Hồ Tài Huệ Tâm (Giáo sư Đại học Harvard) – Gái nước Nam

Hồ Liễu dịch

Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh
Tục ngữ Việt nam

Trích trong cuốn Thuyết cấp tiến và cội nguồn của Cách mạng Việt nam / Radicalism and the Origins of the Vietnamese Revolution, Hue-Tam Ho Tai, Ấn quán Đại học Harvard, 1992, trang 88–113.

 

Vào năm 1925, ngoại tôi cho chụp một bức ảnh chụp hai cô con gái đầu, dì và mẹ. Nhìn lúng túng trong áo dài và kiểu tóc chải chuốt, hai thiếu nữ, ở độ tuổi 17 và 12, dường như e lệ và chưa chạm với đời. Còn tồn tại một bức ảnh khác của Nguyễn Trung Nguyệt, dì hai, chụp chỉ bốn năm sau đó. Trong bức ảnh ấy, dì không còn mặc lễ phục nhiều màu diêm dúa của một cô con gái nhà Nho, nhưng mặc áo bà ba của phụ nữ nông dân. Dì ngó đăm đăm vào máy ảnh với đôi mắt thách thức: đó là một hình phạm nhân của công an. Tôi đã tìm thấy nó trong văn khố của Sở An ninh Pháp.

Vào lúc bị bắt, dì Nguyệt phụ trách việc tuyển mộ phụ nữ vào Việt nam Thanh niên Đồng chí hội, một tổ chức chống thực dân mà Nguyễn Ái Quốc đã thành lập trong những người Việt lưu vong ở Trung quốc năm 1925. Dì trải qua tám năm kế tiếp của đời mình trong nhà tù sau khi qua một phiên toà gây chấn động, trong suốt phiên toà thanh danh của dì bị nát tan và dì bị đóng dấu là một phần tử cách mạng nguy hiểm. Câu chuyện về sự can dự ngắn ngủi và bi đát của dì Nguyệt vào chính trị cách mạng là đáng quan tâm không bởi những khía cạnh lâm li của nó, nhưng bởi dì quá là một sản phẩm của thời mình. Tuy vậy, trong khi hầu hết những người đương thời dì trong cuộc Cách mạng Việt nam thường tiến cấp từ sự nổi dậy nhân thân tới việc dấn thân chính trị, bản thân dì Nguyệt làm một hành trình khác. Chính chữ hiếu đã dẫn dì tới chủ nghĩa ái quốc và tới nữ quyền.

Như Nguyễn An Ninh, Nguyễn Trung Nguyệt cũng xuất thân từ một gia đình mật thiết thiên về học thuật và những tình tự chống thực dân. Và như ông ấy, dưới ảnh hưởng của những người thân quyến ái quốc, dì trở thành một người nổi dậy đầy bổn phận, một người nhiệt liệt bài trừ thánh tượng. Nguyễn An Ninh kêu gọi một giới trẻ dường như trung lập về giới tính nhưng thực sự là phái nam để kết hợp sự tìm kiếm của giới này về tự do nhân thân với sự độc lập quốc gia. Nguyễn Trung Nguyệt đại diện cho cuộc hôn nhân của nữ quyền với chủ nghĩa chống thực dân bên trong Cách mạng Việt nam. Mãi tới khi dì dời nhà sau những cuộc bãi trường của học sinh năm 1926, dì Nguyệt đã không lộ ra những dấu hiệu muốn nêu lên lí tưởng về giải phóng phụ nữ. Nhưng trong lúc dì trưởng thành, vai trò của phụ nữ ở Việt nam đã trở thành một điểm chủ chốt của sự đối đầu giữa những người tiến bộ và những người bảo thủ về văn hoá. Hơn nữa, vì những tranh chấp về văn hoá và đạo đức thường có một tầng ngầm chính trị, vấn đề của phụ nữ vận hành như một thuyết ngôn về tự do, trong đó những khác biệt giữa những mối quan tâm về nhân thân và quốc gia trở nên mơ hồ và hoà lẫn với nhau.  Continue reading

Advertisements

Shawn McHale – In ấn và quyền lực: Những tranh luận Việt nam về địa vị của đàn bà trong xã hội, 1918-1934

IN N VÀ QUYN LC: NHNG TRANH LUN VIT NAM V ĐA V CA ĐÀN BÀ TRONG XÃ HI, 1918–1934

Shawn McHale

Đại học Case Western Reserve

Hồ Liễu dch

Những người nghiên cứu về lịch sử Việt nam quen thuộc với sáo ngữ rằng đàn bà Việt hưởng quyền lực nhiều hơn những người tương ứng Trung quốc của họ. Tuy nhiên, các học giả đã ít phân tích những văn bản viết về hoặc do đàn bà trong thời kì thuộc địa và sản xuất ra ít bản nghiên cứu lịch sử về đàn bà Việt. Tiểu luận của tôi xem xét cung cách mà đàn ông và đàn bà thuộc giới ưu tú bắt đầu tưởng tượng lại địa vị của đàn bà trong xã hội, và cứu xét vai trò mà một nền văn hoá in ấn hiện xuất đảm nhiệm trong sự tái quan niệm này. Tôi tập trung vào những tranh luận về sự bình đẳng của đàn bà và sự giải phóng của đàn bà đã xảy ra giữa hai cuộc thế chiến.[1]

Trọng tâm bài tiểu luận của tôi sẽ là một sự so sánh của một tập hợp những văn viết xuất hiện trên tờ N gii chung [Tiếng chuông cho đàn bà] vào năm 1918 cùng với một tập hợp khác được công bố trên tờ Ph n tân văn [Báo đàn bà] trong đầu thập niên 1930. Năm 1918, những người viết trên N gii chung đã đề cập tới nam nữ bình quyền trong khuôn khổ của sự hợp tác Pháp-Việt. Tới thập niên 1930, những người viết báo thuộcPh n tân văn đã theo một lập trường mang tính hoạt động xã hội hơn và dấn thân vào những cuộc tranh luận sôi nổi về việc giải phóng phụ nữ. Họ bác bỏ một thái độ hợp tác dễ dãi và đôi lúc chất vấn những định chế cơ bản, như gia đình, và những giá trị Nho giáo mà qua đó những định chế này đã được hiểu. Sự xuất hiện của mỗi tập hợp các bài báo bị phân cách khoảng mười lăm năm, tuy vậy một thay đổi lớn lao thì hiển nhiên trong những tri giác của giới ưu tú về vai trò của đàn bà trong xã hội.

Những bài viết mà tôi cứu xét, chẳng hạn những phê bình đương thời về xã hội Việt, cũng minh hoạ chiều sâu của sự khủng hoảng phát sinh do sự hội ngộ thuộc địa. Suốt thời kì này, đàn ông và đàn bà Việt đặt những câu hỏi thăm dò về địa vị của đàn bà trong gia đình và trong xã hội. Họ nhìn tới Trung quốc, Nhật bản, và phương Tây cho cảm hứng trong việc tái công thức những vai trò của đàn bà. Tới nửa sau thập niên 1920, một ít đàn bà Việt hướng tới ch nghĩa ph n [nữ quyền], và cô gái tân thời phô trương những cung cách phương Tây nổi trội trong giới ưu tú. Hoặc thảo luận về tình yêu, những quyền của đàn bà, việc tự sát, hoặc nghĩa vụ Nho giáo của đàn bà, những văn viết của thời kì muộn hơn chuẩn đoán tinh tế nhiều “căn bệnh” tác động lên đàn bà Việt dù một số phương thuốc được gợi ý (chẳng hạn như bỏ gia đình) bây giờ dường như không thực tế.

Luận văn này sẽ không chỉ phân tích một tập hợp những văn bản về địa vị của đàn bà trong thời Việt nam thuộc địa. Nó cũng thăm dò vấn đề về cách nào để tiếp cận những văn bản này và người Việt thời đó đọc chúng ra sao. Hướng tới mục đích này, tôi sẽ mô tả mối quan hệ của những văn bản được lựa chọn với một “văn hoá in ấn” hiện xuất, cố định giá sự hưởng ứng của độc giả tới những văn bản, và thảo luận về cộng đồng đàn bà thiết lập thính giả (nhưng không chỉ) chính về cả hai tờ báo này. Thay vì thông giải những văn bản như thể chúng không nhập thể trong thời gian và không gian, bài viết này áp dụng một lối tiếp cận theo lịch sử. Như nhà sử gia Pháp Roger Chartier đã cho rằng, chúng ta phải kết nối thế giới biểu tượng của văn bản với những thực hành được điều kiện hoá theo lịch sử giúp mang ý nghĩa tới việc đọc. Tôi sẽ quan tâm đặc biệt tới mối quan hệ giữa việc đọc và ngữ cảnh của nó trong khi thăm dò những cung cách mà việc đạt tới chữ in và “văn hoá in ấn” đã chuyển đổi từ 1918 tới 1934. Thực sự, một sự hiểu biết sơ sài về những khác biệt trong văn hoá in ấn của mỗi thời kì, và mối quan hệ của độc giả với chữ in, giúp chúng ta đặt định những văn bản trong khung cảnh thích hợp của chúng. Câu hỏi trung tâm dẫn dắt Chartier trong những điều tra về nước Pháp thời Chế đ(Ancien Regime, tức thời Quân chủ) cũng hướng dẫn tôi ở đây: Sự lưu thông gia tăng của chữ in đã biến cải những dạng thức của xã hội tính, cho phép những cung cách mới về suy nghĩ, và làm thay đổi những tương quan về quyền lực ra sao?”[2]  Continue reading

David G. Marr – Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

David G. Marr (Trường Đại học Quốc gia Úc)

Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

Duy Đoàn chuyển ngữ, Nguyễn Tiến Văn hiệu đính

 

Nói về mặt chính trị, Tuyên ngôn Độc lập do Hồ Chí Minh đọc trước đám đông ở Hà-nội vào ngày 2/9/1945 là một trong những văn bản quan trọng nhất trong lịch sử Việt-nam thời hiện đại. Đối với nhiều người thì nó biểu trưng cho hồi cáo chung của sự cai trị ngoại quốc, mặc dù chuyện này còn cần đến chín năm thử thách bằng máu lửa. Chắc chắn nó đánh dấu việc thành lập nước Việt-nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH), tiền thân của hệ thống nhà nước ngày nay, mặc dù ông Hồ đã cẩn trọng gọi tên chính quyền của mình là lâm thời, đợi tổng tuyển cử cả nước và ban hành hiến pháp.

Cơ bản hơn thì bản Tuyên ngôn chứa đựng một thế giới quan đầy kịch tính, một lịch sử cô đặc, một vài khẳng định táo bạo, những cụm từ sinh động, và hình tượng đầy cảm xúc – tất thảy những điều này nhằm cố gắng thu hút trí tưởng tượng của trước tiên là những khán thính giả trực tiếp trong số hàng mấy trăm ngàn người, và sau đó là của hàng triệu người Việt-nam khi họ nghe lại bài đọc đó hoặc đọc nó trên báo chí. Cùng với hình ảnh trực quan của một quý ông mảnh khảnh  lúc tuyên bố độc lập cho Việt-nam sau tám mươi năm chịu ách nô dịch, những điều Hồ Chí Minh nói với người dân ngày ấy đã giúp tiếp nhiên liệu tranh đấu sau đó chống trước tiên là việc quay lại của người Pháp, và tiếp sau là người Mĩ. Mỉa mai thay, tuy những phần then chốt trong bản Tuyên ngôn không nhắm trực tiếp đến người Việt mà nhắm đến người nước ngoài nhưng lại bị phần lớn những thành phần được nhắm tới đó làm lơ đi.

Hồ Chí Minh từ vùng đồi núi bắc bộ tới Hà-nội trước đó chỉ một tuần, được che đậy bí ẩn và được nhanh chóng chuyển tới chỗ ở bí mật ở phố Hàng Ngang để đề phòng những đòn tấn công phủ đầu của nhiều phe đối thủ. Việt Minh đã kiểm soát hầu hết các toà nhà chính phủ từ ngày 19 tháng Tám, và có nhiều bằng chứng cho thấy sự ủng hộ của quần chúng đối với chính quyền mới chớm, tuy vậy không thể loại trừ sự phản công của quân đội Nhật hoặc của lực lượng cảnh vệ Pháp, chưa đề cập đến việc có thể có kẻ sát thủ đơn độc người Việt nào đó. Bên ngoài những khả năng báo điềm gở như vậy, ông Hồ có thể nhận ra được rằng khi tránh lộ diện trước lúc xuất hiện chung cuộc của mình trước bàn dân thiên hạ thì ông sẽ làm tăng lên hiệu ứng kịch tính, làm tăng vầng hào quang của sự tò mò và làm tăng sự phỏng đoán đầy hào hứng vốn đã vây xung quanh ông rồi.

Suốt những tháng ngày cao trào trong năm 1945, Hồ Chí Minh chọn cách không lộ thân phận mình ra trước công chúng, hay thậm chí trước hầu hết những thành viên thuộc Đảng Cộng sản Đông Dương. Có lẽ không tới 500 người biết được chắc chắn ông chính là nhân vật Nguyễn Ái Quốc huyền thoại, người đã cố gắng trình bản thỉnh nguyện của người yêu nước lên Hội nghị Versailles năm 1919, trở thành một thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, làm việc cần mẫn cho Quốc tế Cộng sản ở Trung-quốc và Đông Nam Á, và sau đó được báo tử tại nhà tù Hồng-kông. Nguyên do chính cho việc từ chối phục hồi lại cái tên Nguyễn Ái Quốc (cũng là bút danh) có liên quan đến mong muốn của Đảng nhằm loại bỏ hình ảnh trước 1941 của việc đấu tranh giai cấp và chủ nghĩa quốc tế vô sản, nhằm ủng hộ đoàn kết các giai cấp, tinh thần yêu nước bất diệt, và sự thăng hoa trong mặt trận thống nhất dân tộc Việt Minh. Cho dù Ái Quốc nghĩa là “yêu nước”, nhưng người sở hữu biệt danh này đã được nhận dạng công khai là một người theo Lenin và chủ trương chiến đấu. Cái tên Chí Minh, nghĩa là “ý chí vươn tới sự khai minh”, nghe có âm hưởng truyền thống nhiều hơn. Trong một thời gian, ông Hồ có vẻ chần chừ trong việc cho cái tên Nguyễn Ái Quốc đi vào quên lãng hoàn toàn, bởi ông đã dùng tên đó để kí hai bản kêu gọi gây xúc cảm hồi năm 1941 và giữa tháng Tám 1945. Không lâu trước khi tin tức lan khắp hàng ngũ Đảng cho biết hai người ấy thực chất là một. Sau một hai năm, hầu hết người dân cũng đều nghe nói đến điều này, tuy thế mối kết nối vẫn chưa được đưa ra chính thức đến tận nhiều năm sau đó. Một bầu không khí bí ẩn nhất định luôn bao quanh lấy ông Hồ, là thứ mà ông không bao giờ ngăn lại.  Continue reading