David Bordwell – Về đạo diễn Ozu Yasujirō

Ozu Yasujiro

David Bordwell

Về đạo diễn Ozu Yasujirō

Duy Đoàn chuyển ngữ

Trong suốt sự nghiệp của mình, Ozu Yasujirō làm việc trong nền công nghiệp điện ảnh chính thống. Tuân thủ vai trò của mình, trung thành với hãng phim của mình (hãng Shochiku phi thường), ông thường sánh mình với người bán đậu hủ, cung cấp những món bổ dưỡng nhưng cực kì bình thường. Đối với một số nhà phê bình, sự vĩ đại của ông bắt nguồn từ mối quan hệ gần gũi với những thực tế hàng ngày trong đời sống Nhật-bản. Tuy nhiên kể từ cái chết của ông, một quan điểm phê bình khác đã xuất hiện. Con người bảo thủ khiêm nhường này bắt đầu được công nhận như một trong những nhà làm phim thú vị nhất về mặt hình thức trên thế giới, một đạo diễn đã mở rộng thể loại mình đã làm việc cùng và phát triển nên một phong cách điện ảnh phong phú và độc nhất.

Ozu khởi nghiệp trong một hệ thống phân loại có sẵn bấy lâu, và ông nhanh chóng tự chứng tỏ mình là người đa năng, làm về những bộ phim hài về trường đại học, những câu chuyện buồn bã về những viên chức văn phòng, thậm chí còn làm phim về băng đảng. Tuy nhiên, tới năm 1936, ông bắt đầu chuyên môn hoá. Thể loại “chính kịch gia đình”, một nét đặc trưng của Shochiku, tập trung vào những thử thách và niềm vui nơi cuộc sống của tầng lớp trung lưu hoặc của tầng lớp lao động – nuôi dạy con cái, tìm việc làm, gả con trai và gả con gái, dàn xếp những bất đồng trong hôn nhân, đem lại sự thoải mái cho những người ông bà. Chính ở thể loại này mà Ozu tạo được những bộ phim nổi tiếng nhất và người ta nói rằng ông đã tỏ lòng thán phục trước thể loại này ngay giờ phút lâm chung: “Sau rốt, ngài chủ tịch, là chính kịch gia đình.” Continue reading

Advertisements

M. B. White – Về bộ phim A bout de souffle (1960) của Jean-Luc Godard

A bout de souffle (1960)

M. B. White

Về bộ phim A bout de souffle (1960) của Jean-Luc Godard

Duy Đoàn chuyển ngữ

A bout de souffle là phim truyện đầu tiên do Jean-Luc Godard đạo diễn và là một trong những phim mở đầu cho Làn sóng mới của Pháp vào cuối thập niên 1950. Godard đã làm vài bộ phim ngắn trước A bout de souffle nhưng chính phim này đã thiết lập nên danh tiếng quốc tế cho ông, người được xem là một trong những nhà làm phim quan trọng nhất của thập niên 1960.

Câu chuyện trong phim khá đơn giản. Michel Poiccard (Jean-Paul Belmondo), một tên lưu manh tầm thường, tình cờ giết một tay cảnh sát. Anh ta đến Paris để gom chút tiền nhằm thoát khỏi đất nước này, và cố gắng thuyết phục cô bạn gái người Mĩ Patricia Franchini (Jean Seberg) đi cùng với anh. Cô nàng không hứng thú với chuyện đi cùng anh ta cho bằng chuyện giữ một vai trò như một trí thức Mĩ tại Paris. (Cô nàng rao bán tờ New York Herald Tribune ở Champs-Elysées trong lúc đang cố gắng tự thiết lập cho mình vai trò kí giả.) Khi Michel lấy được tiền mình cần và sẵn sàng rời khỏi thành phố, Patricia tố giác anh cho cảnh sát, và anh ta bị bắn khi đang nỗ lực trốn chạy một cách miễn cưỡng. Continue reading

Italo Calvino – Từ ngữ thành văn và bất thành văn

 

Italo Calvino

Từ ngữ thành văn và bất thành văn

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của William Weaver

Bài nói chuyện này được trình bày tại New York Institute for the Humanities, trong chương trình James Lecture, vào ngày 30/3/1983.

Khi người ta yêu cầu tôi thực hiện một bài nói chuyện, không về một chủ đề đặc biệt nào, mà để tôi tự do chọn lựa chủ đề để nói, tôi cảm thấy phần nào lúng túng.

Thường khi tôi viết tôi cảm thấy bản thân mình được bảo vệ đằng sau cái đối tượng cứng cáp được gọi là văn bản viết, nó sẽ tuỳ thuộc công chúng khi đọc nó, hoặc nếu họ thấy không hài lòng, cứ buông nó ra bất kì lúc nào. Còn một bài nói chuyện thì ngược lại, tôi phải đối diện không chỉ với cử toạ mà còn với vấn đề bên trong tôi: Cử toạ này sẽ kì vọng điều gì từ những lời của tôi? Khi tôi phải diễn thuyết bằng một ngôn ngữ không phải ngôn ngữ của chính mình, một vấn đề khác trỗi dậy: Liệu những ngôn từ tôi đang nghĩ có giống với những cái tôi đang nói và với những cái thính giả sẽ tiếp nhận không?

Để khắc phục những khó khăn này, tôi bắt đầu để xung quanh mình mấy cuốn từ điển, như thể từ chúng mà giải pháp sẽ xuất hiện ra. Chẳng hạn, tôi có thể tìm từ “lecture” và xem thử từ đó gợi ra cho tôi điều gì.

“Lecture” theo từ điển Webster nghĩa là: “a) một bài nói chuyện truyền tải kiến thức được thực hiện trước cử toạ và thường được chuẩn bị trước; b) văn bản của một bài nói chuyện như vậy.” Do đó, tôi ở đây, đang chuẩn bị bài nói chuyện của mình cho tử tế, và những trang giấy tôi đang giữ trong tay mình là cái văn bản tôi đã viết ra. Không thể ứng biến, tôi buộc phải đọc, cảm thấy dễ chịu bởi từ nguyên Latin của từ “lecture”, cũng do Webster đưa ra. Ở bất kì trường hợp nào, tôi không bao giờ có thể thoát khỏi số phận của mình: ở ngoài công chúng cũng như trong đời sống riêng tư tôi luôn giữ trang viết cách mũi mình mấy cm. Trong suốt chuyến đi để gia nhập các vị đây, trên phi cơ băng ngang đại dương, và sau đó khi ngồi trên xe taxi băng qua Manhattan, tôi đọc lại văn bản của mình, cũng để thực hành phần phát âm; và thi thoảng tôi ngước mắt lên khỏi trang giấy, nhìn quanh quất, khám phá ra một thế giới khác hoàn toàn so với thế giới bên trong trang viết; mỗi lần tôi bắt đầu đọc lại, tôi càng thấy khốn hoặc, và cứ mỗi lần thì văn bản đó lại trông khác trước. Tình trạng gián đoạn này giữa trang viết, vốn bất động và ổn định, với cái thế giới phong phú di động bên ngoài trang giấy chưa bao giờ thất bại trong việc làm tôi sửng sốt: thậm chí giờ đây, ở hội trường này, mỗi lần tôi ngước mắt lên nhìn cử toạ, tôi nghe mình có một cảm giác bối rối quen thuộc, và tôi tự hỏi: Tại sao tôi lại viết những thứ tôi đã viết? Continue reading

[Scientific American] Tại sao bộ não chuộng sách giấy hơn

Tác giả: Ferris Jabr

Duy Đoàn chuyển ngữ 

Một trong những đoạn phim Youtube lan truyền rất nhanh và làm người ta phấn khích nhất hồi hai năm trước, với phần mở đầu bình thường vô cùng: một bé gái một tuổi chơi với iPad, lướt ngón tay dọc ngang màn hình cảm ứng và đẩy các nhóm biểu tượng qua lại trên màn hình. Ở những cảnh tiếp theo đó, cô bé có vẻ như đang khum bàn tay lại, túm túm gì đó và ấn vào những trang giấy của mấy tờ tạp chí như thể chúng là những màn hình. Đoạn phim còn xoáy vào những cử chỉ đó bằng cách tua lại và chiếu cận cảnh vào.

Đối với cha của đứa bé, thì đoạn phim đó – A Magazine Is an iPad that Does Not Work – là bằng chứng cho sự chuyển dời thế hệ. Trong đoạn mô tả kèm theo, ông viết, “Những cuốn tạp chí giờ đây vô dụng và không thể hiểu được, đối với cư dân số (digital native)” – tức là, đối với những người đã tương tác với những công nghệ số từ lúc còn rất nhỏ, khi mà xung quanh họ lúc đó không chỉ có sách và tạp chí bằng giấy mà còn có điện thoại thông minh (smartphone), Kindle và iPad.

Cho dù bé gái đó có thực sự kì vọng những cuốn tạp chí phải hành xử như một chiếc iPad hay không, thì đoạn phim cũng làm ta chú ý đến một vấn đề vô cùng thực tế: Chính xác làm thế nào mà công nghệ chúng ta dùng để đọc có thể thay đổi cách đọc của chúng ta?

Ít nhất kể từ thập niên 1980, các nhà nghiên cứu tâm lí học, kĩ thuật máy tính, và khoa học thư viện và thông tin đã công bố hơn 100 nghiên cứu khám phá những khác biệt ở cách đọc trên sách giấy và cách đọc trên màn hình. Trước năm 1992, hầu hết các thí nghiệm đều kết luận rằng khi người ta đọc truyện và đọc báo ở màn hình thì họ đọc chậm hơn và ghi nhớ thông tin ít hơn. Tuy vậy, khi độ phân giải của màn hình của tất cả các loại thiết bị trở nên sắc nét hơn, thì một loạt những khám phá theo nhiều chiều hướng khác nhau bắt đầu xuất hiện. Những khảo sát gần đây cho thấy rằng mặc dù hầu hết mọi người đều chuộng dùng giấy hơn – đặc biệt khi họ cần tập trung trong thời gian dài – nhưng những thái độ đó đang thay đổi khi máy tính bảng và công nghệ đọc sách điện tử được cải thiện dần và khi mà chuyện đọc những văn bản số để tìm dữ kiện và để giải trí đang trở nên ngày càng phổ biến hơn. Ở Mĩ, e-book hiện nay chiếm hơn 20 phần trăm tổng số sách được bán cho công chúng.

Mặc cho loại công nghệ phổ thông thân thiện người dùng ngày càng phát triển, nhưng hầu hết các nghiên cứu được công bố kể từ đầu thập niên 1990 đều xác nhận những kết luận trước đó: giấy vẫn chiếm ưu thế so với màn hình như một phương tiện đọc sách báo. Cùng với những thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, những cuộc bỏ phiếu và những báo cáo người tiêu dùng đều chỉ ra rằng các thiết bị số ngăn người ta định vị những đoạn văn bản dài một cách hiệu quả, điều này có thể làm ngăn trở chút ít trong việc đọc hiểu. So với giấy, màn hình cũng có thể làm cạn kiệt nguồn tài nguyên trí óc của chúng ta trong lúc đọc và làm ta khó ghi nhớ hơn những gì mình đọc được sau khi đọc xong. Bất kể họ có nhận ra điều đó hay không, người ta vẫn thường tiếp cận máy tính và máy tính bảng với tinh thần ít hướng đến chuyện học hơn so với lúc tiếp cận sách giấy. Và máy đọc sách không tái dựng lại được một số trải nghiệm theo cảm giác có được lúc đọc sách giấy, và một số người thấy bất an khi thiếu vắng những cảm nghiệm đó. Continue reading

10 bộ phim tuyệt vời về phụ nữ và chốn đô thành

Đây là danh sách 10 bộ phim xuất sắc mô tả về cuộc sống chốn đô thành dưới góc nhìn của phụ nữ, do British Film Institute chọn ra.

When a Woman Ascend the Stairs (1960)

Đạo diễn: Naruse Mikio

When a Woman Ascends the Stairs

When a Woman Ascend the Stairs được nhiều người xem là kiệt tác của nhà làm phim người Nhật Naruse Mikio. Bộ phim tinh tế bộc lộ một tình thế tuyệt vọng đến tàn bạo của một người phụ nữ đơn thân đang cố gắng xoay xở cuộc sống ở Tokyo thời hậu chiến. Cứ mỗi đêm, Keiko (do Takamine Hideko thủ vai) lại trèo lên những nấc thang dốc đứng để tới quán rượu nơi cô làm công việc tiếp viên, phục vụ rượu và “mua vui” cho đám thương nhân.

Continue reading

Những bộ óc lớn trả lời những câu hỏi khó của trẻ con ra sao?

big-questions-from-little-people

Tại sao chúng ta sa vào chuyện yêu nhau, tại sao chúng ta không thể tự chọc lét chính mình, giấc mơ hoạt động như thế nào, v.v.. Trong quá trình phát triển, trẻ con thường đặt ra những câu hỏi xoay quanh những hiện tượng trong cuộc sống này, thoạt nhìn tưởng chừng đơn giản nhưng thật khó để đưa ra câu trả lời thoả mãn bọn trẻ.

Gemma Elwin Harris đã yêu cầu hàng ngàn trẻ em trong độ tuổi từ bốn đến mười hai gửi đến những câu hỏi như thế. Sau đó, cô mời những nhà khoa học, những nhà tư tưởng, và những nhà văn danh tiếng nhất để trả lời các câu hỏi ấy, trong đó có những tên tuổi như Noam Chomsky, Alain de Botton, Richard Dawkins, Sir David Attenborough, v.v.. Kết quả là Harris cho ra đời cuốn sách Big Questions from Little People & Simple Answers from Great Minds (Những câu hỏi lớn từ những con người bé nhỏ & những trả lời giản dị từ những bộ óc lớn), xuất bản năm 2012, một tập hợp những lời giải thích thú vị về những băn khoăn thường gặp ở trẻ con.

Sau đây là một số giải thích thú vị nằm trong cuốn sách

Giấc mơ được tạo ra như thế nào?

Theo triết gia Alain de Botton:

Gần như lúc nào bạn cũng cảm thấy có trách nhiệm với bộ óc của chính mình. Bạn muốn chơi Lego à? Bộ não bạn sẽ có mặt để khiến chuyện đó xảy ra. Bạn thích đọc sách à? Bạn có thể ghép các mẫu tự lại với nhau và thấy được những con chữ hiện ra trong tâm trí mình.

Nhưng đêm tới thì chuyện lạ xảy ra. Khi bạn ngủ, trí óc bạn tạo ra những màn trình diễn quái lạ nhất, kinh ngạc nhất và đôi khi còn đáng sợ nữa. Continue reading

J. E. Cirlot – Tính biểu tượng của băng

 J. E. Cirlot

Tính biểu tượng của băng

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Jack Sage

Căn cứ vào việc nước là biểu tượng cho sự thông giao giữa cái hình thức và cái phi hình thức, là yếu tố chuyển tiếp giữa hai chu kì khác nhau, về bản chất là mềm mỏng, và cũng liên hệ với những ý niệm của vật chất, sự màu mỡ đất đai và ‘cái chết của linh hồn’ theo kiểu Hérakleitos, thì theo đó băng tượng trưng chính yếu cho hai thứ: đầu tiên, sự biến đổi do cái lạnh gây ra trong nước – tức là, sự “đông lại” của phần tạo nghĩa biểu trưng của nó; và, thứ nhì, sự mất hiệu lực của những tiềm thể của nước. Vì lẽ đó băng được định nghĩa như lằn ranh cố định giữa ý thức và vô thức (hoặc giữa bất kì hai mức độ linh động nào) (56). Mặc dù nghĩa tiêu cực nổi bật, nhưng nó không thiếu cái nghĩa tích cực đến mức độ sự cô đặc tương đương với tính bền bỉ, và cái lạnh hàm ý sự kháng cự lại tất cả những gì thấp kém; ở nghĩa sau nó tương ứng với quan niệm của Nietzsche về bầu không khí rét mướt và ‘thù địch’ trên những đỉnh núi.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20131107

Nguồn:

Cirlot, J. E. “Ice.” A Dictionary of Symbols. Bản dịch Anh ngữ của Jack Sage. Ấn bản thứ hai. London: Routledge, 1971.

Phim hoạt hình Mĩ và hiện tượng sùng bái lòng tự tôn

planes, turbo, charlie brown

Tác giả: Luke Epplin

Suốt nhiều năm qua, các hãng phim hoạt hình của Mĩ càng lúc càng trau chuốt hình ảnh cho những bộ phim của mình. Song, bên cạnh đó, phần nội dung và cách thức thể hiện của những bộ phim hoạt hình này có vẻ đang dần lâm vào ngõ cụt với những thông điệp đã quá sáo mòn. Mặt khác, nếu xem xét kĩ hơn thì những thông điệp đó thực sự làm người ta lo lắng, vì chúng dễ gây ngộ nhận cho người xem, nhất là đối với trẻ em.

Hội chứng “chiếc lông vũ thần kì” trong phim hoạt hình Mĩ

Khi xét đến chuyện rập khuôn công thức của điện ảnh Hollywood, thì trong những năm gần đây không có thể loại nào cứng nhắc vào một chủ đề hơn thể loại phim hoạt hình dựng từ máy tính dành cho trẻ em.

Những bộ phim hoạt hình này bị nhiễm cái được gọi là hội chứng chiếc-lông-vũ-thần-kì. [Chiếc-lông-vũ-thần-kì ở đây ý chỉ chiếc lông vũ mà chú voi Dumbo giữ bên mình trong bộ phim cùng tên của Walt Disney năm 1943. Trong phim này Dumbo là một chú voi có khả năng bay bằng cách dùng đôi tai với chức năng như đôi cánh. Để bay được, thì bạn Dumbo đã đưa cậu chiếc lông vũ vào bảo đây là chiếc lông vũ thần kì, nhằm giúp Dumbo có thêm tự tin. Rồi một lần nọ, Dumbo làm mất chiếc lông vũ này, nhưng cậu bạn cho biết đó chỉ là chiếc lông vũ bình thường thôi, quan trọng là mình phải tin vào khả năng của mình – chú thích của người dịch.]

Cùng với nhân vật Dumbo trong phim hoạt hình cùng tên năm 1943 của Walt Disney, thì những bộ phim ngày nay xoay quanh chuyện những nhân vật lạc lõng vượt qua được các hạn định của xã hội hoặc thậm chí của chủng loài mình, từ đó biến những giấc mơ bất khả thành hiện thực. Bao giờ cũng thế, cái gây trở ngại cho các nhân vật chính, chẳng hạn như đôi tai khổng lồ của Dumbo, rốt cuộc lại trở thành nguồn sức mạnh to lớn nhất

Nhưng trước tiên các nhân vật phải từ bỏ chỗ nương tựa nơi “chiếc lông vũ thần kì” – hay nói rộng hơn thì chúng phải vượt qua nỗi sợ hãi lớn nhất của bản thân – và tin rằng nguồn sức mạnh lớn lao phát xuất từ bên trong mình.

Trong mười năm qua những bộ phim hoạt hình kiểu này xuất hiện đầy rẫy: một chú gấu trúc béo ú hi vọng trở thành bậc thầy Kungfu (Kung Fu Panda); một chú chuột cống mơ trở thành đầu bếp Pháp (Ratatouille); một tên ác nhân 8-bit khao khát trở thành anh hùng trong trò chơi điện tử (Wreck-It Ralph); một con quái vật đáng yêu lại đi theo đuổi sự nghiệp làm kẻ hù doạ hạng nhất (Monsters University). Ngoài ra, gần đây có hai bộ phim hoạt hình thuộc hai hãng khác nhau với cốt truyện tương tự nhau như khuôn đúc – TurboPlanes. Cả hai phim này đều làm nổi bật mức độ xuất hiện của hội chứng “chiếc lông vũ thần kì” vốn đang âm thầm len lỏi vào trong lĩnh vực giải trí dành cho trẻ em. Continue reading

Roberto Bolaño – Ai dám làm thế?

Roberto Bolaño

Ai dám làm thế?

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Natasha Wimmer

Những quyển sách tôi nhớ nhất là những quyển tôi ăn cắp được ở Mexico City, lúc mười sáu đến mười chín tuổi, và những quyển tôi mua được ở Chile khi hai mươi tuổi, trong suốt những tháng ngày đầu tiên của cuộc đảo chính. Ở Mexico lúc đó có một tiệm sách dữ dội lắm. Nó được gọi là Tiệm sách Kính và nó nằm ở Alameda. Những bức tường, thậm chí trần nhà, trong tiệm sách đó đều được làm bằng kính. Kính và những cái rầm sắt. Từ bên ngoài, đây dường như là một nơi không thể ăn cắp món gì được. Vậy mà tính thận trọng lại bị lấn lướt bởi cám dỗ muốn thử và sau một thời gian tôi đã thử.

Cuốn đầu tiên rơi vào tay tôi là một quyển sách nhỏ của [nhà thơ huê tình thế kỉ mười chín] Pierre Louÿs, với những trang giấy mỏng như giấy Kinh Thánh, lúc này tôi không thể nhớ cuốn đó là Aphrodite hay Songs of Bilitis. Tôi biết lúc ấy tôi mười sáu và sau một thời gian thì Louÿs trở thành người đưa đường dẫn lối cho tôi. Sau đó tôi ăn cắp mấy cuốn sách của Max Beerbohm (The Happy Hypocrite), Champfleury, Samuel Pepys, anh em nhà Goncourt, Alphonse Daudet, và Rulfo và Arreola, những nhà văn Mexico mà thời đó gần như vẫn còn hoạt động tích cực, và là những người mà tôi do vậy có thể gặp vào buổi sáng nào đó ở Avenida Niño Perdido, một con đường đông đúc mà ngày nay những tấm bản đồ Mexico City đã giấu béng nó đi khỏi tôi , cứ như Niño Perdido chỉ có thể hiện hữu trong trí tưởng tượng của tôi, hoặc cứ như con đường đó, với những cửa hàng dưới lòng đất và những người biểu diễn đường phố đã thật sự lạc đâu mất rồi, giống như tôi đã từng lạc hồi mười sáu tuổi. Continue reading

The New Yorker – Các nhà văn nói về Alice Munro

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Tờ New Yorker đã hỏi nhiều nhà văn về việc tác phẩm của Alice Munro có ý nghĩa gì đối với họ. Đây là những lời nhận định từ các nhà văn.

Margaret Atwood:

Khi tôi viết lời giới thiệu cho tập Collected Stories của bà:

Thông qua tác phẩm của Munro, hạt Huron ở vùng Sowesto đã gia nhập vào hạt Yoknaptawpha của Faulkner thành một dải đất hoá huyền thoại bởi sự xuất sắc của một nhà văn, người đã tôn vinh nó, mặc dù trong cả hai trường hợp thì “tôn vinh” hoàn toàn không phải từ thích hợp. “Mổ xẻ” (anatomised) hẳn gần hơn với cái diễn ra trong tác phẩm của Munro, mặc dù ngay cả từ đó cũng quá ư lãnh đạm. Việc soi xét đầy ám ảnh, việc khai quật mang tính khảo cổ học, mảng hồi ức chuẩn xác và chi tiết, việc đắm mình vào những kẻ đê tiện hơn và bần tiện hơn và những mặt đáy thù hận hơn của bản tính con người, việc kể lại những bí mật huê tình, sự hoài niệm những nỗi đớn đau đã tan biến, và hân hoan trước sự tròn đầy và đa dạng nơi cuộc sống, khi tất cả những điều đó được hoà trộn cùng với nhau thì ta nên gọi cái kết hợp như thế là gì?

Alice và tôi là bạn của nhau từ năm 1969, khi tập truyện “Dance of the Happy Shades” của bà và tập thơ “The Circle Game” của tôi cùng được xuất bản, và tôi ngủ lại nhà bà trong một chuyến ghé thăm ở Victoria. Lúc đó nhiều cây bút Canada bắt đầu bằng truyện ngắn, bởi vì thật khó để xuất bản tiểu thuyết ở Canada vào những năm sáu mươi. Cả hai chúng tôi có được khởi đầu của mình thông qua chương trình phát thanh CBC của Robert Weaver, “Anthology”. Người Canada sẽ hào hứng đây, Alice sẽ choáng, và tất cả chúng tôi sẽ có tiệc một khi bà ta tự mình chui ra khỏi cái tủ áo choàng, có thể bà đã chạy vào núp trong đó. Continue reading