Anne Applebaum – Hiểu về Stalin

 

Anne Applebaum

Hiểu về Stalin

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Làm thế nào Stalin lại trở thành Stalin? Hay nói đúng hơn: Làm thế nào mà Iosif Vissarionovič Džugašvili – cháu trai của những người nông nô, con trai của một nữ thợ giặt và một người thợ giày ít học – lại trở thành Tổng tư lệnh Stalin, một trong những kẻ sát nhân hàng loạt tàn bạo nhất mà thế giới từng biết? Làm thế nào mà một cậu bé sinh ra tại một thị trấn nơi vùng đồi hẻo lánh xứ Georgia lại trở thành một kẻ độc tài kiểm soát cả nửa châu Âu? Làm thế nào mà một chàng trai sùng đạo vốn chọn con đường theo học thành linh mục lại lớn lên trở thành một kẻ vô thần đầy nhiệt huyết cũng như một kẻ theo ý hệ Marx.

Chịu ảnh hưởng từ Freud, nhiều tiểu sử gia tham vọng – chưa nói đến các tâm lí gia, các triết gia và các sử gia – đều đi tìm câu trả lời ở thời thơ ấu của chủ thể mà họ đề cập. Cũng như sự cuồng tín của Hitler được “giải thích” bằng quá trình trưởng thành, bằng đời sống tình dục, hoặc bằng chuyện ông ta được cho là chỉ có một tinh hoàn, thì sự hung ác kiểu tâm lí biến thái của Stalin được quy cho người cha, mà theo chính lời Stalin, là người “đánh đập ông không thương tiếc”, hoặc quy cho người mẹ, một người có lẽ từng ngoại tình với một linh mục địa phương. Những lí giải khác đều đưa ra vụ tai nạn khiến Stalin có một cánh tay teo lại, vụ nhiễm trùng đậu mùa làm mặt ông ta đầy sẹo, hoặc vụ khiếm khuyết bẩm sinh làm dính hai ngón chân lại mang đến cho ông ta bàn chân trái có màng – một dấu hiệu của quỷ.

Chính trị cũng ảnh hưởng đến các tiểu sử gia về Stalin. Trong suốt thuở sinh thời, những kẻ đồng cảm biến ông ta thành một siêu anh hùng, nhưng những kẻ đối địch cũng áp đặt thiên kiến của mình. Vốn là kẻ thù ghê gớm nhất của Stalin, Leon Trotsky là người diễn giải Stalin có sức ảnh hưởng cực kì to lớn ở thế kỉ 20, định hình nên cách nhìn của một thế hệ sử gia, từ Issac Deutscher trở về sau. Stalin của Trotsky là một kẻ thiếu cơ trí và không có tính sảng khoái, một kẻ thất học và tỉnh lẻ đạt được quyền lực nhờ thao túng bộ máy quan liêu và nhờ bạo lực tàn khốc. Trên hết, Stalin của Trotsky là một kẻ xoay chiều ban đầu đã phản bội Lenin và sau đó phản bội sự nghiệp theo chủ nghĩa Marx. Bức chân dung như thế nhằm phục vụ một mục đích, chính là truyền cảm hứng để những kẻ theo Trotsky duy trì sự trung thành đối với cuộc cách mạng Xô-viết “đáng lẽ đã xảy ra” – nếu như trước đó người lên nắm quyền là Trotsky chứ không phải là một Stalin buồn thảm, dè dặt và yếm thế. Continue reading

Advertisements

Graham Allison – Làm thế nào một cuộc thế chiến nữa có thể xảy ra?

 

Graham Allison

Làm thế nào một cuộc thế chiến nữa có thể xảy ra?

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Đánh giá những tương đồng và những khác biệt giữa năm 1914 và 2014.

Tháng [Bảy] này vào một thế kỉ trước, châu Âu đứng trước nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tàn khốc khiến cho các sử gia phải tạo ra một hạng mục mới: “Thế chiến”. Không nhà lãnh đạo nào ở thời điểm đó có thể hình dung vùng đất hoang tàn mà họ sẽ sống tại đó bốn năm sau. Tới năm 1918, mỗi nhà lãnh đạo đều đã mất đi thứ họ yêu dấu nhất: kaiser (hoàng đế Đức) bị truất bỏ, Đế chế Áo-Hung bị giải thể, tsar (Nga hoàng) bị giới Bolshevik lật đổ, nước Pháp chịu khổ cả một thế hệ, và nước Anh bị tước đi thời thanh xuân và của cải của mình. Một thiên niên kỉ làm chủ địa cầu của các nhà lãnh đạo Âu châu đã khựng lại lúc đó.

Điều gì gây nên tai ương này? Tổng thống John F. Kennedy thích châm chọc các vị đồng sự của mình bằng câu hỏi ấy. Khi đó ông ta sẽ nhắc cho họ nhớ câu trả lời ưa thích của mình, trích lại lời Thủ tướng Đức Theobald von Bethmann Hollweg:  “À, giá như chúng ta biết được.” Lúc xảy ra Cuộc khủng hoảng Tên lửa Cuba năm 1962, Kennedy tự thấy mình “mặt đối mặt” với nhà lãnh đạo Soviet Nikita Khrushchev, và đưa ra những quyết định mà ông biết có thể làm cả trăm triệu người chết ngay, khi đó ông chiêm nghiệm về những bài học năm 1914. Ở vài thời điểm quyết định, ông điều chỉnh những điều ông có khuynh hướng sẽ thực hiện để nỗ lực tránh lặp lại những sai lầm đó của các nhà lãnh đạo.

Khi họ chọn cách đáp ứng những cam kết, hay không, điều động quân đội trong sớm muộn, những kẻ tham gia vào Thế chiến thứ nhất đồng loạt tìm cách định hình khung nhận thức của công chúng về cuộc khủng hoảng này. Mỗi bên tìm cách trách cứ kẻ thù của mình. Sau cuộc thảm hoạ đó, những kẻ chiến thắng tự cho mình cái quyền đáng kể với các dữ kiện nhằm biện minh cho việc trừng phạt kẻ chiến bại. Hiệp ước Versailles áp đặt những hình phạt hà khắc đến mức tạo điều kiện nổ ra Thế chiến thứ nhì chỉ hai thập niên sau đó. Cũng dễ hiểu khi màn kịch lớn này đã định hình những giải thích của sử gia về các nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến. Nhưng như kết luận thẳng thừng từ cuốn sách xuất sắc nhất trong những cuốn sách mới về cuộc xung đột này, cuốn The Sleepwalkers, thì ta có thể tập hợp những bằng chứng có được nhằm ủng hộ cho một loạt những khẳng định gây thách thức. “Việc bùng nổ cuộc chiến năm 1914 không phải là một kịch bản kiểu Agatha Christie mà kết cuộc ta sẽ khám phá ra kẻ phạm tội đứng trên một xác chết nào đó trong phòng bảo quản với khẩu súng lục bốc khói,” Clark viết như thế. “Trong câu chuyện này không có khẩu súng bốc khói nào cả; hoặc, thay vào đó, là có một khẩu nằm trong tay của mọi nhân vật chính.” Continue reading

Hope Reese – Tại sao học triết? ‘Để thách thức quan điểm của bạn’

 

Hope Reese

Tại sao học triết? ‘Để thách thức quan điểm của bạn’

Phỏng vấn Rebecca Newberger Goldstein, tác giả cuốn Plato at the Googleplex: Why Philosophy Won’t Go Away

Duy Đoàn chuyển ngữ

Vào thời điểm mà những tiến bộ trong khoa học và công nghệ đã làm thay đổi nhận thức của chúng ta về bản thân con người mình xét về mặt tinh thần lẫn thế chất, thì thật dễ dàng gạt bỏ lĩnh vực triết học và cho nó là thứ quá xưa cũ. Stephen Hawking còn cả tiếng bảo rằng triết học đã chết.

Nhưng Rebecca Newberger Goldstein không cho là vậy. Goldstein, một triết gia và tiểu thuyết gia, học triết học tại trường Barnard và sau đó lấy bằng Ph.D về triết ở trường Princeton University. Bà đã viết nhiều cuốn sách, đoạt được giải MacArthur “Genius Award” vào năm 1996, và đi dạy ở nhiều trường đại học, trong đó có Barnard, Columbia, Rutgers, và Brandeis.

Cuốn sách mới vừa ra mắt của bà, Plato at the Googleplex: Why Philosophy Won’t Go Away, cung cấp cho người đọc cái nhìn sâu vào bên trong tiến trình đầy ý nghĩa – và thường vô hình – mà triết học đã tạo nên. Tôi nói chuyện với Goldstein về ý kiến của bà trong cuộc tranh luận khoa học với triết học, làm thế nào chúng ta có thể đo lường được những tiến bộ của triết học, và tại sao sự hiểu biết về triết học vẫn là điều quan trọng đối với cuộc sống chúng ta ngày nay.

Hồi còn nhỏ, bà đã bắt gặp cuốn The Story of Philosophy của Will Durant. Thế những suy nghĩ ban đầu khi đó của bà là gì?

Tôi lớn lên ở một hộ gia đình Do-thái giáo Chính thống (Orthodox Jewish) rất sùng đạo và dường như mọi người đều có quan điểm vững chắc về hết thảy những loại vấn đề lớn lao. Tôi hứng thú với chuyện làm thế nào họ biết những điều mà dường như họ có biết, hoặc họ khẳng định có biết. Đó là cái mà giờ tôi gọi là vấn đề nhận thức luận (epistemology). Tôi được phép đọc rất nhiều loại sách, và tôi chọn lấy cuốn The Story of Philosophy. Khi ấy hẳn là tôi được 11 hay 12 tuổi. Và chương về Platon… đó là trải nghiệm đầu tiên của tôi về một dạng cảm giác đê mê mang tính trí tuệ. Tôi bị lôi hẳn ra bên ngoài bản thân mình. Có nhiều thứ khi đó tôi không hiểu, nhưng có điều gì đó trừu tượng và vĩnh hằng nằm bên dưới tất thảy những hiện tượng luôn biến đổi của cõi sống này. Ông ta dùng từ “ảo ảnh” (phantasmagoria), vốn là một trong những từ tôi phải tra từ điển, và có thể đó là một trong rất ít lần tôi tiếp cận từ đó. Tôi có thể chẳng hiểu gì về những điều mình đang đọc, nhưng tôi lại bị hút vào cuốn đó. Continue reading

Phim hoạt hình Mĩ và hiện tượng sùng bái lòng tự tôn

planes, turbo, charlie brown

Tác giả: Luke Epplin

Suốt nhiều năm qua, các hãng phim hoạt hình của Mĩ càng lúc càng trau chuốt hình ảnh cho những bộ phim của mình. Song, bên cạnh đó, phần nội dung và cách thức thể hiện của những bộ phim hoạt hình này có vẻ đang dần lâm vào ngõ cụt với những thông điệp đã quá sáo mòn. Mặt khác, nếu xem xét kĩ hơn thì những thông điệp đó thực sự làm người ta lo lắng, vì chúng dễ gây ngộ nhận cho người xem, nhất là đối với trẻ em.

Hội chứng “chiếc lông vũ thần kì” trong phim hoạt hình Mĩ

Khi xét đến chuyện rập khuôn công thức của điện ảnh Hollywood, thì trong những năm gần đây không có thể loại nào cứng nhắc vào một chủ đề hơn thể loại phim hoạt hình dựng từ máy tính dành cho trẻ em.

Những bộ phim hoạt hình này bị nhiễm cái được gọi là hội chứng chiếc-lông-vũ-thần-kì. [Chiếc-lông-vũ-thần-kì ở đây ý chỉ chiếc lông vũ mà chú voi Dumbo giữ bên mình trong bộ phim cùng tên của Walt Disney năm 1943. Trong phim này Dumbo là một chú voi có khả năng bay bằng cách dùng đôi tai với chức năng như đôi cánh. Để bay được, thì bạn Dumbo đã đưa cậu chiếc lông vũ vào bảo đây là chiếc lông vũ thần kì, nhằm giúp Dumbo có thêm tự tin. Rồi một lần nọ, Dumbo làm mất chiếc lông vũ này, nhưng cậu bạn cho biết đó chỉ là chiếc lông vũ bình thường thôi, quan trọng là mình phải tin vào khả năng của mình – chú thích của người dịch.]

Cùng với nhân vật Dumbo trong phim hoạt hình cùng tên năm 1943 của Walt Disney, thì những bộ phim ngày nay xoay quanh chuyện những nhân vật lạc lõng vượt qua được các hạn định của xã hội hoặc thậm chí của chủng loài mình, từ đó biến những giấc mơ bất khả thành hiện thực. Bao giờ cũng thế, cái gây trở ngại cho các nhân vật chính, chẳng hạn như đôi tai khổng lồ của Dumbo, rốt cuộc lại trở thành nguồn sức mạnh to lớn nhất

Nhưng trước tiên các nhân vật phải từ bỏ chỗ nương tựa nơi “chiếc lông vũ thần kì” – hay nói rộng hơn thì chúng phải vượt qua nỗi sợ hãi lớn nhất của bản thân – và tin rằng nguồn sức mạnh lớn lao phát xuất từ bên trong mình.

Trong mười năm qua những bộ phim hoạt hình kiểu này xuất hiện đầy rẫy: một chú gấu trúc béo ú hi vọng trở thành bậc thầy Kungfu (Kung Fu Panda); một chú chuột cống mơ trở thành đầu bếp Pháp (Ratatouille); một tên ác nhân 8-bit khao khát trở thành anh hùng trong trò chơi điện tử (Wreck-It Ralph); một con quái vật đáng yêu lại đi theo đuổi sự nghiệp làm kẻ hù doạ hạng nhất (Monsters University). Ngoài ra, gần đây có hai bộ phim hoạt hình thuộc hai hãng khác nhau với cốt truyện tương tự nhau như khuôn đúc – TurboPlanes. Cả hai phim này đều làm nổi bật mức độ xuất hiện của hội chứng “chiếc lông vũ thần kì” vốn đang âm thầm len lỏi vào trong lĩnh vực giải trí dành cho trẻ em. Continue reading