Graham Allison – Làm thế nào một cuộc thế chiến nữa có thể xảy ra?

 

Graham Allison

Làm thế nào một cuộc thế chiến nữa có thể xảy ra?

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Đánh giá những tương đồng và những khác biệt giữa năm 1914 và 2014.

Tháng [Bảy] này vào một thế kỉ trước, châu Âu đứng trước nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tàn khốc khiến cho các sử gia phải tạo ra một hạng mục mới: “Thế chiến”. Không nhà lãnh đạo nào ở thời điểm đó có thể hình dung vùng đất hoang tàn mà họ sẽ sống tại đó bốn năm sau. Tới năm 1918, mỗi nhà lãnh đạo đều đã mất đi thứ họ yêu dấu nhất: kaiser (hoàng đế Đức) bị truất bỏ, Đế chế Áo-Hung bị giải thể, tsar (Nga hoàng) bị giới Bolshevik lật đổ, nước Pháp chịu khổ cả một thế hệ, và nước Anh bị tước đi thời thanh xuân và của cải của mình. Một thiên niên kỉ làm chủ địa cầu của các nhà lãnh đạo Âu châu đã khựng lại lúc đó.

Điều gì gây nên tai ương này? Tổng thống John F. Kennedy thích châm chọc các vị đồng sự của mình bằng câu hỏi ấy. Khi đó ông ta sẽ nhắc cho họ nhớ câu trả lời ưa thích của mình, trích lại lời Thủ tướng Đức Theobald von Bethmann Hollweg:  “À, giá như chúng ta biết được.” Lúc xảy ra Cuộc khủng hoảng Tên lửa Cuba năm 1962, Kennedy tự thấy mình “mặt đối mặt” với nhà lãnh đạo Soviet Nikita Khrushchev, và đưa ra những quyết định mà ông biết có thể làm cả trăm triệu người chết ngay, khi đó ông chiêm nghiệm về những bài học năm 1914. Ở vài thời điểm quyết định, ông điều chỉnh những điều ông có khuynh hướng sẽ thực hiện để nỗ lực tránh lặp lại những sai lầm đó của các nhà lãnh đạo.

Khi họ chọn cách đáp ứng những cam kết, hay không, điều động quân đội trong sớm muộn, những kẻ tham gia vào Thế chiến thứ nhất đồng loạt tìm cách định hình khung nhận thức của công chúng về cuộc khủng hoảng này. Mỗi bên tìm cách trách cứ kẻ thù của mình. Sau cuộc thảm hoạ đó, những kẻ chiến thắng tự cho mình cái quyền đáng kể với các dữ kiện nhằm biện minh cho việc trừng phạt kẻ chiến bại. Hiệp ước Versailles áp đặt những hình phạt hà khắc đến mức tạo điều kiện nổ ra Thế chiến thứ nhì chỉ hai thập niên sau đó. Cũng dễ hiểu khi màn kịch lớn này đã định hình những giải thích của sử gia về các nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến. Nhưng như kết luận thẳng thừng từ cuốn sách xuất sắc nhất trong những cuốn sách mới về cuộc xung đột này, cuốn The Sleepwalkers, thì ta có thể tập hợp những bằng chứng có được nhằm ủng hộ cho một loạt những khẳng định gây thách thức. “Việc bùng nổ cuộc chiến năm 1914 không phải là một kịch bản kiểu Agatha Christie mà kết cuộc ta sẽ khám phá ra kẻ phạm tội đứng trên một xác chết nào đó trong phòng bảo quản với khẩu súng lục bốc khói,” Clark viết như thế. “Trong câu chuyện này không có khẩu súng bốc khói nào cả; hoặc, thay vào đó, là có một khẩu nằm trong tay của mọi nhân vật chính.” Continue reading

Hồ Tài Huệ Tâm (Giáo sư Đại học Harvard) – Gái nước Nam

Hồ Liễu dịch

Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh
Tục ngữ Việt nam

Trích trong cuốn Thuyết cấp tiến và cội nguồn của Cách mạng Việt nam / Radicalism and the Origins of the Vietnamese Revolution, Hue-Tam Ho Tai, Ấn quán Đại học Harvard, 1992, trang 88–113.

 

Vào năm 1925, ngoại tôi cho chụp một bức ảnh chụp hai cô con gái đầu, dì và mẹ. Nhìn lúng túng trong áo dài và kiểu tóc chải chuốt, hai thiếu nữ, ở độ tuổi 17 và 12, dường như e lệ và chưa chạm với đời. Còn tồn tại một bức ảnh khác của Nguyễn Trung Nguyệt, dì hai, chụp chỉ bốn năm sau đó. Trong bức ảnh ấy, dì không còn mặc lễ phục nhiều màu diêm dúa của một cô con gái nhà Nho, nhưng mặc áo bà ba của phụ nữ nông dân. Dì ngó đăm đăm vào máy ảnh với đôi mắt thách thức: đó là một hình phạm nhân của công an. Tôi đã tìm thấy nó trong văn khố của Sở An ninh Pháp.

Vào lúc bị bắt, dì Nguyệt phụ trách việc tuyển mộ phụ nữ vào Việt nam Thanh niên Đồng chí hội, một tổ chức chống thực dân mà Nguyễn Ái Quốc đã thành lập trong những người Việt lưu vong ở Trung quốc năm 1925. Dì trải qua tám năm kế tiếp của đời mình trong nhà tù sau khi qua một phiên toà gây chấn động, trong suốt phiên toà thanh danh của dì bị nát tan và dì bị đóng dấu là một phần tử cách mạng nguy hiểm. Câu chuyện về sự can dự ngắn ngủi và bi đát của dì Nguyệt vào chính trị cách mạng là đáng quan tâm không bởi những khía cạnh lâm li của nó, nhưng bởi dì quá là một sản phẩm của thời mình. Tuy vậy, trong khi hầu hết những người đương thời dì trong cuộc Cách mạng Việt nam thường tiến cấp từ sự nổi dậy nhân thân tới việc dấn thân chính trị, bản thân dì Nguyệt làm một hành trình khác. Chính chữ hiếu đã dẫn dì tới chủ nghĩa ái quốc và tới nữ quyền.

Như Nguyễn An Ninh, Nguyễn Trung Nguyệt cũng xuất thân từ một gia đình mật thiết thiên về học thuật và những tình tự chống thực dân. Và như ông ấy, dưới ảnh hưởng của những người thân quyến ái quốc, dì trở thành một người nổi dậy đầy bổn phận, một người nhiệt liệt bài trừ thánh tượng. Nguyễn An Ninh kêu gọi một giới trẻ dường như trung lập về giới tính nhưng thực sự là phái nam để kết hợp sự tìm kiếm của giới này về tự do nhân thân với sự độc lập quốc gia. Nguyễn Trung Nguyệt đại diện cho cuộc hôn nhân của nữ quyền với chủ nghĩa chống thực dân bên trong Cách mạng Việt nam. Mãi tới khi dì dời nhà sau những cuộc bãi trường của học sinh năm 1926, dì Nguyệt đã không lộ ra những dấu hiệu muốn nêu lên lí tưởng về giải phóng phụ nữ. Nhưng trong lúc dì trưởng thành, vai trò của phụ nữ ở Việt nam đã trở thành một điểm chủ chốt của sự đối đầu giữa những người tiến bộ và những người bảo thủ về văn hoá. Hơn nữa, vì những tranh chấp về văn hoá và đạo đức thường có một tầng ngầm chính trị, vấn đề của phụ nữ vận hành như một thuyết ngôn về tự do, trong đó những khác biệt giữa những mối quan tâm về nhân thân và quốc gia trở nên mơ hồ và hoà lẫn với nhau.  Continue reading

Shawn McHale – In ấn và quyền lực: Những tranh luận Việt nam về địa vị của đàn bà trong xã hội, 1918-1934

IN N VÀ QUYN LC: NHNG TRANH LUN VIT NAM V ĐA V CA ĐÀN BÀ TRONG XÃ HI, 1918–1934

Shawn McHale

Đại học Case Western Reserve

Hồ Liễu dch

Những người nghiên cứu về lịch sử Việt nam quen thuộc với sáo ngữ rằng đàn bà Việt hưởng quyền lực nhiều hơn những người tương ứng Trung quốc của họ. Tuy nhiên, các học giả đã ít phân tích những văn bản viết về hoặc do đàn bà trong thời kì thuộc địa và sản xuất ra ít bản nghiên cứu lịch sử về đàn bà Việt. Tiểu luận của tôi xem xét cung cách mà đàn ông và đàn bà thuộc giới ưu tú bắt đầu tưởng tượng lại địa vị của đàn bà trong xã hội, và cứu xét vai trò mà một nền văn hoá in ấn hiện xuất đảm nhiệm trong sự tái quan niệm này. Tôi tập trung vào những tranh luận về sự bình đẳng của đàn bà và sự giải phóng của đàn bà đã xảy ra giữa hai cuộc thế chiến.[1]

Trọng tâm bài tiểu luận của tôi sẽ là một sự so sánh của một tập hợp những văn viết xuất hiện trên tờ N gii chung [Tiếng chuông cho đàn bà] vào năm 1918 cùng với một tập hợp khác được công bố trên tờ Ph n tân văn [Báo đàn bà] trong đầu thập niên 1930. Năm 1918, những người viết trên N gii chung đã đề cập tới nam nữ bình quyền trong khuôn khổ của sự hợp tác Pháp-Việt. Tới thập niên 1930, những người viết báo thuộcPh n tân văn đã theo một lập trường mang tính hoạt động xã hội hơn và dấn thân vào những cuộc tranh luận sôi nổi về việc giải phóng phụ nữ. Họ bác bỏ một thái độ hợp tác dễ dãi và đôi lúc chất vấn những định chế cơ bản, như gia đình, và những giá trị Nho giáo mà qua đó những định chế này đã được hiểu. Sự xuất hiện của mỗi tập hợp các bài báo bị phân cách khoảng mười lăm năm, tuy vậy một thay đổi lớn lao thì hiển nhiên trong những tri giác của giới ưu tú về vai trò của đàn bà trong xã hội.

Những bài viết mà tôi cứu xét, chẳng hạn những phê bình đương thời về xã hội Việt, cũng minh hoạ chiều sâu của sự khủng hoảng phát sinh do sự hội ngộ thuộc địa. Suốt thời kì này, đàn ông và đàn bà Việt đặt những câu hỏi thăm dò về địa vị của đàn bà trong gia đình và trong xã hội. Họ nhìn tới Trung quốc, Nhật bản, và phương Tây cho cảm hứng trong việc tái công thức những vai trò của đàn bà. Tới nửa sau thập niên 1920, một ít đàn bà Việt hướng tới ch nghĩa ph n [nữ quyền], và cô gái tân thời phô trương những cung cách phương Tây nổi trội trong giới ưu tú. Hoặc thảo luận về tình yêu, những quyền của đàn bà, việc tự sát, hoặc nghĩa vụ Nho giáo của đàn bà, những văn viết của thời kì muộn hơn chuẩn đoán tinh tế nhiều “căn bệnh” tác động lên đàn bà Việt dù một số phương thuốc được gợi ý (chẳng hạn như bỏ gia đình) bây giờ dường như không thực tế.

Luận văn này sẽ không chỉ phân tích một tập hợp những văn bản về địa vị của đàn bà trong thời Việt nam thuộc địa. Nó cũng thăm dò vấn đề về cách nào để tiếp cận những văn bản này và người Việt thời đó đọc chúng ra sao. Hướng tới mục đích này, tôi sẽ mô tả mối quan hệ của những văn bản được lựa chọn với một “văn hoá in ấn” hiện xuất, cố định giá sự hưởng ứng của độc giả tới những văn bản, và thảo luận về cộng đồng đàn bà thiết lập thính giả (nhưng không chỉ) chính về cả hai tờ báo này. Thay vì thông giải những văn bản như thể chúng không nhập thể trong thời gian và không gian, bài viết này áp dụng một lối tiếp cận theo lịch sử. Như nhà sử gia Pháp Roger Chartier đã cho rằng, chúng ta phải kết nối thế giới biểu tượng của văn bản với những thực hành được điều kiện hoá theo lịch sử giúp mang ý nghĩa tới việc đọc. Tôi sẽ quan tâm đặc biệt tới mối quan hệ giữa việc đọc và ngữ cảnh của nó trong khi thăm dò những cung cách mà việc đạt tới chữ in và “văn hoá in ấn” đã chuyển đổi từ 1918 tới 1934. Thực sự, một sự hiểu biết sơ sài về những khác biệt trong văn hoá in ấn của mỗi thời kì, và mối quan hệ của độc giả với chữ in, giúp chúng ta đặt định những văn bản trong khung cảnh thích hợp của chúng. Câu hỏi trung tâm dẫn dắt Chartier trong những điều tra về nước Pháp thời Chế đ(Ancien Regime, tức thời Quân chủ) cũng hướng dẫn tôi ở đây: Sự lưu thông gia tăng của chữ in đã biến cải những dạng thức của xã hội tính, cho phép những cung cách mới về suy nghĩ, và làm thay đổi những tương quan về quyền lực ra sao?”[2]  Continue reading

David G. Marr – Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

David G. Marr (Trường Đại học Quốc gia Úc)

Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

Duy Đoàn chuyển ngữ, Nguyễn Tiến Văn hiệu đính

 

Nói về mặt chính trị, Tuyên ngôn Độc lập do Hồ Chí Minh đọc trước đám đông ở Hà-nội vào ngày 2/9/1945 là một trong những văn bản quan trọng nhất trong lịch sử Việt-nam thời hiện đại. Đối với nhiều người thì nó biểu trưng cho hồi cáo chung của sự cai trị ngoại quốc, mặc dù chuyện này còn cần đến chín năm thử thách bằng máu lửa. Chắc chắn nó đánh dấu việc thành lập nước Việt-nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH), tiền thân của hệ thống nhà nước ngày nay, mặc dù ông Hồ đã cẩn trọng gọi tên chính quyền của mình là lâm thời, đợi tổng tuyển cử cả nước và ban hành hiến pháp.

Cơ bản hơn thì bản Tuyên ngôn chứa đựng một thế giới quan đầy kịch tính, một lịch sử cô đặc, một vài khẳng định táo bạo, những cụm từ sinh động, và hình tượng đầy cảm xúc – tất thảy những điều này nhằm cố gắng thu hút trí tưởng tượng của trước tiên là những khán thính giả trực tiếp trong số hàng mấy trăm ngàn người, và sau đó là của hàng triệu người Việt-nam khi họ nghe lại bài đọc đó hoặc đọc nó trên báo chí. Cùng với hình ảnh trực quan của một quý ông mảnh khảnh  lúc tuyên bố độc lập cho Việt-nam sau tám mươi năm chịu ách nô dịch, những điều Hồ Chí Minh nói với người dân ngày ấy đã giúp tiếp nhiên liệu tranh đấu sau đó chống trước tiên là việc quay lại của người Pháp, và tiếp sau là người Mĩ. Mỉa mai thay, tuy những phần then chốt trong bản Tuyên ngôn không nhắm trực tiếp đến người Việt mà nhắm đến người nước ngoài nhưng lại bị phần lớn những thành phần được nhắm tới đó làm lơ đi.

Hồ Chí Minh từ vùng đồi núi bắc bộ tới Hà-nội trước đó chỉ một tuần, được che đậy bí ẩn và được nhanh chóng chuyển tới chỗ ở bí mật ở phố Hàng Ngang để đề phòng những đòn tấn công phủ đầu của nhiều phe đối thủ. Việt Minh đã kiểm soát hầu hết các toà nhà chính phủ từ ngày 19 tháng Tám, và có nhiều bằng chứng cho thấy sự ủng hộ của quần chúng đối với chính quyền mới chớm, tuy vậy không thể loại trừ sự phản công của quân đội Nhật hoặc của lực lượng cảnh vệ Pháp, chưa đề cập đến việc có thể có kẻ sát thủ đơn độc người Việt nào đó. Bên ngoài những khả năng báo điềm gở như vậy, ông Hồ có thể nhận ra được rằng khi tránh lộ diện trước lúc xuất hiện chung cuộc của mình trước bàn dân thiên hạ thì ông sẽ làm tăng lên hiệu ứng kịch tính, làm tăng vầng hào quang của sự tò mò và làm tăng sự phỏng đoán đầy hào hứng vốn đã vây xung quanh ông rồi.

Suốt những tháng ngày cao trào trong năm 1945, Hồ Chí Minh chọn cách không lộ thân phận mình ra trước công chúng, hay thậm chí trước hầu hết những thành viên thuộc Đảng Cộng sản Đông Dương. Có lẽ không tới 500 người biết được chắc chắn ông chính là nhân vật Nguyễn Ái Quốc huyền thoại, người đã cố gắng trình bản thỉnh nguyện của người yêu nước lên Hội nghị Versailles năm 1919, trở thành một thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, làm việc cần mẫn cho Quốc tế Cộng sản ở Trung-quốc và Đông Nam Á, và sau đó được báo tử tại nhà tù Hồng-kông. Nguyên do chính cho việc từ chối phục hồi lại cái tên Nguyễn Ái Quốc (cũng là bút danh) có liên quan đến mong muốn của Đảng nhằm loại bỏ hình ảnh trước 1941 của việc đấu tranh giai cấp và chủ nghĩa quốc tế vô sản, nhằm ủng hộ đoàn kết các giai cấp, tinh thần yêu nước bất diệt, và sự thăng hoa trong mặt trận thống nhất dân tộc Việt Minh. Cho dù Ái Quốc nghĩa là “yêu nước”, nhưng người sở hữu biệt danh này đã được nhận dạng công khai là một người theo Lenin và chủ trương chiến đấu. Cái tên Chí Minh, nghĩa là “ý chí vươn tới sự khai minh”, nghe có âm hưởng truyền thống nhiều hơn. Trong một thời gian, ông Hồ có vẻ chần chừ trong việc cho cái tên Nguyễn Ái Quốc đi vào quên lãng hoàn toàn, bởi ông đã dùng tên đó để kí hai bản kêu gọi gây xúc cảm hồi năm 1941 và giữa tháng Tám 1945. Không lâu trước khi tin tức lan khắp hàng ngũ Đảng cho biết hai người ấy thực chất là một. Sau một hai năm, hầu hết người dân cũng đều nghe nói đến điều này, tuy thế mối kết nối vẫn chưa được đưa ra chính thức đến tận nhiều năm sau đó. Một bầu không khí bí ẩn nhất định luôn bao quanh lấy ông Hồ, là thứ mà ông không bao giờ ngăn lại.  Continue reading

Những bằng chứng mới cho nguồn gốc ngành sản xuất rượu nho tại Pháp

 

 

Bệ ép nho cổ đại xuất xứ từ vùng Lattara, nhìn từ trên xuống. Chú ý cái vòi để tuôn chất lỏng ra ngoài. Cái bệ này được đặt lên bốn hòn đá nhỏ để nâng lên khỏi mặt sân. Người ta tìm thấy gần đó có rất nhiều vết tích còn sót lại của các loại nho trồng.  Ảnh: Michel Ply, bản quyền l’Unité de Fouilles et de Recherches Archéologiques de Lattes (Nguồn: “Beginning of viniculture in France”, Proceedings of the National Academy of Science, 6/2013.)

Bệ ép nho cổ đại xuất xứ từ vùng Lattara, nhìn từ trên xuống. Chú ý cái vòi để tuôn chất lỏng ra ngoài. Cái bệ này được đặt lên bốn hòn đá nhỏ để nâng lên khỏi mặt sân. Người ta tìm thấy gần đó có rất nhiều vết tích còn sót lại của các loại nho trồng. Ảnh: Michel Ply, bản quyền l’Unité de Fouilles et de Recherches Archéologiques de Lattes (Nguồn: “Beginning of viniculture in France”, Proceedings of the National Academy of Science, 6/2013.)

Trước giờ Pháp vốn nổi danh trên toàn thế giới là đất nước dẫn đầu trong ngành trồng nho và làm rượu vang. Nhưng khởi nguồn của ngành trồng nho tại Pháp vẫn còn là điều bí ẩn cho đến gần đây.

Những vò hai quai và bệ ép nho làm bằng đá vôi được nhập khẩu từ vùng Etruria cổ đại đã được các nhà khoa học phát hiện ra tại khu vực hải cảng cổ xưa thuộc vùng Lattara miền nam nước Pháp. Những phát hiện này đã cung cấp chứng cứ khảo cổ phân tử sinh học sớm nhất từgn được biến về loại rượu nho và lĩnh vực làm rượu, và cho thấy khởi điểm của ngành công nghiệp trồng nho của người Celts hay Gaul ở Pháp là vào khoảng năm 500-400 trước Công nguyên. Đây là kết quả rút ra từ nghiên cứu mang tên “The Beginning of Viniculture in France” (“Khởi điểm lĩnh vực trồng nho tại Pháp”) được công bố trên tập san Proceedings of the National Academy of Science số ra ngày 3/6/2013. Đứng đầu cuộc nghiên cứu này là tiến sĩ Patrick McGovern, giám đốc Phòng thí nghiệm khảo cổ phân tử sinh học thuộc Viện bảo tàng của trường Đại học Pennsylvania và là tác giả của cuốn Ancient Wine: The Search for the Origins of Viniculture (Princeton University Press, 2006). Nghiên cứu này còn là kết quả cộng tác giữa McGovern và các đồng nghiệp tại Pháp và Mĩ.

Tiến sĩ McGovern đã dành phần nhiều thời gian trong sự nghiệp để khảo xét các dữ liệu khảo cổ, triển khai các phân tích hoá học, và dõi theo đường đi của mấy cây nho (Vitis vinifera) của xứ Á-Âu (Eurasia) ở môi trường hoang dã và trong môi trường trồng trọt của con người. Đối với ông thì việc xác nhận chứng cứ xa xưa nhất cho ngành rượu nho ở Pháp là bước tiến then chốt nhằm thấu hiểu sự phát triển đang diễn tiến của cái mà ông gọi là “nền văn hoá rượu nho” trên toàn thế giới – vốn khởi đầu từ vùng núi Taurus của Thổ-nhĩ-kì, vùng núi Caucasus, và/hoặc vùng núi Zagros ở Iran khoảng 9,000 năm trước.

“Nào giờ người ta đã ghi nhận sự trỗi dậy của Pháp thành thế lực nổi bật trên toàn cầu trong nền văn hoá rượu nho, đặc biệt từ thế kỉ 12, khi các tu sĩ dòng Citeaux bằng phương pháp thử-sai đã xác định Chardonnay và Pinot Noir là hai loại nho trồng tốt nhất ở vùng Burgundy”, tiến sĩ McGovern nhận thấy. “Những gì chúng ta không có là bằng chứng hoá học rõ ràng, kết hợp với dữ liệu thực vật học và khảo cổ học, để chứng tỏ cách thức rượu nho được đưa vào Pháp và khởi nên ngành công nghiệp bản xứ này.

“Giờ thì ta biết rằng người Etruria cổ đại đã quyến rũ người Gaul bước vào nền văn hoá rượu nho Địa-trung-hải bằng cách nhậu khẩu rượu vào miền nam nước Pháp. Điều này làm cho nhu cầu người Pháp tăng lên mà chỉ có cách thiết lập nên nền công nghiệp bản xứ thì mới đáp ứng được, có thể được thực hiện thông qua việc cấy ghép cây nho trồng ở Ý, và lấy được từ người Etruria các kĩ năng chuyên môn trong việc làm rượu.” Continue reading

Những vấn đề lịch sử trong cuốn “Súng, vi trùng và thép” của Jared Diamond


Cuốn sách “Súng, vi trùng và thép” là nỗ lực của Jared Diamond nhằm đi tìm câu trả lời tối hậu cho một thắc mắc dường như quá hiển nhiên, như chính tác giả đã đề cập ngay phần đầu sách: “Tại sao lịch sử đã diễn ra trên mỗi châu lục một khác?” Vì e rằng sẽ có nhiều người ngay lập tức nghĩ đến việc cuốn sách sẽ xoay quanh vấn đề về chủng tộc, nên ngay sau khi nêu câu hỏi như thế thì ông Jared Diamond liền đính chính lại ngay: “Nếu như câu hỏi này lập tức khiến bạn nhún vai cho rằng bạn sắp phải đọc một luận văn phân biệt chủng tộc thì xin thưa, không phải vậy đâu: như bạn sẽ thấy, những lời đáp cho câu trả lời này tuyệt không bao hàm những sự khác biệt về chủng tộc.”

Đúng như vậy, nếu xem xét cho rốt ráo và kĩ càng câu hỏi mà ông Jared Diamond đưa ra, thì quả thật việc đưa ra nguyên do vì mỗi chủng tộc phát triển khác nhau là một câu trả lời hoàn toàn dở dang, nửa vời và thậm chí là một câu trả lời thiếu trách nhiệm. John Locke, triết gia người Anh ở thời kì Ánh sáng bên châu Âu, đã từng phát biểu cụm từ tabula rasa (blank sheet, tức “tờ giấy trắng”) để ý chỉ rằng tâm thức con người ta khi vừa mới sinh ra giống như một tờ giấy trắng vậy, và phải qua thời gian thì “tờ giấy trắng” đó mới được tô điểm thêm bởi kinh nghiệm, được hình thành thông qua cảm nhận và phản hồi từ thế giới bên ngoài, để từ đó tạo nên tri thức của chính bản thân [1]. Khái niệm tabula rasa này nói về tâm thức con người, mà cũng có thể hiểu rộng hơn về tâm thức của cả nhân loại, tức là từ thuở ban đầu, cả nhân loại đều có cùng một xuất phát điểm là từ châu Phi, và tâm thức nhân loại lúc bấy giờ cũng tựa như tabula rasa vậy, thế nhưng qua thời gian, vì nguyên do nào đó mà hình thành nên những chủng tộc khác nhau. Lịch sử diễn ra ở mỗi nơi một khác là do chủng tộc ở những nơi đó khác nhau, vậy thì tại sao những chủng tộc đó lại khác nhau, khi loài người đều có cùng xuất phát điểm như nhau? Continue reading

Các tháng trong năm, các ngày trong tuần: Nguồn gốc tên gọi & những ý nghĩa


Các tháng trong năm

Từ thời cổ đại, con người quan sát sự chuyển dời của thời gian bằng cách ghi nhận sự xoay vòng của mặt trăng, hay còn gọi là tuần trăng, với một tuần trăng tương đương với 29.530588 ngày (tức là 29 ngày 12 giờ 44 phút và 3 giây). Do vậy nếu dò theo ngữ nguyên thì chữ moon và month đều xuất phát từ cùng một gốc ngữ hệ Ấn-Âu menes (từ này chỉ cả hai nghĩa moon và month). Trong một năm có mười hai tháng, với tên tiếng Anh lần lượt là January, February, March, April, May, June, July, August, September, October, November, và December. Nếu để ý thấy thì chữ September có tiếp đầu ngữ sept- mang nghĩa là thứ bảy, tức đây là tháng thứ bảy, trong khi September hiện nay được mang nghĩa là tháng chín. Nguyên do là từ thời La-mã cổ đại, ban đầu người ta làm lịch chỉ có mười tháng, từ March đến December, không có January và February. Tên gọi mười tháng đó vào thời La-mã cổ đại là: Martius, Aprilis, Maius, Juniius, Quintilis, Sextilis, September, October, November, và December; với sáu tháng cuối là các từ Latin để chỉ các con số từ 5 đến 10. Sau đó Numa Pompilius đã thêm vào hai tháng January vào đầu năm và February vào cuối năm, tới năm 452 trước Công nguyên thì February được di chuyển nằm giữa January và March.
Continue reading

Mật mã: Từ cổ điển đến lượng tử (The Code Book) – Simon Singh


THE CODE BOOK
Tác giả: SIMON SINGH

Bản dịch tiếng Việt của Phạm Văn Thiều & Phạm Thu Hằng
Nhà xuất bản: Trẻ
Năm: 2008

Trong lịch sử nhân loại đã xảy ra những cuộc chiến tranh tàn khốc, như hai cuộc thế chiến đầu thế kỉ 20. Tuy nhiên, bên cạnh những cuộc chiến bên ngoài chiến trường, thì ẩn bên trong nó lại là một cuộc chiến khác: cuộc chiến về thông tin. Đã có truyền tin thì tất nhiên cần phải có yêu cầu giữ bí mật. Thế là ngành khoa học mật mã (cryptography) ra đời để phục vụ cho yêu cầu đó.

Cuốn sách “Mật mã” (The Code Book) sẽ dẫn dắt chúng ta nhìn lại lịch sử dưới góc nhìn của mật mã học. Cuốn sách bắt đầu bằng những dạng mật mã  đơn giản nhất ra đời từ cuối thế kỉ 16 và kết thúc ở cuối thế kỉ 20 bằng việc giới thiệu về ý tưởng mật mã lượng tử, một loại mật mã được cho là bất khả chiến bại dựa trên lí thuyết lượng tử.


Continue reading