Perry Link – Khúc thọ nạn của Lưu Hiểu Ba

Ảnh: Liu Xa/New York Review of Books

Perry Link

Khúc thọ nạn của Lưu Hiểu Ba

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Vào cuối thập niên 1960, Mao Trạch Đông 毛泽东, Đại Đà thủ (大舵手/Great Helmsman) của Trung-quốc, khuyến khích trẻ em và thiếu niên nên đối đầu với giáo viên và bố mẹ chúng, tiệt trừ “ngưu quỷ xà thần”, và nói cách khác là “làm cách mạng”. Thực tế điều này nghĩa là đóng cửa các trường học ở Trung-quốc. Trong những thập niên sau đó, nhiều người đã chỉ trích sự thiếu giáo dục của một thế hệ.

Lưu Hiểu Ba 刘晓波, khôi nguyên Nobel Hoà bình, người bị kết án 11 năm vì tội “khích động lật đổ” chính quyền Trung-quốc, và người đã chết vì ung thư gan hồi thứ Năm (13/7/2017), chính là người minh hoạ cho một hình mẫu khác. Lúc trường học đóng cửa, Lưu, sinh năm 1955, được 11 tuổi, nhưng dẫu sao ông cũng đọc sách, ở bất cứ chỗ nào ông có thể tìm thấy sách. Với việc không giáo viên nào bảo ông biết chính phủ muốn ông nghĩ gì ở những cuốn sách ông đọc, ông bắt đầu tự mình suy tư lấy—và ông yêu thích việc này. Mao tình cờ đã dạy ông một bài học vốn đối nghịch trực tiếp với mục tiêu của chính Mao trong việc cải đổi trẻ em thành những “hồng tiểu binh”.

Nhưng trải nghiệm này chỉ giải thích được một phần cho tính độc lập ngoan cường của Lưu. Tính này có vẻ còn là một đặc điểm bẩm sinh. Nếu có một loại gien dành cho sự thẳng thừng, Lưu có thể có nó. Vào thập niên 1980, trong khi hãy còn là sinh viên cao học ngành văn chương Trung-quốc, ông đã nổi danh như là một “hắc mã” vì ông lên án gần như mọi nhà văn Trung-quốc đương thời: ngôi sao văn chương Vương Mông 王蒙 là tay giảo hoạt chính trị; những cây bút “tầm căn 寻根 (tìm về nguồn cội)” như Hàn Thiểu Công 韓少功 lại quá sức lãng mạn khi nói về giá trị của những truyền thống Trung-quốc; thậm chí những vị anh hùng lên tiếng vì người dân như Lưu Tân Nhạn 刘宾雁 lại quá sẵn sàng phó thác hi vọng vào những lãnh đạo Cộng sản theo “tự do chủ nghĩa” như Hồ Diệu Bang 胡耀邦. Không ai có đủ tinh thần độc lập. Ông viết vào năm 1986, “Tôi có thể tóm gọn trong một câu cho thấy chuyện gì bất ổn đối với các nhà văn Trung-quốc. Họ không tự mình viết sáng tạo được—họ chỉ đơn giản là không có năng lực đó—vì chính cuộc đời của họ không thuộc về họ.” Continue reading

Andrew J. Nathan – Kim Jong-un là ai?

Andrew J. Nathan

Kim Jong-un là ai?

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Bài điểm sách cho những cuốn sau:

Tyranny of the Weak: North Korea and the World, 1950–1992

của Charles K. Armstrong

Cornell University Press, 307 tr., 35$; 24,95$ (bản bìa mềm)

Marked for Life: Songbun, North Korea’s Social Classification System

của Robert Collins

Committee for Human Rights in North Korea, 119 tr., có văn bản tại www.hrnk.org

 The Real North Korea: Life and Politics in the Failed Stalinist Utopia

của Andrei Lankov

Oxford University Press, 315 tr., 18,95$ (bản bìa mềm)

Pyongyang Republic: North Korea’s Capital of Human Rights Denial

của Robert Collins

Committee for Human Rights in North Korea, 177 tr., có văn bản tại www.hrnk.org 

The Cleanest Race: How North Koreans See Themselves—And Why It Matters

của B.R. Myers

Melville House, 200 tr., 19,99$

Lãnh tụ Bắc Triều-tiên Kim Jong-un đi thị sát trại thiếu nhi Manyongdae ở Bình-nhưỡng; bức ảnh không rõ ngày tháng, được công bố ngày 4 tháng Sáu năm 2016 bởi Thông tấn xã Trung ương Triều-tiên (조선중앙통신사 - Korean Central News Agency) thuộc chính quyền Bắc Triều-tiên. (Ảnh: KCNA/Reuters)

Lãnh tụ Bắc Triều-tiên Kim Jong-un đi thị sát trại thiếu nhi Manyongdae ở Bình-nhưỡng; bức ảnh không rõ ngày tháng, được công bố ngày 4 tháng Sáu năm 2016 bởi Thông tấn xã Trung ương Triều-tiên (조선중앙통신사 – Korean Central News Agency) thuộc chính quyền Bắc Triều-tiên. (Ảnh: KCNA/Reuters)

Hai má phúng phính và kiểu tóc loe của nhà cai trị trẻ tuổi Kim Jong-un xứ Bắc Triều-tiên, mối giao tình với cựu ngôi sao bóng rổ xăm trổ đầy mình Dennis Rodman, cùng nụ cười toe toét như trẻ vui đùa khi đứng trước những đợt phóng tên lửa, hết thảy kết hợp một cách kì dị với việc chế độ này quyết tâm nhấn chìm kẻ thù trong “biển lửa”. Những điểm đó làm cho phương Tây vừa có mối ác cảm vừa có thái độ giễu cợt đối với đất nước này. Nhiều người tiên đoán rằng Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều-tiên không thể tồn lưu lâu hơn nữa, khi xét đến tình trạng đói nghèo ở khắp nước này, một hệ thống trại tù chuyên giết hại người vốn được khép vào tội ác chống nhân loại theo xác định của một uỷ hội điều tra của Liên hợp quốc,[1] khi xét đến tình trạng tự áp đặt thế cô lập kinh tế, tình trạng đương đầu với hết thảy các nước láng giềng, cùng sự non nớt thiếu kinh nghiệm của lãnh tụ nước này. Chính quyền Obama đã vận dụng lập trường “kiên nhẫn chiến lược”, chờ đợi những lệnh chế tài quốc tế ngày càng dữ dội sẽ buộc Bắc Triều-tiên hoặc phải từ bỏ các loại vũ khí hạt nhân hoặc phải lâm vào tình trạng nội phá (implode) và bị thâu tóm bởi chính phủ Nam Triều-tiên thân Tây phương.

Nhưng kẻ láng giềng thân cận khác của Bắc Triều-tiên, Trung-quốc, chưa bao giờ mong đợi CHDCND Triều-tiên đầu hàng hay sụp đổ, và cho đến nay họ vẫn đúng. Thay vì từ bỏ bom hạt nhân và các chương trình tên lửa, Bình-nhưỡng đến nay được cho là có tầm mười đến hai mươi thiết bị hạt nhân và hơn một nghìn tên lửa tầm ngắn, tầm trung và tầm xa, và đang phát triển một đầu nổ dạng nén vốn có thể công phá nội địa Hoa-kì.

Ở Triều-tiên, chế độ này gần đây đã qua được bài thử thách ngặt nghèo nhất mà các chế độ toàn trị phải đối diện, quá trình kế nghiệp vị trí lãnh tụ. Nước này chịu sự cai trị của Kim Il-sung từ năm 1948, khi kết thúc thời gian chiếm đóng của Xô-viết thời hậu chiến ở Bắc Triều-tiên, cho đến khi ông ta mất vào năm 1994; tiếp theo là sự cai trị của người con trai Kim Jong-il, từ năm 1994 cho đến khi ông này mất năm 2011; và kể từ 2011 là dưới sự cai trị của cháu trai người sáng lập, Kim Jong-un. Jong-un là con trai út trong nhà và là người kế vị bất ngờ; y trỗi lên như người thừa tự rõ ràng chỉ hai năm trước khi cha y mất, ngược lại với cha y, vốn là người thừa tự rành rành trong suốt 20 năm. Người ta tin rằng Kim Jong-il đã điều hành việc khủng bố, làm hàng giả, buôn lậu và các chiến dịch phổ biến vũ khí trong hầu hết thời gian tại vị. Continue reading

Italo Calvino – Tại sao đọc tác phẩm kinh điển?

 

Italo Calvino

Tại sao đọc tác phẩm kinh điển?

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Patrick Creagh (có tham khảo thêm bản dịch Anh ngữ khác của Martin McLaughlin)

 

Ta hãy bắt đầu bằng một vài định nghĩa được đề xuất.

1) Tác phẩm kinh điển là những cuốn sách mà ta thường nghe người khác nói: “Tôi đang đọc lại…” và chưa bao giờ nói “Tôi đang đọc…”

Chí ít điều này xảy ra ở những người tự xem mình là “đọc nhiều”. Nó không đúng cho những người trẻ ở độ tuổi mà lần đầu tiên chạm trán cõi sống này, và những tác phẩm kinh điển vốn là một phần của cõi sống đó.

Cái chữ “lại” nằm kế động từ “đọc” có thể là một thói đạo đức giả nho nhỏ của những người thấy xấu hổ khi thừa nhận họ chưa đọc một cuốn sách nổi tiếng nào đó. Để trấn an họ, chúng ta chỉ cần nhận định rằng, dẫu cho mức đọc căn bản của bất kì ai có rộng lớn đến đâu, thì vẫn còn đó một lượng khổng lồ các tác phẩm nền tảng mà họ chưa đọc.

Giơ tay lên nào, ai đã đọc toàn tập Herodotus và toàn tập Thucydides! Và Saint-Simon? Và Hồng y de Retz? Nhưng ngay cả những bộ tiểu thuyết vĩ đại của thế kỉ mười chín cũng thường được nói đến nhiều hơn là được đọc. Ở Pháp họ bắt đầu đọc Balzac ở nhà trường, và khi đánh giá theo số lượng bản in lưu hành, ta có thể cho rằng họ tiếp tục đọc ông ấy thậm chí sau khi ra trường, nhưng nếu một cuộc bỏ phiếu Gallup được thực hiện tại Ý, tôi e rằng Balzac sẽ xuất hiện gần cuối danh sách. Người hâm mộ Dickens tại Ý hình thành một tầng lớp ưu tú bé nhỏ; ngay khi các thành viên gặp nhau, họ bắt đầu tán gẫu về các nhân vật và các tập sách như thể họ đang bàn luận về những người hay những thứ mà họ có quen biết. Nhiều năm trước, khi dạy ở Mĩ, Michel Butor chán ngán việc bị người ta hỏi về Emile Zola, người mà ông chưa bao giờ đọc trước đó, thế là ông quyết định đọc tất cả bộ Rougon-Macquart. Ông thấy nó hoàn toàn khác với những gì mình đã nghĩ: một gia phả tuyệt diệu mang chất thần thoại và nguồn gốc vũ trụ, mà sau đó ông miêu tả nó trong một bài luận tuyệt vời. Continue reading

John Gray – Một Karl Marx đời thực

John Gray

Một Karl Marx đời thực

Duy Đoàn chuyển ngữ

Bài điểm sách cho cuốn Karl Marx: A Nineteenth-Century Life, của , Liveright, 648 trang, $35.00

Bằng nhiều cách thức, Jonathan Sperber đề xuất, Marx là “một khuôn mặt thủ cựu” với cái nhìn về tương lai được định khuôn theo những hoàn cảnh khác hoàn toàn so với bất kì hoàn cảnh nào phổ biến ngày nay:

“Quan điểm về Marx như một người đương thời có những ý tưởng định hình nên thế giới hiện đại là một quan điểm đã xong xuôi cả rồi và đến lúc cần một hiểu biết mới về ông như một khuôn mặt của một thời kì lịch sử trong quá khứ, một thời kì càng lúc càng cách xa chúng ta: thời đại của Cách mạng Pháp, của triết học Hegel, của những năm tháng đầu tiên của quá trình công nghiệp hoá tại Anh và của nền kinh tế chính trị bắt nguồn từ đó.”

Mục tiêu của Sperber là trình bày Marx theo đúng con người thực sự của ông – một nhà tư tưởng thế kỉ 19 để hết tâm trí mình vào những ý tưởng và sự kiện của thời mình. Nếu bạn thấy Marx theo cách này, nhiều cuộc tranh cãi vốn đã tạo sóng gió quanh di sản của ông hồi thế kỉ trước dường như không lợi ích gì, thậm chí không liên quan gì. Nếu khẳng định Marx phần nào “chịu trách nhiệm về mặt trí thức” cho chủ nghĩa cộng sản thế kỉ 20, thì khẳng định đó có vẻ hết sức lầm lạc; nhưng chuyện tương tự cũng xảy ra đối với phe biện hộ Marx như một người theo dân chủ cấp tiến, bởi vì cả hai quan điểm đều “phóng chiếu ngược vào những tranh luận về thế kỉ 19 của những thời đại sau đó”. Continue reading

John Lukacs – Những con quái vật hợp cùng nhau

John Lukacs

Những con quái vật hợp cùng nhau

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Đây là bài điểm sách cho cuốn The Devils’ Alliance: Hitler’s Pact with Stalin, 1939–1941 của Roger Moorhouse, Basic Books, 382 trang, $29.99

 

Trong kho văn liệu khổng lồ về Stalin và Hitler trong suốt thời Thế chiến II, rất ít điều được nói về mối quan hệ đồng minh của họ trong 22 tháng. Đó không chỉ là một chương lạ thường trong lịch sử cuộc chiến, và ý nghĩa của điều này xứng đáng có được nhiều sự chú ý hơn những gì được tiếp nhận lâu nay.

Có hai yếu tố liên quan đến sự thờ ơ này. Một là sau khi Hitler quyết định xâm chiếm Nga mà thực hiện không thành; Stalin trỗi lên như một trong những kẻ chiến thắng uy quyền của Thế chiến II. Yếu tố còn lại là việc các Thế lực Tây phương không mấy lưu tâm đến Đông Âu. Tuy vậy cuộc chiến nổ ra vào năm 1939 lại là do Đông Âu, là kết quả từ quyết định của người Anh (và Pháp) nhằm chống lại việc Đức chinh phục Ba-lan. Cơn địa chấn chính trị của Hiệp ước Nazi-Soviet vào ngày 23 tháng Tám năm 1939 chín ngày trước khi nổ ra cuộc chiến vào ngày 1 tháng Chín đã không ngăn được Anh quốc và Pháp tuyên bố chiến tranh với Đức trước cuộc xâm lăng của Đức vào Ba-lan. Đây là một trong số ít – rất ít – những quyết định có ích cho họ vào thời điểm đó. Việc họ miễn cưỡng trong nhiều tháng tiếp theo để tiến hành nghiêm túc cuộc chiến chống Đức lại là câu chuyện khác.

Giờ đây ba phần tư thế kỉ đã trôi qua kể từ năm 1939. Khá nhiều điều được viết về Hiệp ước Nazi-Soviet kể từ lúc ấy, phần lớn của các cây bút và sử gia Đông Âu. The Devil’s Alliance là bản tường trình tốt của sử gia Anh Roger Moorhouse về việc hiệp ước có ý nghĩa gì đối với Hitler và Stalin – và tệ hơn là đối với nạn nhân của hiệp ước đó. Có lẽ phần giá trị nhất của cuốn sách đã xử lí được những hậu quả tức thời của hiệp ước năm 1939. Trước đó, một cách hiển nhiên và dữ dội, chủ nghĩa Nazi và chủ nghĩa cộng sản là kẻ thù công khai của nhau. Từ những ngày đầu tiên thăng tiến chính trị của mình, Hitler đã mô tả Do-thái giáo và chủ nghĩa cộng sản là hai kẻ thủ chính yếu của mình. Vào thời điểm đó, Stalin không hẳn là một kẻ theo ý hệ. Cũng như Hitler, y là một người theo chủ nghĩa dân tộc; y gần như không lưu tâm đến chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Continue reading

Italo Calvino – Từ ngữ thành văn và bất thành văn

 

Italo Calvino

Từ ngữ thành văn và bất thành văn

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của William Weaver

Bài nói chuyện này được trình bày tại New York Institute for the Humanities, trong chương trình James Lecture, vào ngày 30/3/1983.

Khi người ta yêu cầu tôi thực hiện một bài nói chuyện, không về một chủ đề đặc biệt nào, mà để tôi tự do chọn lựa chủ đề để nói, tôi cảm thấy phần nào lúng túng.

Thường khi tôi viết tôi cảm thấy bản thân mình được bảo vệ đằng sau cái đối tượng cứng cáp được gọi là văn bản viết, nó sẽ tuỳ thuộc công chúng khi đọc nó, hoặc nếu họ thấy không hài lòng, cứ buông nó ra bất kì lúc nào. Còn một bài nói chuyện thì ngược lại, tôi phải đối diện không chỉ với cử toạ mà còn với vấn đề bên trong tôi: Cử toạ này sẽ kì vọng điều gì từ những lời của tôi? Khi tôi phải diễn thuyết bằng một ngôn ngữ không phải ngôn ngữ của chính mình, một vấn đề khác trỗi dậy: Liệu những ngôn từ tôi đang nghĩ có giống với những cái tôi đang nói và với những cái thính giả sẽ tiếp nhận không?

Để khắc phục những khó khăn này, tôi bắt đầu để xung quanh mình mấy cuốn từ điển, như thể từ chúng mà giải pháp sẽ xuất hiện ra. Chẳng hạn, tôi có thể tìm từ “lecture” và xem thử từ đó gợi ra cho tôi điều gì.

“Lecture” theo từ điển Webster nghĩa là: “a) một bài nói chuyện truyền tải kiến thức được thực hiện trước cử toạ và thường được chuẩn bị trước; b) văn bản của một bài nói chuyện như vậy.” Do đó, tôi ở đây, đang chuẩn bị bài nói chuyện của mình cho tử tế, và những trang giấy tôi đang giữ trong tay mình là cái văn bản tôi đã viết ra. Không thể ứng biến, tôi buộc phải đọc, cảm thấy dễ chịu bởi từ nguyên Latin của từ “lecture”, cũng do Webster đưa ra. Ở bất kì trường hợp nào, tôi không bao giờ có thể thoát khỏi số phận của mình: ở ngoài công chúng cũng như trong đời sống riêng tư tôi luôn giữ trang viết cách mũi mình mấy cm. Trong suốt chuyến đi để gia nhập các vị đây, trên phi cơ băng ngang đại dương, và sau đó khi ngồi trên xe taxi băng qua Manhattan, tôi đọc lại văn bản của mình, cũng để thực hành phần phát âm; và thi thoảng tôi ngước mắt lên khỏi trang giấy, nhìn quanh quất, khám phá ra một thế giới khác hoàn toàn so với thế giới bên trong trang viết; mỗi lần tôi bắt đầu đọc lại, tôi càng thấy khốn hoặc, và cứ mỗi lần thì văn bản đó lại trông khác trước. Tình trạng gián đoạn này giữa trang viết, vốn bất động và ổn định, với cái thế giới phong phú di động bên ngoài trang giấy chưa bao giờ thất bại trong việc làm tôi sửng sốt: thậm chí giờ đây, ở hội trường này, mỗi lần tôi ngước mắt lên nhìn cử toạ, tôi nghe mình có một cảm giác bối rối quen thuộc, và tôi tự hỏi: Tại sao tôi lại viết những thứ tôi đã viết? Continue reading

Roberto Bolaño – Ai dám làm thế?

Roberto Bolaño

Ai dám làm thế?

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Natasha Wimmer

Những quyển sách tôi nhớ nhất là những quyển tôi ăn cắp được ở Mexico City, lúc mười sáu đến mười chín tuổi, và những quyển tôi mua được ở Chile khi hai mươi tuổi, trong suốt những tháng ngày đầu tiên của cuộc đảo chính. Ở Mexico lúc đó có một tiệm sách dữ dội lắm. Nó được gọi là Tiệm sách Kính và nó nằm ở Alameda. Những bức tường, thậm chí trần nhà, trong tiệm sách đó đều được làm bằng kính. Kính và những cái rầm sắt. Từ bên ngoài, đây dường như là một nơi không thể ăn cắp món gì được. Vậy mà tính thận trọng lại bị lấn lướt bởi cám dỗ muốn thử và sau một thời gian tôi đã thử.

Cuốn đầu tiên rơi vào tay tôi là một quyển sách nhỏ của [nhà thơ huê tình thế kỉ mười chín] Pierre Louÿs, với những trang giấy mỏng như giấy Kinh Thánh, lúc này tôi không thể nhớ cuốn đó là Aphrodite hay Songs of Bilitis. Tôi biết lúc ấy tôi mười sáu và sau một thời gian thì Louÿs trở thành người đưa đường dẫn lối cho tôi. Sau đó tôi ăn cắp mấy cuốn sách của Max Beerbohm (The Happy Hypocrite), Champfleury, Samuel Pepys, anh em nhà Goncourt, Alphonse Daudet, và Rulfo và Arreola, những nhà văn Mexico mà thời đó gần như vẫn còn hoạt động tích cực, và là những người mà tôi do vậy có thể gặp vào buổi sáng nào đó ở Avenida Niño Perdido, một con đường đông đúc mà ngày nay những tấm bản đồ Mexico City đã giấu béng nó đi khỏi tôi , cứ như Niño Perdido chỉ có thể hiện hữu trong trí tưởng tượng của tôi, hoặc cứ như con đường đó, với những cửa hàng dưới lòng đất và những người biểu diễn đường phố đã thật sự lạc đâu mất rồi, giống như tôi đã từng lạc hồi mười sáu tuổi. Continue reading