Jack Schafer – Hiểu tâm lý con người qua những từ họ nói

Những manh mối từ ngữ

Nếu đôi mắt là cửa sổ tâm hồn thì từ ngữ là cánh cổng đi đến tâm trí. Từ ngữ đại diện cho những suy nghĩ. Để hiểu được suy nghĩ của người khác, bạn cần nghe những từ mà anh ấy nói hoặc viết. Những từ ngữ nhất định phản ánh những đặc điểm hành vi của người nói hoặc viết chúng. Tôi gọi những từ đó là những manh mối từ ngữ. Những manh mối từ ngữ làm tăng khả năng dự đoán được những đặc điểm hành vi của con người bằng cách phân tích những từ họ chọn khi họ nói hoặc viết. Một mình những manh mối từ ngữ không thể xác định được những nét tính cách của một người, nhưng chúng đem lại những hiểu biết sâu sắc về quá trình suy nghĩ và những đặc điểm hành vi của một người. Những giả thiết có thể được phát triển dựa trên những manh mối từ ngữ và sau đó được kiểm tra bằng cách sử dụng thông tin thêm thu được từ người đó hoặc sự làm chứng của người thứ 3.

Bộ não con người hiệu quả một cách khó tin. Khi chúng ta suy nghĩ, chúng ta chỉ sử dụng những động từ và danh từ. Những tính từ, phó từ và những phần khác của lời nói được thêm vào trong suốt sự thay đổi của những ý nghĩ vào ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ viết. Những từ chúng ta thêm đó phản ánh chúng ta là ai và chúng ta đang nghĩ gì.

Câu cơ bản bao gồm 1 chủ ngữ và 1 động từ. Ví dụ, câu đơn giản “Tôi đi bộ” bao gồm đại từ “Tôi” là chủ ngữ và từ “đi bộ” là động từ. Bất kì từ nào được thêm vào cấu trúc câu cơ bản này làm thay đổi chất lượng của danh từ hoặc hành động của động từ. Những sự thay đổi có chủ tâm đó đem lại những manh mối về những đặc điểm tính cách và hành vi của người nói hoặc người viết.

Những manh mối từ ngữ cho phép những người quan sát phát triển những giả thiết hoặc đưa ra những phỏng đoán liên quan đến những đặc điểm hành vi của người khác. Ví dụ, trong câu “Tôi đi bộ nhanh”, manh mối từ ngữ “nhanh” truyền tải 1 cảm giác khẩn trương, nhưng nó không mang đến lí do cho sự khẩn trương. Một người có thể “đi bộ nhanh” vì anh ấy đang trễ một cuộc hẹn hoặc lo trễ một cuộc hẹn. Ngườicó ý thức (Conscientious) xem bản thân họ là đáng tin và không muốn trễ hẹn. Người muốn đi đúng giờ có xu hướng tôn trọng những chuẩn tắc xã hội và muốn sống theo những kì vọng của người khác. Người có đặc điểm hành vi này là những nhân viên tốt vì họ không muốn làm sếp của họ thất vọng. Người “đi bộ nhanh” khi họ gặp phải những mối đe dọa. Một mối đe dọa có thể xuất hiện trong khi đang đi bộ qua một khu hàng xóm xấu. Gặp thời tiết xấu cũng có thể là 1 mối đe dọa. Đi bộ nhanh đế tránh sét làm giảm nguy cơ bị sét đánh hoặc bị ướt. Con người có thể thêm từ “nhanh” với nhiều lí do khác nhau, nhưng có một lí do cụ thể cho sự lựa chọn của họ. Continue reading

Advertisements

Margaret Atwood – Những đoạn kết có hậu

 

Margaret Atwood

Những đoạn kết có hậu

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

John và Mary gặp nhau.

Chuyện gì xảy đến tiếp theo?

Nếu bạn muốn một cái kết có hậu, hãy thử trường hợp A.

A. John và Mary yêu nhau và cưới nhau. Cả hai đều có việc làm xứng đáng và lương cao, và họ đều thấy công việc mình làm thật hào hứng và kích thích. Họ mua một căn nhà duyên dáng. Giá bất động sản tăng lên. Sau rốt, khi họ có thể thuê một người làm ở tại nhà mình, thì họ có được hai đứa con, và dành hết thời giờ cho chúng. Bọn trẻ lớn lên khoẻ mạnh. John và Mary có đời sống tình dục hào hứng và kích thích và có những người bạn xứng đáng. Họ đi nghỉ mát vui vẻ bên nhau. Họ nghỉ hưu. Cả hai đều có những thú vui mà họ thấy thật hào hứng và kích thích. Sau rốt họ chết. Đến đây câu chuyện kết thúc.

B. Mary phải lòng yêu John nhưng John thì không yêu Mary. Anh ta chỉ dùng thân xác cô nàng cho những lạc thú riêng mình và để làm vừa lòng đại khái cho cái tôi của mình. Anh đến căn hộ của cô hai lần mỗi tuần và cô nàng nấu bữa tối cho anh ta, bạn sẽ để ý thấy là anh ta thậm chí không nghĩ cô nàng đáng giá để dẫn ra ngoài ăn nữa, và sau khi ăn xong bữa tối anh ta giao cấu với cô nàng và sau đó đi ngủ, còn cô nàng thì rửa chén đĩa để anh ta không nghĩ là cô nàng bề bộn khi để chén đĩa dơ bẩn nằm khắp nơi, và thoa thêm lớp son môi để trông thật tươi tắn khi anh ta thức dậy, nhưng khi thức dậy thì anh ta thậm chí còn không để ý tới, anh ta mang vớ, mặc quần cụt, quần dài, áo, cà-vạt, và mang giày vào, một trình tự đảo ngược so với trình tự anh cởi chúng ra. Anh không cởi đồ Mary ra, cô nàng tự mình cởi ra, cô nàng làm như thể lần nào cô nàng muốn nó đến chết vậy, không hẳn là vì cô nàng thích chuyện tình dục, cô nàng không thích, nhưng cô nàng muốn John nghĩ là cô nàng có thích bởi vì nếu họ làm chuyện đó đều đặn thì chắc chắn anh ta sẽ quen mùi cô nàng, anh ta sẽ trở nên phụ thuộc vào cô nàng và họ sẽ cưới nhau, nhưng John đi ra cửa mà thậm chí không một lời chúc ngủ ngon và ba ngày sau anh trở lại vào sáu giờ và họ làm lại toàn bộ chuyện đó.

Mary thấy kiệt sức. Khóc sẽ làm gương mặt bạn tệ đi, ai cũng biết chuyện đó và Mary cũng thế nhưng cô nàng không ngừng lại được. Những người ở chỗ làm để ý tới. Bạn cô nàng bảo rằng John là một con chuột, một con lợn, một con chó, anh ta không xứng với cô nàng, nhưng cô nàng không tin điều đó. Bên trong John, cô nàng nghĩ, là một John khác, tốt hơn. John khác này sẽ xuất hiện như con bướm chui ra từ kén vậy, như thằng hề nhảy ra khỏi cái hộp, như cái hột từ quả mận khô vậy, nếu John đầu tiên ấy bị ép lại vừa đủ. Continue reading

Tâm lý học ý chí

Tham khảo sách “ The willpower instinct “ của Kelly McGonigal

Khi người nào đó nói rằng, “ tôi không có ý chí”, điều họ ám chỉ ở đây là ,” tôi có vấn đề trong việc nói “không” khi trái tim, dạ dày.. của tôi muốn nói “có”.
Ý chí gồm 3 yếu tố sau : (1) Biết nói “không” khi bạn cần phải nói “không”, (2) Biết nói “có” khi bạn cần phải nói “có”, (3) Khả năng ghi nhớ những gì bạn thực sự mong muốn.

Tại sao con người có ý chí ?

Cách đây 100,000 năm , những trách nhiệm của bạn trong cuộc sống chỉ đơn giản là (1) Tìm thức ăn , (2) duy trì nòi giống và (3) Tránh kẻ thù.

Bạn sống trong bộ lạc và phụ thuộc vào mọi người để sinh tồn. Sống trong cộng đồng đòi hỏi sự hợp tác và chia sẻ các nguồn lực – bạn không thể lấy những gì bạn muốn. Ví dụ, nếu bạn ăn trộm thịt của người khác thì bạn sẽ bị khai trừ khỏi nhóm hoặc thậm chí bị giết.

Bạn cần những người trong bộ lạc chăm sóc bạn nếu bạn ốm hoặc bị thương , hoặc khi bạn không đi săn bắt, hái lượm được.

Như vậy, nhu cầu hòa hợp, hợp tác, duy trì những mối quan hệ đã gây áp lực lên bộ não loài người, buộc họ phát triển những chiến lược tự kiểm soát bản thân- đó là khả năng kiểm soát những thôi thúc của bản thân giúp chúng ta trở thành con người trọn vẹn.

Tất cả chúng ta khi sinh ra đều có sức mạnh ý chí, nhưng một số người trong chúng ta sử dụng khả năng này nhiều hơn những người khác. Những người có khả năng kiểm soát tốt sự chú ý, cảm xúc và những hành động của mình thì họ thường có cuộc sống khỏa mạnh và hạnh phúc hơn. Những mối quan hệ của họ thường kéo dài hơn và đem lại nhiều thỏa mãn. Họ kiếm được nhiều tiền và thành công trong sự nghiệp. Họ có khả năng kiểm soát tốt stress, xử lý những xung đột và vượt qua nghịch cảnh. Họ thậm chí sống lâu hơn.

Khả năng tự kiểm soát bản thân ( self-control) là 1 dự báo tốt về sự thành công trong học tập hơn cả trí thông minh, nó là yếu tố quyết định của nhà lãnh đạo thành công còn hơn cả uy tín, và sự kiểm soát bản thân quan trọng hơn cả sự thấu cảm trong 1 cuộc hôn nhân hạnh phúc (bí mật để kéo dài cuộc hôn nhân của bạn có lẽ là học cách làm thế nào để giữ mồm giữ miệng ). Continue reading

Jason Plaks – Tâm trí quan tâm đến địa vị xã hội nhiều như thế nào

Điều gì làm một người là đáng nhớ? Trực giác cho thấy nếu một ai đó có những đặc điểm ngoại hình khác thường, ăn mặc sáng tạo, hoặc nói những điều khác lạ trong trò chuyện, chúng ta nhớ người đó tốt hơn. Nhưng còn những đặc điểm tinh tế hơn thì sao?

Nghiên cứu gần đây bởi một nhóm các nhà nghiên cứu do Nathaniel Ratcliff dẫn đầu (đại học Penn State) cho rằng tâm trí con người cực kỳ nhạy cảm trước quyền lực. Những người với địa vị xã hội cao được người khác nhớ tốt hơn so với những người có địa vị xã hội thấp hơn.

Trong một nghiên cứu, họ cho những người tham gia xem một loạt khuôn mặt trên một màn hình máy tính. Mỗi khuôn mặt được trình chiếu với một cái nhãn nghề nghiệp ở dưới – đôi lúc đó là 1 nghề có địa vị cao (CEO, bác sĩ), lúc khác là 1 nghề có địa vị thấp (thợ cơ khí, thợ sửa ống nước). Sau khi xem một loạt ảnh 20 khuôn mặt địa vị cao và 20 khuôn mặt địa vị thấp được trộn lẫn ngẫu nhiên, những người tham gia hoàn thành 1 nhiệm vụ 5 phút (mục đích gây sao lãng). Sau đó các nhà nghiên cứu trình chiếu một loạt ảnh 80 khuôn mặt, một nửa trong số đó là những khuôn mặt mà người tham gia đã xem lúc trước và 1 nửa là số khuôn mặt mới. Nhiệm vụ của người tham gia là cho biết với mỗi khuôn mặt, liệu đó là khuôn mặt họ đã xem trước đây hay là 1 khuôn mặt mới.

Các kết quả cho thấy những người tham gia quả thật phân biệt tốt hơn những khuôn mặt cũ với khuôn mặt mới khi những khuôn mặt có địa vị cao so với địa vị thấp.

Trong một nghiên cứu thứ 2, các nhà nghiên cứu đã thay đổi cách tiến hành một chút. Đầu tiên, thay vì chỉ ra nghề nghiệp của mỗi khuôn mặt với 1 từ, mỗi khuôn mặt được trình chiếu với quần áo giúp nhận diện nghề nghiệp. Ví dụ, 1 bác sĩ mặc áo khoác trắng và ống nghe quanh cổ. Thứ hai, thay vì đơn giản là nhớ lại những khuôn mặt, những người tham gia chơi một trò chơi gọi là Concentration. Người tham gia di chuyển 2 bức ảnh trên màn hình máy tính để tạo ra sự hoàn chỉnh (2 hình cho thấy cùng 1 người). Ratcliff và cộng sự phát hiện thấy những người tham gia có thể ghép hình dễ dàng hơn đối với những đối tượng có địa vị cao so với địa vị thấp. Nói cách khác, họ không chỉ nhớ những khuôn mặt địa vị cao tốt hơn mà họ còn nhớ vị trí của những người đó tốt hơn.

Những phát hiện đó nói với chúng ta điều gì? Chúng làm sáng tỏ việc làm thế nào những động cơ (một cách tự động và hiệu quả) của chúng ta có thể ảnh hưởng đến tri giác, nhận thức của chúng ta. Có lẽ, bạn bị thúc đẩy chú ý nhiều đến một người quyền lực hơn một người không quyền lực vì, theo định nghĩa, một người quyền lực có nhiều sự kiểm soát hơn đối với những kết quả của bạn. Như vậy, bạn phải có nhiệm vụ thu thập càng nhiều thông tin mà bạn có thể về người này để biết cách làm thế nào hành xử trước người đó. Điều thú vị là những sự tính toán đó dường như xảy ra một cách tự động, nằm ngoài ý thức. Hơn nữa, những sự toan tính đó mở rộng ngay cả đối với những người có địa vị cao chỉ tồn tại qua những bức ảnh – nói cách khác, những người không thực sự có bất kỳ ảnh hưởng nào đối với những kết quả của bạn. Nó gần như là mọi người có thói quen rà soát quyền lực.

Thanh Hằng dịch

Nguồn: http://www.psychologytoday.com/blog/in-the-eye-the-beholder/201107/are-powerful-people-more-memorable

Jason Plaks – Tại sao con người sẵn sàng để những điều xấu xảy ra

Về mặt đạo đức, điều nào tồi tệ hơn: Đẩy một người xuống biển cho chết đuối hoặc không làm gì để cứu 1 ai đó rõ ràng đang sắp chết đuối?Nhiều nghiên cứu tâm lý đã chứng minh về “thành kiến không làm” (omission bias): Khi xem xét cách tốt nhất để làm hại, nếu được lựa chọn, số đông mọi người chọn ‘không hành động’ thay vì hành động, ngay cả nếu cả 2 sự lựa chọn đều dẫn đến cùng kết quả xấu. Trong thực tế, con người có xu hướng chọn không hành động ngay cả khi “không hành động” dẫn đến nhiều nguy hại hơn là hành động.

 

Những nghiên cứu khác đã chứng minh 1 hiệu ứng tương tự đối với việc đánh giá về những hành động của người khác: mọi người đánh giá 1 người đầu độc một nạn nhân là đáng trách hơn so với một người không đưa thuốc giải độc cho nạn nhân.

Liệu 2 hiện tượng trên chỉ phản ánh về 1 thành kiến nằm bên dưới sự ưa thích của mọi người đối với sự không hành động, tính trì trệ và duy trì tình trạng hiện tại? Hoặc có thể chúng có 1 mối quan hệ thú vị và tinh tế hơn?

Một số nghiên cứu gần đây chứng minh điều thứ 2. Peter DeScioli, John Christner, và Robert Kurzban lập luận trong 1 bài báo gần đây rằng 1 hiện tượng này giải thích cho hiện tượng kia: nói cách khác, mọi người sẵn sàng chọn lựa ‘không hành động’ hơn vì họ biết rằng, nhìn chung, người khác khoan dung đối với những người không hành động hơn là những người hành động. Theo DeScioli và các cộng sự, khi con người muốn thực hiện 1 hành động vô đạo đức, họ dường như biết qua trực giác rằng họ sẽ ít nhận được sự chỉ trích hơn nếu họ làm nó thông qua sự ‘không hành động’ hơn là thông qua hành động công khai, có thể thấy được. Khi làm như vậy, họ có thể lựa chọn 1 hành động cân bằng giữa việc gây ra nguy hại lớn nhất và duy trì được bề ngoài không vô đạo đức. Continue reading

Roy F.Baumeister – Cái ác nằm trong đôi mắt người nhìn

Tham khảo sách “Evil: Inside Human Cruelty and Violence.” _ Roy F.Baumeister

 

null

Thủ phạm nghĩ gì?

Dù tội ác có thể tồn tại rõ ràng trong tâm trí của nạn nhân thì bạn không thể chỉ dựa vào 1 mình sự giải thích của nạn nhân để giải thích hoặc hiểu về tội ác. Thủ phạm của những tội ác thường là người bình thường với những động cơ, lý do và sự hợp lý hóa của riêng họ về những gì họ làm.

Những lý thuyết chỉ áp dụng với những kẻ giết người hàng loạt thường không hữu ích trong việc hiểu được con người nói chung, vì ít hơn 1% của 1% của dân số là những kẻ giết người hàng loạt. Vì những sự kiện hằng ngày tương đối dễ dàng để nghiên cứu, 1 người có thể nghiên cứu chúng rất kỹ lưỡng và đi đến những kết luận vững chắc. Ngược lại, những thủ phạm của những tội ác khác thường, hiếm có thì rất khó nghiên cứu: họ thường ở trong tù hoặc lẩn trốn ở đâu đó; thường không có đủ số lượng có sẵn để làm 1 mẫu thống kê; và những khó khăn về kỹ thuật, pháp luật cho các nhà nghiên cứu.

Để nghiên cứu cách những thủ phạm suy nghĩ, tôi và cộng sự đã thiết kế 1 nghiên cứu để xem mọi người sẽ nói như thế nào về một điều gì đó mà họ đã làm mà người khác nghĩ rằng ít nhất họ đã làm sai. Chúng tôi yêu cầu họ viết 1 bài giải thích về 1 tai nạn gần đây mà họ đã làm điều gì đó khiến 1 ai đó rất tức giận. Và chúng tôi cũng yêu cầu họ viết một bài giải thích về một sự kiện mà ai đó đã làm họ tức giận. Mỗi người viết 1 câu chuyện “thủ phạm” và 1 câu chuyện “ nạn nhân”. Và chúng tôi phát hiện thấy những sự khác biệt chủ chốt khi chúng ta chuyển từ quan điểm của nạn nhân sang quan điểm của thủ phạm: Continue reading

Maria Konnikova – Làm thế nào để suy nghĩ như Sherlock Holmes

Tham khảo sách “Mastermind: How to think like Sherlock Holmes” – Maria Konnikova

null

Bằng cách đi theo lối suy nghĩ của Holmes ở những trang dưới đây, chúng ta sẽ học cách làm thế nào để áp dụng phương pháp luận của anh í vào cuộc sống hằng ngày của chúng ta, trở nên chú ý hơn và xử lý trước mỗi sự lựa chọn, mỗi vấn đề, mỗi tình huống với sự cẩn thận, quan tâm mà nó xứng đáng. Lúc đầu nó sẽ có vẻ không được tự nhiên. Nhưng với thời gian và sự tập luyện, nó sẽ trở thành bản năng thứ 2 của chúng ta như đối với Holmes.

Những cạm bẫy của bộ não chưa được huấn luyện

1 trong những điều tạo nên đặc trưng của lối suy nghĩ của Holmes – và lý tưởng về mặt khoa học – là sự hoài nghi và tò mò trước thế giới. Mọi việc đều được xem xét cẩn thận rồi sau đó mới được chấp nhận. Điều không may là, tâm trí chúng ta ở trạng thái tự nhiên (default state) của nó, chống lại lối tiếp cận như vậy. Để suy nghĩ giống Sherlock Holmes, chúng ta đầu tiên cần vượt qua sự kháng cự tự nhiên ảnh hưởng đến cách chúng ta nhìn thế giới.

Hầu hết các nhà tâm lý bây giờ đều đồng ý rằng tâm trí chúng ta hoạt động theo 2 hệ thống cơ bản. 1 hệ thống thì nhanh, theo trực giác, phản xạ-1 kiểu chiến đấu-hoặc-bỏ chạy. Nó không đòi hỏi nhiều suy nghĩ ý thức hoặc nỗ lực. Hệ thống kia thì chậm hơn, suy nghĩ cân nhắc, thận trọng hơn, logic hơn, nhưng nó cũng tốn nhiều năng lượng thần kinh/nhận thức hơn.

Vì phí tổn tinh thần của hệ thống này nên chúng ta dành hầu hết thời gian suy nghĩ của chúng ta trong hệ thống phản xạ. Tôi gọi hệ thống này là hệ thống Watson. Hệ thống kia là hệ thống Holmes.

Hãy nghĩ hệ thống Watson như là cái tôi ngây thơ của chúng ta, hoạt động bởi những thói quen suy nghĩ lười biếng. Nghĩ về hệ thống Holmes như cái tôi khao khát của chúng ta, cái tôi mà chúng ta sẽ học cách làm thế nào để áp dụng phương pháp suy nghĩ của Holmes vào cuộc sống hằng ngày của chúng ta và loại bỏ những thói quen suy nghĩ của hệ thống Watson. Continue reading

Denise Cummins – Tại sao một số người dường như thiếu thấu cảm

 

“Bạn ổn chứ? Bạn có vẻ mất tập trung”, đồng nghiệp hỏi Alice.

“Vâng, tôi ổn” Alice đáp. “Vì mẹ tôi lại nhập viện trở lại, và tôi không chắc bà sẽ qua khỏi lần này.” Giọng Alice vỡ ra, và cô lấy khăn lau nước mắt. Khi cô nhìn lên, cô ngạc nhiên khi thấy đồng nghiệp của cô đã biến mất.

Chuyện càng tồi tệ hơn khi đồng nghiệp của cô tránh mặt cô suốt cả ngày. Anh ta thậm chí còn không thân thiện khi Alice hỏi về thông tin cô cần để hoàn thành một báo cáo.

Cuối buổi chiều đó, đồng nghiệp gửi cho cô một email nói “Xin lỗi. Không thể làm được.”

Đa số chúng ta từng có những tương tác giống như thế. Những người chúng ta xem là bạn bè – những người tử tế – dường như bỏ rơi chúng ta khi chúng ta cần sự hỗ trợ tinh thần nhất. Họ rõ ràng không phải là những người vui mừng trước nỗi khổ của người khác hoặc là người có nhân cách bệnh lý, vô cảm trước nỗi khổ. Vì vậy hành động của họ gây khó hiểu.

Kiểu tương tác này có thể dẫn đến sự tức giận, đánh giá và buộc tội – phản ứng tức giận “bạn không quan tâm tôi”. Nhưng đây là vấn đề: Cả hai bên cảm thấy những cảm xúc của họ từng bị chà đạp.

Đáp ứng thấu cảm có thể dẫn đến sự quá tải về cảm xúc

Hãy xem điều gì xảy ra bên trong chúng ta khi chúng ta nhìn thấy nỗi khổ của những người khác. Khi chúng ta trải nghiệm nỗi đau thể xác hoặc nỗi khổ tinh thần, thì một mạch thần kinh được kích hoạt (vành đai vỏ não và thuỳ nhỏ ở não trước). Nghiên cứu khoa học thần kinh cho thấy mạch thần kinh này cũng được kích hoạt khi chúng ta nhìn thấy người khác chịu đựng đau đớn hoặc đau khổ. Do đó, nhìn thấy nỗi khổ của người khác khiến chúng ta cũng đau khổ.

Dù đáp ứng này là quan trọng cho mối quan hệ xã hội, thì quả thật nó không thoải mái. Nếu mạch thần kinh đó bị kích thích quá thường xuyên (chia sẻ quá mức với những kinh nghiệm tiêu cực của người khác) thì nó có thể dẫn đến sự kiệt sức về cảm xúc.

Và do đó con người phát triển những chiến lược để bảo vệ bản thân họ. Một số người làm giống như đồng nghiệp của Alice – tạo khoảng cách về thể lý và cảm xúc giữa họ và người đang đau khổ. Một số người thì hiện diện nhưng lại tách rời về cảm xúc, khiến người đang đau khổ thường cảm thấy bị bỏ rơi. Continue reading

Samantha Joel – 10 lời thề khi kết hôn dựa trên nghiên cứu

Dưới đây là 10 lời hứa chúng ta nói với người kia. Chúng ta tin rằng mỗi lời hứa đó sẽ giúp chúng ta đạt được hạnh phúc lâu dài trong hôn nhân. Đây là lý do tại sao:

1. “Tôi hứa tôn trọng, ngưỡng mộ và đánh giá cao con người bạn đang là, cũng như con người mà bạn ao ước trở thành.”

Nghiên cứu về những ảo tưởng tích cực cho thấy khi nhìn người yêu dưới ánh sáng tích cực thì có lợi cho mối quan hệ – đánh giá cao những phẩm chất tích cực của họ hơn là lải nhải về những khuyết điểm của họ. Điều này không chỉ làm cho mối quan hệ thỏa mãn hơn mà những ảo tưởng tích cực còn giúp 2 người cảm thấy tốt hơn về bản thân họ [1]. Vì vậy, trong phần đầu tiên của lời thề này, chúng ta hứa sẽ luôn luôn nhìn thấy mặt tốt nhất ở người kia.

Trong phần hai của lời thề, đối tác và tôi hứa sẽ ủng hộ những nỗ lực để trưởng thành và cải thiện bản thân của người kia theo thời gian. Đây được gọi là hiện tượng Michelangelo, và nghiên cứu cho thấy việc ủng hộ sự thay đổi bản thân của đối tác có lợi cho cả đối tác và mối quan hệ [2]. Điều quan trọng là, tôi không hứa giúp đối tác cải thiện bản thân theo cách tôi muốn anh ấy cải thiện, mà theo cách anh ấy muốn cải thiện bản thân, và ngược lại. Nó nói về việc ủng hộ những mục tiêu cá nhân của riêng đối tác. Continue reading

Về bộ phim Kaze tachinu (The Wind Rises, 2013) của Miyazaki Hayao

The Wind Rises (2013)

Lời nói đầu: Tác phẩm mới nhất và có lẽ cũng là cuối cùng của bậc thầy hoạt hình Nhật Miyazaki Hayao. Cả bộ phim nói về một người sống hết lòng vì ước mơ, và làm hết mình để thực hiện hoài bão của mình, dẫu cho kết quả của hoài bão ấy thật là kinh khủng và gây ra thật nhiều tai ương. Tình tiết câu chuyện trong phim nhiều chỗ lãng đãng như mây trời, nhiều chỗ lấp lửng, thi vị tựa như một bài thơ. Những cơn gió dịu dàng thì thật dễ chịu, nhưng khi chúng nhân bội lên thì cũng thật đáng sợ. Chúng mang cô gái đến với anh, mà cũng mang cô gái đi khỏi anh; chúng đem đến cho anh niềm vui thích ở chuyện bay lượn, mà cũng cuốn phăng đi sức lực và tinh thần nơi anh, và cả đất nước anh nữa.

Thế đấy, được đó, mất đó, gió cứ nổi, dòng đời cứ trôi, và ta vẫn phải sống.

Bộ phim này còn dấy lên nhiều chuyện tranh cãi, chủ yếu xoay quanh việc Miyazaki làm một phim về việc sản xuất máy bay dùng cho chiến tranh. Sau đây là một bài viết trên trang NPR về vấn đề này.

Continue reading