sur les tatouages des indigènes Tunisiens, cho rằng việc xăm mình gắn liền với câu cách ngôn Ả-rập ‘máu đổ, nguy hiểm qua đi’. Vì sự cúng tế có năng lực tích trữ những nguồn năng lượng tiềm ẩn để có thể dùng đến sau này, nên mỗi hành động cúng tế có xu hướng đảo ngược trạng huống trước đó. Có một chủ định thần bí nằm ở căn nguyên dấu vết hoặc dấu hiệu của căn cước: một người chuyên tâm tìm cách bày tỏ lòng thành tín của mình với điều đã được biểu thị bởi dấu vết đó. (Dấu hiệu mà những người yêu nhau khắc trên thân cây, những kí hiệu và vết xăm hình tim trên da thịt, là những minh hoạ rõ rệt cho điều này). Ở cách hiểu sau cùng, sự thành tín bị đảo ngược: dấu vết được trông đợi sẽ ‘đáp lại’ hành động cúng tế và phụng sự lên phần thân thể kẻ đã để lại dấu vết ấy trên mình; và hình xăm lúc này có đặc tính như một tấm bùa bảo vệ. Ngoài ba ý nghĩa trên, các nhà dân tộc học còn lưu ý thêm hai ý nghĩa khác: hình xăm có thể được dùng như một dấu hiệu để xác định giới tính, tộc người và địa vị xã hội (theo Cultural Anthropology của Robert Lowie), trong trường hợp nó đơn giản là một cách châm chích của phái biểu tượng thần bí; và, hình xăm như một sự tô điểm riêng tư. Ý sau dường như đã bị rút gọn quá nhiều, nhưng chúng ta không thể thâm nhập vấn đề này tại đây. Trong trường hợp đặc biệt, xăm mình là một ‘nghi thức gia nhập’ hoặc kết nạp ám chỉ những điểm ngoặt trong quãng đời và diễn trình phát triển nhân cách một cá nhân. Cola chỉ ra rằng một số trong hầu hết những lăng mộ cổ thời tiền sử, đặc biệt ở Ai-cập, cho thấy nghệ thuật xăm mình đã được thực hiện từ những thời xa xưa, biểu lộ bằng ba đường vạch ở bụng dưới vị nữ tư tế của nữ thần Hathor. Ông cũng liệt kê những kĩ thuật chủ yếu của xăm mình: rạch, khâu, gây thương tích bằng cách cắt hoặc đốt, và xăm giả hay vẽ lên mặt hoặc thân thể (trong trường hợp những hoạ tiết giống nhau dù hiệu quả chỉ là tạm thời). Trong những tộc người nguyên thuỷ, những dạng hình xăm chủ yếu gồm: sọc vằn, lấm chấm, sự kết hợp cả hai loại, hoặc nhiều cách thể hiện thông qua cả hai loại, xâu chuỗi, nút thắt hình hoa hồng, hình thập tự, hình ngôi sao, hình tam giác, hình thoi, hình tròn, sự kết hợp của hai hoặc nhiều hơn các hoạ tiết trên, và đồng thời các hoạ tiết hình người được cách điệu hoàn toàn hoặc từng phần (chỉ với chân tay), v.v.. Cola còn lưu ý thêm rằng hình xăm từng được sử dụng trong ma thuật phỏng tạo. Ví dụ, hình xăm bọ cạp được cho là có quyền năng ngăn ngừa những cú chích thực sự của loài bọ cạp; và hình ảnh bò đực là một sự bảo đảm con đàn cháu đống (12).

K.H. dịch
2013.03.18

Nguyên chú của tác giả:
(12) COLA, J. Tatuajes y amuletos marroquíes. Madrid, 1949.

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Tattooing” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971.

Tính biểu tượng của hoa bướm – J. E. Cirlot

Tại Hà Lan, loài hoa này được gọi một cách chính xác là “sự suy tư” bởi vì người ta cho rằng điều mà nó biểu tượng được thể hiện bởi kết cấu hoa năm cạnh rõ ràng : số 5 biểu tượng cho con người (48).

Trịnh Ngọc Thìn dịch

Chú thích của tác giả:

PIOBB, P. V. Clef universelle des sciences secrètes. Paris, 1950 (48).

Nguồn:

Cirlot, J. E. “Pansy” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971