John Berger – Chiếc giường (Dành cho Christoph Hänsli)

 

John Berger
Chiếc giường (Dành cho Christoph Hänsli)
Duy Đoàn chuyển ngữ

Trên chiếc giường khách sạn ấy, không có một ai, trên chiếc giường kế cạnh cũng không. Trong Anh ngữ, tình huống này có thể được xét thành một từ: “no body (không có một ai)” trở thành “nobody (không-ai-cả)”. Ta không thể hỏi. Không-ai-cả là ai? Hoặc có lẽ ta có thể hỏi (như những ống nước chảy ồng ộc phòng bên) nhưng không câu đáp nào sẽ đến.

Không-ai-cả là không ai cả và cả hai giường đều trống trải. Thậm chí còn không có một nếp nhăn, một dấu vết. Có không-ai-cả.

Không-ai-cả là người yêu dấu của anh hay của tôi, và không-ai-cả là mọi cặp đôi từng chiếm lĩnh căn phòng này. Suốt nhiều năm họ lên tới hàng ngàn người. Họ nằm không ngủ. Họ làm tình. Họ vươn người khắp cả hai giường vốn được kéo lại cạnh nhau. Họ ép vào nhau trên một chiếc giường đôi. Họ về nhà vào hôm sau hoặc họ không bao giờ gặp nữa. Họ kiếm ra tiền hoặc đánh mất nó. Họ bội phản nhau. Họ cứu vớt nhau. Continue reading

Advertisements

Perry Link – Khúc thọ nạn của Lưu Hiểu Ba

Ảnh: Liu Xa/New York Review of Books

Perry Link

Khúc thọ nạn của Lưu Hiểu Ba

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Vào cuối thập niên 1960, Mao Trạch Đông 毛泽东, Đại Đà thủ (大舵手/Great Helmsman) của Trung-quốc, khuyến khích trẻ em và thiếu niên nên đối đầu với giáo viên và bố mẹ chúng, tiệt trừ “ngưu quỷ xà thần”, và nói cách khác là “làm cách mạng”. Thực tế điều này nghĩa là đóng cửa các trường học ở Trung-quốc. Trong những thập niên sau đó, nhiều người đã chỉ trích sự thiếu giáo dục của một thế hệ.

Lưu Hiểu Ba 刘晓波, khôi nguyên Nobel Hoà bình, người bị kết án 11 năm vì tội “khích động lật đổ” chính quyền Trung-quốc, và người đã chết vì ung thư gan hồi thứ Năm (13/7/2017), chính là người minh hoạ cho một hình mẫu khác. Lúc trường học đóng cửa, Lưu, sinh năm 1955, được 11 tuổi, nhưng dẫu sao ông cũng đọc sách, ở bất cứ chỗ nào ông có thể tìm thấy sách. Với việc không giáo viên nào bảo ông biết chính phủ muốn ông nghĩ gì ở những cuốn sách ông đọc, ông bắt đầu tự mình suy tư lấy—và ông yêu thích việc này. Mao tình cờ đã dạy ông một bài học vốn đối nghịch trực tiếp với mục tiêu của chính Mao trong việc cải đổi trẻ em thành những “hồng tiểu binh”.

Nhưng trải nghiệm này chỉ giải thích được một phần cho tính độc lập ngoan cường của Lưu. Tính này có vẻ còn là một đặc điểm bẩm sinh. Nếu có một loại gien dành cho sự thẳng thừng, Lưu có thể có nó. Vào thập niên 1980, trong khi hãy còn là sinh viên cao học ngành văn chương Trung-quốc, ông đã nổi danh như là một “hắc mã” vì ông lên án gần như mọi nhà văn Trung-quốc đương thời: ngôi sao văn chương Vương Mông 王蒙 là tay giảo hoạt chính trị; những cây bút “tầm căn 寻根 (tìm về nguồn cội)” như Hàn Thiểu Công 韓少功 lại quá sức lãng mạn khi nói về giá trị của những truyền thống Trung-quốc; thậm chí những vị anh hùng lên tiếng vì người dân như Lưu Tân Nhạn 刘宾雁 lại quá sẵn sàng phó thác hi vọng vào những lãnh đạo Cộng sản theo “tự do chủ nghĩa” như Hồ Diệu Bang 胡耀邦. Không ai có đủ tinh thần độc lập. Ông viết vào năm 1986, “Tôi có thể tóm gọn trong một câu cho thấy chuyện gì bất ổn đối với các nhà văn Trung-quốc. Họ không tự mình viết sáng tạo được—họ chỉ đơn giản là không có năng lực đó—vì chính cuộc đời của họ không thuộc về họ.” Continue reading

Viet Thanh Nguyen – Tiểu thuyết lớn về Chiến tranh Việt-nam đã không được viết bởi người Mĩ

 

Viet Thanh Nguyen

Tiểu thuyết lớn về Chiến tranh Việt-nam đã không được viết bởi người Mĩ

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Năm 1967, Le Ly Hayslip, khi ấy được biết với tên Phùng Thị Lệ Lý, còn là một thiếu nữ sinh sống và làm việc ở Đà-nẵng. Một cô gái nông thôn vốn đã sống sót qua được cuộc chiến tranh và nạn cưỡng hiếp ở ngôi làng miền quê của mình, cô chuyển tới Đà-nẵng cư trú để thoát khỏi tệ ngược đãi từ phe Cộng sản lẫn phe chống Cộng người Việt. Năm 1972, cô lấy một người Mĩ và chuyển tới Hoa-kì, và vào năm 1989 cô xuất bản một bản văn mãnh liệt kết thuật đời mình về việc bị mắc kẹt giữa hai phe, cuốn “When Heaven and Earth Changed Places (Khi trời và đất hoán chỗ dời nơi)”. Năm 2017, đây có lẽ là cuốn sách duy nhất bằng tiếng Anh có góc nhìn ngôi thứ nhất viết về những trải nghiệm của người dân quê Việt-nam bị kẹt giữa làn đạn hai bên trong thời Chiến tranh Việt-nam. Trong cuộc đời và tác phẩm của mình, cô Hayslip đã thể hiện được định nghĩa rộng của tôi về ý nghĩa của việc là người Việt-nam, một căn cước vốn bao gồm những người ở Việt-nam hoặc những người đang lưu tán, cũng như bao gồm những người viết bằng tiếng Việt hoặc bằng những thứ tiếng khác, trong trường hợp này là bằng tiếng Anh. Continue reading

Viet Thanh Nguyen – Ngợi ca lòng hoài nghi và cái vô dụng

Viet Thanh Nguyen

Ngợi ca lòng hoài nghi và cái vô dụng

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Gần đúng 20 năm trước, tôi đến Los Angeles vào tháng Sáu. Trước đó tôi đã nhận bằng tiến sĩ ở trường University of California, Berkeley vào tháng Năm và đã bước sang tuổi 26 vào tháng Hai. Mùa hè năm ấy, tôi tìm được một căn hộ nhỏ ở Silver Lake và bắt đầu chuẩn bị sự nghiệp mới ở cương vị giáo sư trường University of Southern California. Tôi nhìn lại bản thân mà trong lòng cảm thấy mịt mờ và cảm thông, vì có nhiều thứ tôi không biết lúc tôi 26 tuổi. Tính ngây thơ của tôi đã bảo vệ tôi khi tôi ngồi xuống viết ở cái bàn nhỏ trong nhà bếp và trong mùa hè nóng ngột ngạt đầu tiên ở Los Angeles tôi khởi sự một tập truyện ngắn.  Nếu tôi biết tập truyện này sẽ làm tôi tiêu tốn mất 17 năm mới hoàn thành, và thêm ba năm nữa mới xuất bản được, thì có lẽ tôi thậm chí không bao giờ khởi sự việc làm ấy.

Nhưng sự vô tri đôi khi – không phải luôn luôn, mà là đôi khi – có thể hữu ích tựa như tri thức vậy. Vô tri hữu ích khi ta nhận thức được nó. Trong trường hợp của tôi, nói như vị cựu bộ trưởng Quốc phòng, tôi biết điều tôi không biết, và tôi biết rằng tôi muốn biết nó, nhưng tôi không biết làm sao để biết nó. Tôi biết rằng tôi muốn viết văn, và tôi biết rằng tôi muốn tạo ra công cuộc nghiên cứu mang tính cách tân, nhưng tôi không biết cách nào làm cả hai điều ấy. Tôi cũng biết rằng các trường đại học không tưởng thưởng cho sự vô tri, hoặc cho lời thú nhận về sự vô trí, và thế là tôi giữ cái vô trí ấy cho bản thân rồi vờ như tôi biết mình sẽ làm gì. Continue reading

Robin Wood – Về bộ phim Ugetsu monogatari (1953) của Mizoguchi Kenji

ugetsu-monogatari-1953

Robin Wood

Về bộ phim Ugetsu monogatari (1953) của Mizoguchi Kenji

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Ugetsu monogatari không phải phim đầu tiên của Mizoguchi Kenji được chiếu ở Tây phương, nhưng đây là phim đầu tiên để trưng ông ra trước Tây phương ở vai trò một nghệ sĩ lớn. Sau khi nhanh chóng tự đặt định mình (đặc biệt ở Pháp) trong nhiều danh sách “tốp 10” của nhiều nhà phê bình, bộ phim đã mở lối đón nhận sự tán thưởng dành cho sự nghiệp cuối đời của Mizoguchi. Đối với một số người, ông trở thành một nhà làm phim đại tài, một Shakespeare trong điện ảnh, một người đã hiện thực hoá tối đa cái tiềm năng của phim ảnh như một hình thức nghệ thuật. Đó là lúc mà “tiềm năng của phim ảnh” được công chúng cảm thấy là đã được nhìn nhận và được giải trình xác đáng nhờ công của André Bazin; và đó là sự đánh giá vẫn còn có thể chấp nhận được nếu ta thêm điều kiện là Bazin chỉ trình bày một trong số nhiều tiềm năng của phim ảnh. Continue reading

Andrew J. Nathan – Kim Jong-un là ai?

Andrew J. Nathan

Kim Jong-un là ai?

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Bài điểm sách cho những cuốn sau:

Tyranny of the Weak: North Korea and the World, 1950–1992

của Charles K. Armstrong

Cornell University Press, 307 tr., 35$; 24,95$ (bản bìa mềm)

Marked for Life: Songbun, North Korea’s Social Classification System

của Robert Collins

Committee for Human Rights in North Korea, 119 tr., có văn bản tại www.hrnk.org

 The Real North Korea: Life and Politics in the Failed Stalinist Utopia

của Andrei Lankov

Oxford University Press, 315 tr., 18,95$ (bản bìa mềm)

Pyongyang Republic: North Korea’s Capital of Human Rights Denial

của Robert Collins

Committee for Human Rights in North Korea, 177 tr., có văn bản tại www.hrnk.org 

The Cleanest Race: How North Koreans See Themselves—And Why It Matters

của B.R. Myers

Melville House, 200 tr., 19,99$

Lãnh tụ Bắc Triều-tiên Kim Jong-un đi thị sát trại thiếu nhi Manyongdae ở Bình-nhưỡng; bức ảnh không rõ ngày tháng, được công bố ngày 4 tháng Sáu năm 2016 bởi Thông tấn xã Trung ương Triều-tiên (조선중앙통신사 - Korean Central News Agency) thuộc chính quyền Bắc Triều-tiên. (Ảnh: KCNA/Reuters)

Lãnh tụ Bắc Triều-tiên Kim Jong-un đi thị sát trại thiếu nhi Manyongdae ở Bình-nhưỡng; bức ảnh không rõ ngày tháng, được công bố ngày 4 tháng Sáu năm 2016 bởi Thông tấn xã Trung ương Triều-tiên (조선중앙통신사 – Korean Central News Agency) thuộc chính quyền Bắc Triều-tiên. (Ảnh: KCNA/Reuters)

Hai má phúng phính và kiểu tóc loe của nhà cai trị trẻ tuổi Kim Jong-un xứ Bắc Triều-tiên, mối giao tình với cựu ngôi sao bóng rổ xăm trổ đầy mình Dennis Rodman, cùng nụ cười toe toét như trẻ vui đùa khi đứng trước những đợt phóng tên lửa, hết thảy kết hợp một cách kì dị với việc chế độ này quyết tâm nhấn chìm kẻ thù trong “biển lửa”. Những điểm đó làm cho phương Tây vừa có mối ác cảm vừa có thái độ giễu cợt đối với đất nước này. Nhiều người tiên đoán rằng Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều-tiên không thể tồn lưu lâu hơn nữa, khi xét đến tình trạng đói nghèo ở khắp nước này, một hệ thống trại tù chuyên giết hại người vốn được khép vào tội ác chống nhân loại theo xác định của một uỷ hội điều tra của Liên hợp quốc,[1] khi xét đến tình trạng tự áp đặt thế cô lập kinh tế, tình trạng đương đầu với hết thảy các nước láng giềng, cùng sự non nớt thiếu kinh nghiệm của lãnh tụ nước này. Chính quyền Obama đã vận dụng lập trường “kiên nhẫn chiến lược”, chờ đợi những lệnh chế tài quốc tế ngày càng dữ dội sẽ buộc Bắc Triều-tiên hoặc phải từ bỏ các loại vũ khí hạt nhân hoặc phải lâm vào tình trạng nội phá (implode) và bị thâu tóm bởi chính phủ Nam Triều-tiên thân Tây phương.

Nhưng kẻ láng giềng thân cận khác của Bắc Triều-tiên, Trung-quốc, chưa bao giờ mong đợi CHDCND Triều-tiên đầu hàng hay sụp đổ, và cho đến nay họ vẫn đúng. Thay vì từ bỏ bom hạt nhân và các chương trình tên lửa, Bình-nhưỡng đến nay được cho là có tầm mười đến hai mươi thiết bị hạt nhân và hơn một nghìn tên lửa tầm ngắn, tầm trung và tầm xa, và đang phát triển một đầu nổ dạng nén vốn có thể công phá nội địa Hoa-kì.

Ở Triều-tiên, chế độ này gần đây đã qua được bài thử thách ngặt nghèo nhất mà các chế độ toàn trị phải đối diện, quá trình kế nghiệp vị trí lãnh tụ. Nước này chịu sự cai trị của Kim Il-sung từ năm 1948, khi kết thúc thời gian chiếm đóng của Xô-viết thời hậu chiến ở Bắc Triều-tiên, cho đến khi ông ta mất vào năm 1994; tiếp theo là sự cai trị của người con trai Kim Jong-il, từ năm 1994 cho đến khi ông này mất năm 2011; và kể từ 2011 là dưới sự cai trị của cháu trai người sáng lập, Kim Jong-un. Jong-un là con trai út trong nhà và là người kế vị bất ngờ; y trỗi lên như người thừa tự rõ ràng chỉ hai năm trước khi cha y mất, ngược lại với cha y, vốn là người thừa tự rành rành trong suốt 20 năm. Người ta tin rằng Kim Jong-il đã điều hành việc khủng bố, làm hàng giả, buôn lậu và các chiến dịch phổ biến vũ khí trong hầu hết thời gian tại vị. Continue reading

Louis Menand – Về dòng sách tự trợ (self-help)

Louis Menand

Về dòng sách tự trợ (self-help)

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Cách thành công trong công việc và trong gia đình.

Liệu việc trở thành một người làm việc năng suất cao hơn có khiến bạn trở thành một con người tốt hơn? (Hình: Richard Mcguire)

Liệu việc trở thành một người làm việc năng suất cao hơn có khiến bạn trở thành một con người tốt hơn?
(Hình: Richard Mcguire)

“Smarter Faster Better: The Secrets of Being Productive in Life and Business” (Random House) là cuốn sách tiếp theo một tác phẩm đắt hàng của ông, “The Power of Habit: Why We Do What We Do in Life and Business”, được xuất bản năm 2012. Cuốn sách mới này, giống cuốn trước, có một định dạng quen thuộc trong lĩnh vực phi hư cấu đương thời: nhiều câu chuyện tiêu biểu được sáp nhập với một chút kiến thức về khoa học xã hội và khoa học nhận thức (cognitive science). Mục đích của những câu chuyện này là để tạo ra những câu chuyện thú vị làm lay động người đọc; mục đích của phần khoa học là để trợ giúp tác giả chọn ra một đặc điểm tái dụng được của những câu chuyện đó để độc giả có thể phỏng theo.

Điều gì khiến cho viên phi công hạ cánh được chiếc phi cơ bị hư hại trầm trọng? Làm thế nào một kẻ bỏ học đại học với chứng rối loạn âu lo (anxiety disorder) lại trở thành quán quân bài poker? Điều gì khiến cho “West Wide Story” và “Frozen” của Disney trở thành thứ hút khách? Hoá ra, toàn bộ điều cần làm chính là thao tác tinh chỉnh then chốt đối với guồng vận hành trí óc thường tình hoặc đối với động lực quần thể (group dynamics). Các “mô hình tinh thần” giúp cho viên phi công hạ cánh chiếc phi cơ ấy. “Lối tư duy kiểu Bayes” làm cho một gã khốn cùng thoát thai thành người thắng cuộc trong môn đánh bài. Một “tay môi giới sáng ý (innovation broker)” đã chỉnh lí “West Side Story”, và “Frozen” trở thành bộ phim hoạt hình có tổng doanh thu cao nhất mọi thời nhờ vào một nguyên lí được biết với tên “can nhiễu trung độ (intermediate disturbance)”. Continue reading

Ian Johnson – Những kẻ thao túng kí ức ở Trung-quốc

Ian Johnson

Những kẻ thao túng kí ức ở Trung-quốc

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Giới cai trị của đất nước này không chỉ bưng bít lịch sử, họ còn tái tạo lịch sử nhằm phục vụ thời hiện tại. Họ biết rằng, trong một nhà nước cộng sản, sự thay đổi thường bắt đầu xảy ra khi quá khứ bị thách thức

 

Khi tôi lần đầu đến Trung-quốc năm 1984, bạn đồng học ngoại quốc và tôi tại trường Đại học Bắc-kinh thường chơi một trò cùng với cuốn sách hướng dẫn cũ. Có nhan đề Nagel’s Encyclopaedia Guide: China (Hướng dẫn toàn thư của Nagel: Trung-quốc), được xuất bản lần đầu năm 1968 tại Thuỵ-sĩ và có nhiều mô tả về các địa điểm văn hoá quan trọng được giới ngoại giao và học giả Pháp ghé thăm. Điều mấu chốt đối với chúng tôi là họ đã tập hợp thông tin hồi thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. Nói cách khác, những thông tin này ở thời điểm ngay trước khi Mao phát động cuộc Cách mạng Văn hoá huỷ hoại hàng vạn nơi thờ phụng và địa điểm lịch sử ở khắp Trung-quốc. Chúng tôi tra một nơi ở Bắc-kinh và cưỡi xe đi để xem còn lại những gì.

Tôi nhớ một chuyến đi tìm Ngũ Tháp Tự (五塔寺 – Five Pagoda Temple), được xây dựng cuối thế kỉ 15 và có 5 cái tháp nhỏ nằm trên một bệ đá lớn. Sách của Nagel ghi rằng hầu hết đã bị tiêu huỷ vào thời tao loạn cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, nhưng vẫn còn đó 5 cái tháp. Mấy tấm bản đồ năm 1980 của chúng tôi cho thấy không có gì, nhưng sách của Nagel làm chúng tôi thấy hiếu kì. Liệu nó còn tồn tại? Continue reading

Italo Calvino – Tại sao đọc tác phẩm kinh điển?

 

Italo Calvino

Tại sao đọc tác phẩm kinh điển?

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Patrick Creagh (có tham khảo thêm bản dịch Anh ngữ khác của Martin McLaughlin)

 

Ta hãy bắt đầu bằng một vài định nghĩa được đề xuất.

1) Tác phẩm kinh điển là những cuốn sách mà ta thường nghe người khác nói: “Tôi đang đọc lại…” và chưa bao giờ nói “Tôi đang đọc…”

Chí ít điều này xảy ra ở những người tự xem mình là “đọc nhiều”. Nó không đúng cho những người trẻ ở độ tuổi mà lần đầu tiên chạm trán cõi sống này, và những tác phẩm kinh điển vốn là một phần của cõi sống đó.

Cái chữ “lại” nằm kế động từ “đọc” có thể là một thói đạo đức giả nho nhỏ của những người thấy xấu hổ khi thừa nhận họ chưa đọc một cuốn sách nổi tiếng nào đó. Để trấn an họ, chúng ta chỉ cần nhận định rằng, dẫu cho mức đọc căn bản của bất kì ai có rộng lớn đến đâu, thì vẫn còn đó một lượng khổng lồ các tác phẩm nền tảng mà họ chưa đọc.

Giơ tay lên nào, ai đã đọc toàn tập Herodotus và toàn tập Thucydides! Và Saint-Simon? Và Hồng y de Retz? Nhưng ngay cả những bộ tiểu thuyết vĩ đại của thế kỉ mười chín cũng thường được nói đến nhiều hơn là được đọc. Ở Pháp họ bắt đầu đọc Balzac ở nhà trường, và khi đánh giá theo số lượng bản in lưu hành, ta có thể cho rằng họ tiếp tục đọc ông ấy thậm chí sau khi ra trường, nhưng nếu một cuộc bỏ phiếu Gallup được thực hiện tại Ý, tôi e rằng Balzac sẽ xuất hiện gần cuối danh sách. Người hâm mộ Dickens tại Ý hình thành một tầng lớp ưu tú bé nhỏ; ngay khi các thành viên gặp nhau, họ bắt đầu tán gẫu về các nhân vật và các tập sách như thể họ đang bàn luận về những người hay những thứ mà họ có quen biết. Nhiều năm trước, khi dạy ở Mĩ, Michel Butor chán ngán việc bị người ta hỏi về Emile Zola, người mà ông chưa bao giờ đọc trước đó, thế là ông quyết định đọc tất cả bộ Rougon-Macquart. Ông thấy nó hoàn toàn khác với những gì mình đã nghĩ: một gia phả tuyệt diệu mang chất thần thoại và nguồn gốc vũ trụ, mà sau đó ông miêu tả nó trong một bài luận tuyệt vời. Continue reading

The Routledge Dictionary of Politics – Dân chủ (democracy)

Dân chủ là khái niệm chính trị được xem trọng nhất và có lẽ cũng mơ hồ nhất trong thế giới hiện đại. Các hệ thống chính trị đa dạng như Mĩ, nhiều nhà nước độc đảng tại châu Phi và các nhà nước cộng sản đều tự miêu tả bản thân như là nền dân chủ. Thực vậy, đây là đặc tính cho sự mơ hồ mà khi hội nghị UNESCO bàn về dân chủ được tổ chức năm 1950, trong hơn 50 quốc gia, đại diện cho một loạt đa dạng các hệ thống chính trị khác nhau, thì mỗi quốc gia đều khẳng định rằng họ (và đôi khi khẳng định chỉ mỗi họ) là nền dân chủ.

Từ ‘democracy’ (dân chủ) thoát thai từ hai từ Hi-lạp cổ: demos (‘người dân’) và kratos (‘sức mạnh’). Tự thân nó thì dân chủ không khác gì so với cái ý rằng, theo ý nghĩa chưa xác định nào đó, quyền lực chính trị kì cùng nằm trong tay của toàn bộ cư dân trưởng thành, và không nhóm nhỏ nào có quyền cai trị. Dân chủ chỉ mang nghĩa hữu dụng hơn khi được bổ nghĩa bằng từ khác mà nó có liên hệ, ví dụ dân chủ tự do (liberal democracy), dân chủ đại diện (representative democracy), dân chủ tham gia (participatory democracy) hoặc dân chủ trực tiếp (direct democracy).

Những ai khi tìm cách biện giải cho danh xưng ‘dân chủ’ dành cho một xã hội mà ở đó quyền lực rõ ràng nằm trong tay một bộ phận cư dân (ví dụ, ở nhiều nước thuộc Thế giới thứ ba hoặc các nước cộng sản), thì họ đều có ý tương đối khác. Khẳng quyết đó không thực sự bảo rằng người dân cai trị, mà bảo rằng dân được cai trị theo những lợi ích của riêng mình. Trước khi xảy ra các biến động do Mikhail Gorbachev khởi xướng tại Liên-xô, những người bảo vệ hệ thống vận hành tại nước này đã khẳng quyết rằng cho đến khi thực hiện được tiến bộ về kinh tế và xã hội, và ‘con người xã hội chủ nghĩa’ đích thực được tạo ra từ giáo dục, tức là cho đến khi đám đông không còn nhận thức sai lầm (false consciousness) của mình, thì các thủ tục dân chủ vẫn là thứ còn hơn cả vô dụng. Lập luận của họ là người dân không thể được cho chọn giới lãnh đạo của chính mình, hoặc có được những lựa chọn chính trị của bản thân, cho đến khi tầm nhìn của họ thực sự thoát khỏi sự xuyên tạc và họ có thể xác định những nhu cầu thực sự mà họ cần đến. Phiên bản dân chủ này có mối nối kết gần gũi với lí thuyết về tự do tích cực (positive liberty). Continue reading