The Paris Review – Nghệ thuật Hư cấu số 39: Jorge Luis Borges

 Phỏng vấn do Ronald Christ thực hiện

Buổi phỏng vấn này thực hiện vào tháng Bảy năm 1966, trong buổi chuyện trò với Borges tại văn phòng của ông ở Biblioteca Nacional (Thư viện Quốc gia Argentina), nơi ông làm giám đốc. Căn phòng, làm nhớ lại một Buenos Aires xưa cũ, thực sự không phải là văn phòng gì cả, mà nó là một gian phòng rộng lớn, trang hoàng lộng lẫy với trần nhà cao, ngụ trong một thư viện vừa mới sửa sang lại. Treo trên tường là những tờ giấy chứng nhận và các trích dẫn văn chương – nhưng lại được treo quá cao khó mà đọc được, như thể không muốn ai nhìn thấy. Cũng có vài bản khắc acid của Piranesi, làm nhớ lại tàn tích như cơn mộng dữ của Piranesi trong truyện “Kẻ bất tử” của Borges. Phía trên lò sưởi là tấm chân dung lớn; khi tôi hỏi cô thư kí của Borges, cô Susana Quinteros, về bức chân dung ấy, thì cô đáp lại bằng cung cách rất phù hợp, dù là tiếng vang vọng vô tình, theo kiểu Borges đơn giản: “Không quan trọng gì đâu. Nó là bức tái chế lại một bức hoạ khác thôi.”

Ở góc chéo đối diện trong căn phòng là hai kệ sách lớn, có thể xoay vòng, và cô Quinteros cho biết chúng chứa những cuốn sách mà Borges thường xuyên tra cứu, tất cả đều được sắp xếp theo trật tự nhất định và không bao giờ thay đổi để Borges, vốn gần như mù loà, có thể tìm thấy chúng theo vị trí và kích cỡ cuốn sách. Chẳng hạn, mấy cuốn từ điển được sắp cạnh nhau, trong đó có cuốn Webster’s Encyclopedic Dictionary of the English Language đã cũ sờn, được đóng gáy chắc chắn và một cuốn từ điển Anglo-Saxon cũng sờn cũ y như thế. Những cuốn khác, từ mấy cuốn bằng Đức ngữ và Anh ngữ về thần học và triết học cho đến văn chương và lịch sử, trong số đó có cuốn Pelican Guide to English Literature hoàn chỉnh, cuốn Selected Writings của Francis Bacon ấn bản nhà Modern Library, cuốn Poetic Edda của Hollander, cuốn The Poems of Catullus, cuốn Geometry of Four Dimensions của Forsyth, vài cuốn trong bộ English Classics (Kinh điển Anh ngữ) của Harrap, cuốn The Conspiracy of Pontiac của Parkman, và ấn bản Beowulf của nhà Chambers. Cô Quinteros cho biết, gần đây Borges đang đọc cuốn The American Heritage Picture History of the Civil War, mà mới đêm trước thì ông đã mang cuốn The Life of Mahomet của Washington Iriving về nhà mình, và ở đó mẹ ông, nay đã chín mươi, đọc cuốn đó cho ông nghe. Continue reading

Advertisements

Paris Review – Nghệ thuật hư cấu số 195: Phỏng vấn Oe Kenzaburo,

Người phỏng vấn: Sarah Fay

Oe Kenzaburo dành cả cuộc đời để khai thác bất cứ chủ đề nào nghiêm túc – nạn nhân của vụ thả bom nguyên tử ở Hiroshima, những cuộc đấu tranh của người dân Okinawa, thử thách đối với người khuyết tật, kỷ luật trong đời sống học thuật – trong khi bản thân ông bề ngoài lại chả nghiêm túc chút nào! Mặc dù rất nổi tiếng tại Nhật Bản  như một nhà hoạt động phá bĩnh cũng như là một trong những nhà văn thành danh nhất của quốc gia nhưng về phương diện cá nhân Oe, hơn thế, lại là người hài hước đầy mê hoặc. Lúc nào cũng giản dị và bình thản, ông ăn vận trong bộ sơ-mi thể thao, chuyển động không ngừng nghỉ và cười đùa một cách thoải mái. (Henry Kissinger, người ủng hộ to lớn cho những gì mà Oe chống lại, có lần đã bình phẩm về “nụ cười quỉ quái” của ông). Nhà của Oe,  nơi ông dành hầu hết thời gian ngồi trong phòng khách trên một chiếc ghế tựa  bên cạnh là những bản thảo chép tay, sách vở, và một núi những đĩa CD nhạc jazz và nhạc cổ điển, thì cũng thoải mái và khiêm tốn như con người ông. Continue reading

The Paris Review: José Saramago, nghệ thuật hư cấu số 155

Vào ngày 8, tháng 10, năm 1998, sau vài ba năm không được đưa vào danh sách gói gọn chính thức thì José Saramago đã được trao giải Nobel văn học – ông là người Bồ Đào Nha đầu tiên lãnh giải này. Khi được hỏi suy nghĩ của ông khi lên nhận giải, ông trả lời “Tôi sẽ không chịu trách nhiệm cho giải Nobel như những người thắng cuộc trong các cuộc thi sắc đẹp – bị trưng bày khắp nơi. Dĩ nhiên là tôi  cũng không thích loại vinh quang đó”.

José Saramago sinh năm 1922 trong một gia đình lao động nông thôn với thu nhập khiêm tốn tại khu vực trung tâm Ribatejo, Bồ Đào Nha. Khi ông hai tuổi, gia đình chuyển đến Lisbon, nơi cha ông hành nghề cảnh sát. Thời niên thiếu, sự khó khăn về kinh tế khiến Saramago phải chuyển từ một trường phổ thông bình thường sang một trường dạy nghề – sau đó ông làm đủ thứ công việc như thợ máy trước khi chuyển sang viết văn toàn thời gian.

Vào năm 1947, ở tuổi 24, Saramago xuất bản tiểu thuyết đầu tay Mảnh đất tội lỗi. Tựa đề gốc là “Qủa phụ”, rồi nó được đặt tên lại bởi nhà xuất bản với hy vọng cái tựa sách hấp dẫn sẽ giúp bán được nhiều bản hơn. (Saramago sau đó nhận định rằng vào độ tuổi đó ông chẳng biết góa phụ cũng như  tội lỗi là cái gì cả). Trong vòng 19 năm, ông không tái bản trở lại. Năm 1966, tuyển thơ đầu tiên Những bài thơ khả dĩ ra đời; và trong năm 1977 ông xuất bản tiểu thuyết thứ hai Sách dạy vẽ và nghệ thuật viết chữ đẹp. Suốt thập niên 60 và 70, Saramago cũng tích cực làm báo, làm trợ lý giám đốc cho tờ Díario de Notícias một thời gian ngắn, ông tự kiếm sống bằng việc dịch thuật tiếng Pháp. Năm 1969, ông gia nhập Đảng cộng sản Bồ Đào Nha, nơi mà ông luôn là một thành viên tận tụy – các tác phẩm của ông liên hệ phức tạp tới những bài xã luận và chính trị. Continue reading

The Paris Review – Phỏng vấn Eugène Ionesco (Nghệ thuật sân khấu, số 6)

Vài năm  ít ỏi còn lại thì bận rộn một cách khác thường đối với Eugène Ionesco. Sinh nhật lần thứ 70 của ông được tổ chức vào năm 1982 cùng hàng chuỗi những sự kiện, những công bố cùng với những tác phẩm của ông không chỉ ở  Pháp mà trên qui mô toàn thế giới. Hugoliades, bức họa hài hước của Ionesco về Victor Hugo được ông viết khi tuổi đôi mươi là ấn phẩm mới nhất do nhà xuất bản Gallimard ấn hành. Tại Lyon, Roger Planchon, giám đốc nhà hát Théâtre Nationale Populaire, cho diễn vở Chuyến hành trình giữa những người chết , một nghệ thuật giấc mơ kiểu Ionesco, một tác phẩm tự thuật và được rút từ vở kịch gần đây nhất – Người đàn ông mang va-li. Vở lưu diễn trên nước Pháp được hoan nghênh trên cả phương diện phê bình lẫn  đại chúng là nhờ sự trình diễn tại rạp Comédie Française ( Paris). Gần đây, giới biểu diễn trong 2 vở kịch đầu tay của Ionesco đã tổ chức một buổi tiệc sinh nhật cho nhà soạn kịch cũng đồng thời kỷ niệm 25 năm diễn xuất liên tục của cả 2 vở diễn tại rạp Huchette ( Paris).

Trải qua hơn 30 năm, Ionesco được gắn biệt danh là “ Anh hề bi thảm”, “Shakespeare của sự phi lý”, “ Nhà sáng lập hài kịch siêu hình” –  tên gọi chỉ thời kỳ phát triển từ một nhà viết kịch trẻ khởi nghiệp tại một rạp nhỏ Tả ngạn để trở thành một thành viên của Viện hàn lâm Pháp. Khoảng 40 năm qua, Ionesco lập gia đình với Rodika, một người vợ Rumani.Họ chung sống trong một căn hộ tầng lầu kỳ lạ trên đại lộ  Montparnasse thượng La Coupole xung quanh là những bộ sưu tập sách và  tranh của những người bạn cố tri của Ionesco như Hemingway, Picasso, Sartre và Henry Miller. Cuộc phỏng vấn của chúng tôi diễn ra trong một phòng vẽ nơi nhưng bức chân dung của Miró, bức vẽ của Max Ernst cho vở Con tê giác và tuyển tập các tượng thánh La mã và Hy Lạp được treo trang trọng trên tường. Ionesco, người đàn ông nhỏ thó, hói đầu với đôi mắt hiền lành, u buồn dường như là khá yếu ớt trong cái nhìn ban đầu- một ấn tượng hoàn toàn sai lầm do sự hài hước dí dỏm và cách nói năng say sưa của ông gây ra. Bên cạnh là Rodika mảnh khảnh với đôi mắt đen đăm đăm và nước da màu ngà trông như thể một con búp bê phương Đông điềm tĩnh. Suốt buổi phỏng vấn bà mang cho chúng tôi trà và thường xuyên hỏi chúng tôi có cảm thấy ăn ý hay không. Những trao đổi điềm đạm  đầy sự quí trọng của Ionesco và sự lịch thiệp của họ nhắc tôi nhớ tới một số những cặp uyên ương già lão kỳ lạ do Ionesco phác họa trong nhiều những vở kịch của ông.  Continue reading

The Paris Review – Nghệ thuật hư cấu, số 130: Italo Calvino (phần 2, hết)

Calvino, Italo 02

 

Những suy nghĩ trước giờ phỏng vấn

Mỗi sáng tôi tự nhủ, Hôm nay phải viết lách cho ra trò đấy – thế rồi lại có thứ gì đó xảy đến ngăn tôi không viết được. Hôm nay… có gì mà tôi phải làm trong hôm nay nhỉ? À đúng rồi, bọn họ muốn đến phỏng vấn mình. Tôi e là cuốn tiểu thuyết của mình sẽ không nhích tới được bước nào. Luôn có thứ gì đó xảy đến. Mỗi sáng tôi biết luôn là mình sẽ lãng phí cả ngày hôm ấy. Lúc nào cũng có chuyện làm: đến ngân hàng, đến bưu điện, trả tiền cước phí này nọ… luôn có mớ hành chính bùi nhùi nào đó để tôi xử lí. Trong khi ra ngoài thì tôi cũng làm mấy việc vặt như đi chợ cho ngày hôm đó: mua bánh mì, mua thịt hay mua rau quả gì đó. Chuyện đầu tiên là tôi mua báo. Một khi người ta đã mua báo thì họ sẽ bắt đầu đọc nó ngay khi về đến nhà – hoặc ít nhất cũng nhìn vào mấy dòng tít để thuyết phục bản thân là chả có thứ gì đáng đọc. Mỗi ngày, tôi tự nhủ rằng đọc báo là chuyện lãng phí thời giờ, nhưng rồi… tôi không thể làm gì nếu không đọc báo. Chúng như thuốc kích thích vậy. Nói ngắn gọn là chỉ khi chiều về thì tôi mới ngồi trước bàn làm việc được, và bàn làm việc lúc nào cũng chất đống thư từ này nọ đang đợi tôi trả lời mà tôi thậm chí còn không biết đám thư từ đó đã chờ tôi bao lâu rồi, đó đúng là một chướng ngại vật khác cần vượt qua.

Rốt cuộc thì tôi cũng đặt bút viết, rồi những vấn đề thực sự mới bắt đầu xuất hiện. Nếu tôi bắt đầu viết từ con số không, thì đó là thời điểm gian khổ nhất, nhưng cho dù tôi phải viết tiếp thứ đã viết hôm kia, thì bao giờ tôi cũng lâm vào ngõ cụt, nơi đó nảy sinh một chướng ngại mới cần phải vượt qua. Và chỉ khi chiều tà thì tôi mới bắt đầu viết dứt khoát các câu chữ, chỉnh sửa chúng, bôi xoá chúng, rồi viết đè lên những câu này sinh bất chợt, rồi viết lại. Ngay lúc này đây thì thường có chuông điện thoại hay chuông cửa vang lên, tiếp theo là một người bạn nào đó, một vị dịch giả nào đó hoặc một tay phỏng vấn nào đó xuất hiện. Nói đến vụ đó… chiều nay… những tay phỏng vấn… tôi không biết liệu mình có thời gian chuẩn bị không nữa. Tôi có thể rán tuỳ cơ ứng biến nhưng tôi nghĩ một cuộc phỏng vấn cần được chuẩn bị trước để trông có vẻ tự nhiên. Hiếm có lúc nào mà người phỏng vấn hỏi bạn những câu nằm ngoài mong đợi. Tôi đã thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn và kết luận rằng mấy câu hỏi lúc nào cũng y chang nhau. Tôi lúc nào cũng có thể đưa ra những câu trả lời giống nhau. Nhưng tôi nghĩ là mình phải thay đổi câu tả lời thôi, bởi với mỗi cuộc phỏng vấn thì có gì đó thay đổi trong tôi hay ở ngoài cõi sống này. Một câu trả lời đúng cho lần đầu có thể không còn đúng nữa cho lần thứ nhì. Điều này có thể làm cơ sở cho một cuốn sách. Tôi được người ta đưa cho danh sách các câu hỏi, bao giờ cũng giống nhau; mỗi chương sẽ chứa đựng những câu trả lời của tôi đưa ra vào những thời điểm khác nhau. Những thay đổi sẽ chứa những câu trả lời tôi đưa ra vào những thời điểm khác nhau. Những thay đổi khi đó sẽ thành cuộc hành trình, thành câu chuyện nơi trú ngụ của nhân vật chính. Có lẽ theo cách này thì tôi có thể khám phá được những sự thật nào đó về bản thân mình.

Nhưng tôi phải về nhà – sắp tới giờ phỏng vấn rồi.

Xin Chúa giúp tôi!

– Italo Calvino  Continue reading

The Paris Review – Nghệ thuật hư cấu, số 130: Italo Calvino (phần 1)

 

Khi nghe tin Italo Calvino qua đời hồi tháng Chín năm 1985, John Updike nhận xét, “Calvino là nhà văn thiên tài và thông minh. Ông mang tác phẩm hư cấu đến những nơi chốn mới mẻ nào giờ chưa ai từng thấy, và đem nó quay trở về với lối dẫn chuyện từ những nguồn suối cổ tích và cổ xưa.” Ở thời điểm ấy, Calvino là nhà văn Ý xuất chúng, ảnh hưởng từ những tiểu thuyết và mấy câu chuyện huyễn tưởng của ông đã vượt hẳn ra ngoài Địa-trung-hải.

Hai năm trước đó, tờ The Paris Review đã yêu cầu thực hiện phỏng vấn Italo Calvino cho chuyên mục Writers at Work, và uỷ thác nhiệm vụ đó cho William Weaver, dịch giả gắn bó lâu năm với Calvino. Nhiệm vụ đó không bao giờ hoàn thành được, dẫu cho sau này Weaver có viết lại phần giới thiệu như hành động tưởng nhớ. Tuy nhiên sau đó, The Paris Review đã mua lại bản ghi chép từ cuộn băng phỏng vấn Calvino (do Damien Pettigrew và Gaspard Di Caro đạo diễn và sản xuất) và mua cả hồi kí của Pietro Citati, một nhà phê bình người Ý. Ba phần chọn lọc này cùng với đoạn ghi chép những suy nghĩ của Calvino trước lúc phỏng vấn, những thứ đó hợp lại tạo ra một bức tranh ghép, một bức chân dung gián tiếp về nhà văn này.

– Rowan Gaither, 1992  Continue reading