[The Atlantic] Giá trị của việc ghi nhớ những khoảnh khắc thường nhật

Tác giả: Cody C. Delistraty

null

Việc ghi lại những sự kiện hằng ngày có vẻ như rất nhàm chán, nhưng những người tham gia một nghiên cứu gần đây lại cảm thấy vui nếu có những bút tích của chúng trong tương lai.

Vào dịp Giáng sinh, anh trai tôi, bố tôi, và con chó Labrador màu sôcôla lên xe và lái xuyên bang Washington để đến thăm ông bà. Chúng đã làm việc này từ khi tôi được sinh ra. Cả ba chúng tôi – trước khi anh trai và tôi đeo headphone vào và không còn biết trời trăng gì nữa – cố gắng có những cuộc nói chuyện ý nghĩa. Sau đó tôi sẽ trở lại trường ở Anh, anh trai tôi sẽ về lại trường ở California, và bố sẽ trở lại làm việc ở Washington, một tam giác Đại Tây Dương ngăn cách chúng tôi. Cả ba chúng tôi được ở bên nhau hai lần mỗi năm, nhiều nhất là vậy, nhưng trên xe hiếm có thứ gì mới được chia sẻ. Chúng tôi ôn lại kỷ niệm với mẹ; bàn luận về những triển vọng nghề nghiệp, các đội bóng chày, và sách (nếu may mắn); và thường chúng tôi sẽ đi đến một tranh cãi nhỏ về tôn giáo hay chính trị để kết thúc cuộc nói chuyện. Không có gì để ghi lại. Không có gì để nhớ.

Cuộc sống thường ngày có vẻ quá vô vị để viết lại. Tại sao lại ghi lại những cuộc trò chuyện thủ tục, thứ mà chúng ta đã làm cả triệu lần và sẽ còn làm thêm cả triệu lần nữa? Không phải là nhớ những việc trọng đại: những bước đi đầu tiên, tốt nghiệp, công việc, giải thưởng, hôn nhân, về hưu, kỳ nghỉ quan trọng hơn sao? Thế nhưng người ta rất hiếm khi nhận ra họ sẽ yêu thích đến mức nào khi họ nhìn lại những ngày nhàm chán ấy: một ngày ngồi đọc sách bên cửa sổ, một chuyến dã ngoại trong công viên với bạn bè. Những việc này không hề nổi bật khi chúng diễn ra, nhưng khi nhớ lại chúng lại là một cảm giác thích thú đặc biệt. “Ai lại bảo một ngày ngồi đọc sách là một ngày đẹp?” Annie Dillard viết. “Nhưng một cuộc sống để đọc sách – đó là một cuộc sống đẹp.” Continue reading

[The Atlantic] Bậc thầy trong tình yêu hay khoa học của hạnh phúc đến trọn đời

Tác giả: Emily Esfahani Smith

null

Mỗi ngày trong tháng sáu, mùa cưới trong năm ở nước Mỹ, khoảng 13.000 cặp vợ chồng sẽ nói lời cam kết cho một cuộc hôn nhân đến trọn đời, một mối quan hệ đầy tình bạn, niềm vui và tình yêu sẽ theo họ đến tận ngày cuối cùng trên trái đất này.

Dĩ nhiên, ngoại trừ việc là nó không diễn ra như vậy với hầu hết mọi người. Đa số các cuộc hôn nhân thất bại, hoặc kết thúc bằng ly dị hay ly thân, hay biến thành mối quan hệ đầy cay đắng và khủng hoảng. Trong số những người kết hôn, chỉ có 3 trong số 10 người giữ được cuộc hôn nhân lành mạnh, hạnh phúc, như nhà tâm lý học Ty Tashiro chỉ ra trong cuốn Khoa học của Hạnh phúc đến Trọn đời (The Science of Happily Ever After) xuất bản vào đầu năm nay.

Các nhà khoa học xã hội bắt đầu nghiên cứu hôn nhân bằng cách quan sát chúng lần đầu tiên trong những năm 70 để tìm giải pháp cho một cuộc khủng hoảng: Các cặp vợ chồng ly dị với tỷ lệ chưa từng có. Lo ngại về ảnh hưởng của những vụ ly hôn này lên con cái trong gia đình, các nhà tâm lý học quyết định tung lưới lên các đôi vợ chồng, lôi họ vào phòng thí nghiệm để quan sát và xác định xem thành phần của mối quan hệ lành mạnh, lâu bền là gì. Có phải mỗi gia đình bất hạnh đều bất hạnh theo cách riêng của họ như Tolstoy từng tuyên bố, hay những cuộc hôn nhân đau khổ đều có chung một yếu tố độc hại nào đó?

Nhà tâm lý học John Gottman là một trong những nhà nghiên cứu đó. Trong bốn thập kỷ qua, ông đã nghiên cứu hàng ngàn cặp vợ chồng trong công cuộc tìm kiếm cái gì khiến các mối quan hệ thành công. Gần đây tôi có cơ hội phỏng vấn Gottman và vợ ông Julie, cũng là một nhà tâm lý học, ở thành phố New York. Hai chuyên gia nổi tiếng về hôn nhân này cùng nhau quản lý Học viện Gottman, nơi họ giúp các đôi vợ chồng xây dựng và duy trì mối quan hệ lành mạnh và yêu thương dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học.

John Gottman bắt đầu thu thập những phát hiện quan trọng nhất của ông vào năm 1986 khi ông thành lập “Phòng Thí nghiệm Tình yêu” với đồng nghiệp Robert Levenson tại trường Đại học Washington. Gottman và Levenson đưa các cặp mới cưới vào phòng thí nghiệm và quan sát họ tương tác với nhau. Cùng một đội ngũ các nhà nghiên cứu, họ nối những người tình nguyện vào các cực điện và đề nghị họ nói về mối quan hệ của mình, như là họ đã gặp nhau thế nào, một xung đột lớn mà họ đối mặt cùng nhau, một kỷ niệm tốt lành mà họ có. Trong khi họ nói, các cực điện đo lưu lượng máu, nhịp tim và lượng mồ hôi tiết ra. Rồi những nhà nghiên cứu cho các đôi đi về và hẹn gặp họ lại sáu năm sau để xem họ còn sống với nhau không. Continue reading

Tầm quan trọng của những kinh nghiệm được chia sẻ cùng nhau

Hai nghiên cứu mới chỉ ra rằng những cuộc phiêu lưu lạ thường được đánh giá quá mức – trừ khi bạn trải nghiệm chúng cùng với người khác.

null
Những người tham gia lễ hội ném cà chua được tổ chức hàng năm ở Tây Ban Nha hôn nhau

Khi được trao cho sự lựa chọn giữa việc đi bar cùng với Jessica Alba và đi bar cùng với nhóm bạn của chúng ta, phần lớn chúng ta có lẽ sẽ chọn cuộc hẹn với “Người phụ nữ quyến rũ nhất thế giới”. Nhưng có lẽ chúng ta nên nghĩ lại về sự lựa chọn đó và chọn một đêm uống bia khác với nhóm bạn.

Một nghiên cứu gần đây trên tờ Psychological Science cho thấy những kinh nghiệm khác thường có một phí tổn xã hội, chúng làm chúng ta xa lánh những người bạn bè đồng trang lứa của chúng ta. “Những kinh nghiệm lạ thường vừa khác biệt và tốt hơn những kinh nghiệm mà đa số những người khác có”, các tác giả nhận thấy “và vừa xa lạ và gây ghen tỵ là một công thức không chắc chắn để được yêu thích.”

Để kiểm tra giả thiết này, các nhà nghiên cứu thết đãi một nhóm sinh viên đại học một buổi xem phim. Có 68 người tham gia và được chia thành các nhóm bốn người. Một người từ mỗi nhóm được vào một phòng nhỏ để xem một video thú vị về một nhà ảo thuật đường phố tài năng đang biểu diễn những trò ảo thuật trước một đám đông đang tán dương. Ba người khác được phân vào xem một clip bình thường về một hoạt hình có kinh phí thấp. Mọi người được cho biết liệu họ được phân xem video nhàm chán hay là video thú vị. Continue reading

Anne Applebaum – Hiểu về Stalin

 

Anne Applebaum

Hiểu về Stalin

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Làm thế nào Stalin lại trở thành Stalin? Hay nói đúng hơn: Làm thế nào mà Iosif Vissarionovič Džugašvili – cháu trai của những người nông nô, con trai của một nữ thợ giặt và một người thợ giày ít học – lại trở thành Tổng tư lệnh Stalin, một trong những kẻ sát nhân hàng loạt tàn bạo nhất mà thế giới từng biết? Làm thế nào mà một cậu bé sinh ra tại một thị trấn nơi vùng đồi hẻo lánh xứ Georgia lại trở thành một kẻ độc tài kiểm soát cả nửa châu Âu? Làm thế nào mà một chàng trai sùng đạo vốn chọn con đường theo học thành linh mục lại lớn lên trở thành một kẻ vô thần đầy nhiệt huyết cũng như một kẻ theo ý hệ Marx.

Chịu ảnh hưởng từ Freud, nhiều tiểu sử gia tham vọng – chưa nói đến các tâm lí gia, các triết gia và các sử gia – đều đi tìm câu trả lời ở thời thơ ấu của chủ thể mà họ đề cập. Cũng như sự cuồng tín của Hitler được “giải thích” bằng quá trình trưởng thành, bằng đời sống tình dục, hoặc bằng chuyện ông ta được cho là chỉ có một tinh hoàn, thì sự hung ác kiểu tâm lí biến thái của Stalin được quy cho người cha, mà theo chính lời Stalin, là người “đánh đập ông không thương tiếc”, hoặc quy cho người mẹ, một người có lẽ từng ngoại tình với một linh mục địa phương. Những lí giải khác đều đưa ra vụ tai nạn khiến Stalin có một cánh tay teo lại, vụ nhiễm trùng đậu mùa làm mặt ông ta đầy sẹo, hoặc vụ khiếm khuyết bẩm sinh làm dính hai ngón chân lại mang đến cho ông ta bàn chân trái có màng – một dấu hiệu của quỷ.

Chính trị cũng ảnh hưởng đến các tiểu sử gia về Stalin. Trong suốt thuở sinh thời, những kẻ đồng cảm biến ông ta thành một siêu anh hùng, nhưng những kẻ đối địch cũng áp đặt thiên kiến của mình. Vốn là kẻ thù ghê gớm nhất của Stalin, Leon Trotsky là người diễn giải Stalin có sức ảnh hưởng cực kì to lớn ở thế kỉ 20, định hình nên cách nhìn của một thế hệ sử gia, từ Issac Deutscher trở về sau. Stalin của Trotsky là một kẻ thiếu cơ trí và không có tính sảng khoái, một kẻ thất học và tỉnh lẻ đạt được quyền lực nhờ thao túng bộ máy quan liêu và nhờ bạo lực tàn khốc. Trên hết, Stalin của Trotsky là một kẻ xoay chiều ban đầu đã phản bội Lenin và sau đó phản bội sự nghiệp theo chủ nghĩa Marx. Bức chân dung như thế nhằm phục vụ một mục đích, chính là truyền cảm hứng để những kẻ theo Trotsky duy trì sự trung thành đối với cuộc cách mạng Xô-viết “đáng lẽ đã xảy ra” – nếu như trước đó người lên nắm quyền là Trotsky chứ không phải là một Stalin buồn thảm, dè dặt và yếm thế. Continue reading

Graham Allison – Làm thế nào một cuộc thế chiến nữa có thể xảy ra?

 

Graham Allison

Làm thế nào một cuộc thế chiến nữa có thể xảy ra?

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Đánh giá những tương đồng và những khác biệt giữa năm 1914 và 2014.

Tháng [Bảy] này vào một thế kỉ trước, châu Âu đứng trước nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tàn khốc khiến cho các sử gia phải tạo ra một hạng mục mới: “Thế chiến”. Không nhà lãnh đạo nào ở thời điểm đó có thể hình dung vùng đất hoang tàn mà họ sẽ sống tại đó bốn năm sau. Tới năm 1918, mỗi nhà lãnh đạo đều đã mất đi thứ họ yêu dấu nhất: kaiser (hoàng đế Đức) bị truất bỏ, Đế chế Áo-Hung bị giải thể, tsar (Nga hoàng) bị giới Bolshevik lật đổ, nước Pháp chịu khổ cả một thế hệ, và nước Anh bị tước đi thời thanh xuân và của cải của mình. Một thiên niên kỉ làm chủ địa cầu của các nhà lãnh đạo Âu châu đã khựng lại lúc đó.

Điều gì gây nên tai ương này? Tổng thống John F. Kennedy thích châm chọc các vị đồng sự của mình bằng câu hỏi ấy. Khi đó ông ta sẽ nhắc cho họ nhớ câu trả lời ưa thích của mình, trích lại lời Thủ tướng Đức Theobald von Bethmann Hollweg:  “À, giá như chúng ta biết được.” Lúc xảy ra Cuộc khủng hoảng Tên lửa Cuba năm 1962, Kennedy tự thấy mình “mặt đối mặt” với nhà lãnh đạo Soviet Nikita Khrushchev, và đưa ra những quyết định mà ông biết có thể làm cả trăm triệu người chết ngay, khi đó ông chiêm nghiệm về những bài học năm 1914. Ở vài thời điểm quyết định, ông điều chỉnh những điều ông có khuynh hướng sẽ thực hiện để nỗ lực tránh lặp lại những sai lầm đó của các nhà lãnh đạo.

Khi họ chọn cách đáp ứng những cam kết, hay không, điều động quân đội trong sớm muộn, những kẻ tham gia vào Thế chiến thứ nhất đồng loạt tìm cách định hình khung nhận thức của công chúng về cuộc khủng hoảng này. Mỗi bên tìm cách trách cứ kẻ thù của mình. Sau cuộc thảm hoạ đó, những kẻ chiến thắng tự cho mình cái quyền đáng kể với các dữ kiện nhằm biện minh cho việc trừng phạt kẻ chiến bại. Hiệp ước Versailles áp đặt những hình phạt hà khắc đến mức tạo điều kiện nổ ra Thế chiến thứ nhì chỉ hai thập niên sau đó. Cũng dễ hiểu khi màn kịch lớn này đã định hình những giải thích của sử gia về các nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến. Nhưng như kết luận thẳng thừng từ cuốn sách xuất sắc nhất trong những cuốn sách mới về cuộc xung đột này, cuốn The Sleepwalkers, thì ta có thể tập hợp những bằng chứng có được nhằm ủng hộ cho một loạt những khẳng định gây thách thức. “Việc bùng nổ cuộc chiến năm 1914 không phải là một kịch bản kiểu Agatha Christie mà kết cuộc ta sẽ khám phá ra kẻ phạm tội đứng trên một xác chết nào đó trong phòng bảo quản với khẩu súng lục bốc khói,” Clark viết như thế. “Trong câu chuyện này không có khẩu súng bốc khói nào cả; hoặc, thay vào đó, là có một khẩu nằm trong tay của mọi nhân vật chính.” Continue reading

Hope Reese – Tại sao học triết? ‘Để thách thức quan điểm của bạn’

 

Hope Reese

Tại sao học triết? ‘Để thách thức quan điểm của bạn’

Phỏng vấn Rebecca Newberger Goldstein, tác giả cuốn Plato at the Googleplex: Why Philosophy Won’t Go Away

Duy Đoàn chuyển ngữ

Vào thời điểm mà những tiến bộ trong khoa học và công nghệ đã làm thay đổi nhận thức của chúng ta về bản thân con người mình xét về mặt tinh thần lẫn thế chất, thì thật dễ dàng gạt bỏ lĩnh vực triết học và cho nó là thứ quá xưa cũ. Stephen Hawking còn cả tiếng bảo rằng triết học đã chết.

Nhưng Rebecca Newberger Goldstein không cho là vậy. Goldstein, một triết gia và tiểu thuyết gia, học triết học tại trường Barnard và sau đó lấy bằng Ph.D về triết ở trường Princeton University. Bà đã viết nhiều cuốn sách, đoạt được giải MacArthur “Genius Award” vào năm 1996, và đi dạy ở nhiều trường đại học, trong đó có Barnard, Columbia, Rutgers, và Brandeis.

Cuốn sách mới vừa ra mắt của bà, Plato at the Googleplex: Why Philosophy Won’t Go Away, cung cấp cho người đọc cái nhìn sâu vào bên trong tiến trình đầy ý nghĩa – và thường vô hình – mà triết học đã tạo nên. Tôi nói chuyện với Goldstein về ý kiến của bà trong cuộc tranh luận khoa học với triết học, làm thế nào chúng ta có thể đo lường được những tiến bộ của triết học, và tại sao sự hiểu biết về triết học vẫn là điều quan trọng đối với cuộc sống chúng ta ngày nay.

Hồi còn nhỏ, bà đã bắt gặp cuốn The Story of Philosophy của Will Durant. Thế những suy nghĩ ban đầu khi đó của bà là gì?

Tôi lớn lên ở một hộ gia đình Do-thái giáo Chính thống (Orthodox Jewish) rất sùng đạo và dường như mọi người đều có quan điểm vững chắc về hết thảy những loại vấn đề lớn lao. Tôi hứng thú với chuyện làm thế nào họ biết những điều mà dường như họ có biết, hoặc họ khẳng định có biết. Đó là cái mà giờ tôi gọi là vấn đề nhận thức luận (epistemology). Tôi được phép đọc rất nhiều loại sách, và tôi chọn lấy cuốn The Story of Philosophy. Khi ấy hẳn là tôi được 11 hay 12 tuổi. Và chương về Platon… đó là trải nghiệm đầu tiên của tôi về một dạng cảm giác đê mê mang tính trí tuệ. Tôi bị lôi hẳn ra bên ngoài bản thân mình. Có nhiều thứ khi đó tôi không hiểu, nhưng có điều gì đó trừu tượng và vĩnh hằng nằm bên dưới tất thảy những hiện tượng luôn biến đổi của cõi sống này. Ông ta dùng từ “ảo ảnh” (phantasmagoria), vốn là một trong những từ tôi phải tra từ điển, và có thể đó là một trong rất ít lần tôi tiếp cận từ đó. Tôi có thể chẳng hiểu gì về những điều mình đang đọc, nhưng tôi lại bị hút vào cuốn đó. Continue reading

Phim hoạt hình Mĩ và hiện tượng sùng bái lòng tự tôn

planes, turbo, charlie brown

Tác giả: Luke Epplin

Suốt nhiều năm qua, các hãng phim hoạt hình của Mĩ càng lúc càng trau chuốt hình ảnh cho những bộ phim của mình. Song, bên cạnh đó, phần nội dung và cách thức thể hiện của những bộ phim hoạt hình này có vẻ đang dần lâm vào ngõ cụt với những thông điệp đã quá sáo mòn. Mặt khác, nếu xem xét kĩ hơn thì những thông điệp đó thực sự làm người ta lo lắng, vì chúng dễ gây ngộ nhận cho người xem, nhất là đối với trẻ em.

Hội chứng “chiếc lông vũ thần kì” trong phim hoạt hình Mĩ

Khi xét đến chuyện rập khuôn công thức của điện ảnh Hollywood, thì trong những năm gần đây không có thể loại nào cứng nhắc vào một chủ đề hơn thể loại phim hoạt hình dựng từ máy tính dành cho trẻ em.

Những bộ phim hoạt hình này bị nhiễm cái được gọi là hội chứng chiếc-lông-vũ-thần-kì. [Chiếc-lông-vũ-thần-kì ở đây ý chỉ chiếc lông vũ mà chú voi Dumbo giữ bên mình trong bộ phim cùng tên của Walt Disney năm 1943. Trong phim này Dumbo là một chú voi có khả năng bay bằng cách dùng đôi tai với chức năng như đôi cánh. Để bay được, thì bạn Dumbo đã đưa cậu chiếc lông vũ vào bảo đây là chiếc lông vũ thần kì, nhằm giúp Dumbo có thêm tự tin. Rồi một lần nọ, Dumbo làm mất chiếc lông vũ này, nhưng cậu bạn cho biết đó chỉ là chiếc lông vũ bình thường thôi, quan trọng là mình phải tin vào khả năng của mình – chú thích của người dịch.]

Cùng với nhân vật Dumbo trong phim hoạt hình cùng tên năm 1943 của Walt Disney, thì những bộ phim ngày nay xoay quanh chuyện những nhân vật lạc lõng vượt qua được các hạn định của xã hội hoặc thậm chí của chủng loài mình, từ đó biến những giấc mơ bất khả thành hiện thực. Bao giờ cũng thế, cái gây trở ngại cho các nhân vật chính, chẳng hạn như đôi tai khổng lồ của Dumbo, rốt cuộc lại trở thành nguồn sức mạnh to lớn nhất

Nhưng trước tiên các nhân vật phải từ bỏ chỗ nương tựa nơi “chiếc lông vũ thần kì” – hay nói rộng hơn thì chúng phải vượt qua nỗi sợ hãi lớn nhất của bản thân – và tin rằng nguồn sức mạnh lớn lao phát xuất từ bên trong mình.

Trong mười năm qua những bộ phim hoạt hình kiểu này xuất hiện đầy rẫy: một chú gấu trúc béo ú hi vọng trở thành bậc thầy Kungfu (Kung Fu Panda); một chú chuột cống mơ trở thành đầu bếp Pháp (Ratatouille); một tên ác nhân 8-bit khao khát trở thành anh hùng trong trò chơi điện tử (Wreck-It Ralph); một con quái vật đáng yêu lại đi theo đuổi sự nghiệp làm kẻ hù doạ hạng nhất (Monsters University). Ngoài ra, gần đây có hai bộ phim hoạt hình thuộc hai hãng khác nhau với cốt truyện tương tự nhau như khuôn đúc – TurboPlanes. Cả hai phim này đều làm nổi bật mức độ xuất hiện của hội chứng “chiếc lông vũ thần kì” vốn đang âm thầm len lỏi vào trong lĩnh vực giải trí dành cho trẻ em. Continue reading