Jason Plaks – Tại sao con người sẵn sàng để những điều xấu xảy ra

Về mặt đạo đức, điều nào tồi tệ hơn: Đẩy một người xuống biển cho chết đuối hoặc không làm gì để cứu 1 ai đó rõ ràng đang sắp chết đuối?Nhiều nghiên cứu tâm lý đã chứng minh về “thành kiến không làm” (omission bias): Khi xem xét cách tốt nhất để làm hại, nếu được lựa chọn, số đông mọi người chọn ‘không hành động’ thay vì hành động, ngay cả nếu cả 2 sự lựa chọn đều dẫn đến cùng kết quả xấu. Trong thực tế, con người có xu hướng chọn không hành động ngay cả khi “không hành động” dẫn đến nhiều nguy hại hơn là hành động.

 

Những nghiên cứu khác đã chứng minh 1 hiệu ứng tương tự đối với việc đánh giá về những hành động của người khác: mọi người đánh giá 1 người đầu độc một nạn nhân là đáng trách hơn so với một người không đưa thuốc giải độc cho nạn nhân.

Liệu 2 hiện tượng trên chỉ phản ánh về 1 thành kiến nằm bên dưới sự ưa thích của mọi người đối với sự không hành động, tính trì trệ và duy trì tình trạng hiện tại? Hoặc có thể chúng có 1 mối quan hệ thú vị và tinh tế hơn?

Một số nghiên cứu gần đây chứng minh điều thứ 2. Peter DeScioli, John Christner, và Robert Kurzban lập luận trong 1 bài báo gần đây rằng 1 hiện tượng này giải thích cho hiện tượng kia: nói cách khác, mọi người sẵn sàng chọn lựa ‘không hành động’ hơn vì họ biết rằng, nhìn chung, người khác khoan dung đối với những người không hành động hơn là những người hành động. Theo DeScioli và các cộng sự, khi con người muốn thực hiện 1 hành động vô đạo đức, họ dường như biết qua trực giác rằng họ sẽ ít nhận được sự chỉ trích hơn nếu họ làm nó thông qua sự ‘không hành động’ hơn là thông qua hành động công khai, có thể thấy được. Khi làm như vậy, họ có thể lựa chọn 1 hành động cân bằng giữa việc gây ra nguy hại lớn nhất và duy trì được bề ngoài không vô đạo đức. Continue reading

Roy F.Baumeister – Cái ác nằm trong đôi mắt người nhìn

Tham khảo sách “Evil: Inside Human Cruelty and Violence.” _ Roy F.Baumeister

 

null

Thủ phạm nghĩ gì?

Dù tội ác có thể tồn tại rõ ràng trong tâm trí của nạn nhân thì bạn không thể chỉ dựa vào 1 mình sự giải thích của nạn nhân để giải thích hoặc hiểu về tội ác. Thủ phạm của những tội ác thường là người bình thường với những động cơ, lý do và sự hợp lý hóa của riêng họ về những gì họ làm.

Những lý thuyết chỉ áp dụng với những kẻ giết người hàng loạt thường không hữu ích trong việc hiểu được con người nói chung, vì ít hơn 1% của 1% của dân số là những kẻ giết người hàng loạt. Vì những sự kiện hằng ngày tương đối dễ dàng để nghiên cứu, 1 người có thể nghiên cứu chúng rất kỹ lưỡng và đi đến những kết luận vững chắc. Ngược lại, những thủ phạm của những tội ác khác thường, hiếm có thì rất khó nghiên cứu: họ thường ở trong tù hoặc lẩn trốn ở đâu đó; thường không có đủ số lượng có sẵn để làm 1 mẫu thống kê; và những khó khăn về kỹ thuật, pháp luật cho các nhà nghiên cứu.

Để nghiên cứu cách những thủ phạm suy nghĩ, tôi và cộng sự đã thiết kế 1 nghiên cứu để xem mọi người sẽ nói như thế nào về một điều gì đó mà họ đã làm mà người khác nghĩ rằng ít nhất họ đã làm sai. Chúng tôi yêu cầu họ viết 1 bài giải thích về 1 tai nạn gần đây mà họ đã làm điều gì đó khiến 1 ai đó rất tức giận. Và chúng tôi cũng yêu cầu họ viết một bài giải thích về một sự kiện mà ai đó đã làm họ tức giận. Mỗi người viết 1 câu chuyện “thủ phạm” và 1 câu chuyện “ nạn nhân”. Và chúng tôi phát hiện thấy những sự khác biệt chủ chốt khi chúng ta chuyển từ quan điểm của nạn nhân sang quan điểm của thủ phạm: Continue reading

Maria Konnikova – Làm thế nào để suy nghĩ như Sherlock Holmes

Tham khảo sách “Mastermind: How to think like Sherlock Holmes” – Maria Konnikova

null

Bằng cách đi theo lối suy nghĩ của Holmes ở những trang dưới đây, chúng ta sẽ học cách làm thế nào để áp dụng phương pháp luận của anh í vào cuộc sống hằng ngày của chúng ta, trở nên chú ý hơn và xử lý trước mỗi sự lựa chọn, mỗi vấn đề, mỗi tình huống với sự cẩn thận, quan tâm mà nó xứng đáng. Lúc đầu nó sẽ có vẻ không được tự nhiên. Nhưng với thời gian và sự tập luyện, nó sẽ trở thành bản năng thứ 2 của chúng ta như đối với Holmes.

Những cạm bẫy của bộ não chưa được huấn luyện

1 trong những điều tạo nên đặc trưng của lối suy nghĩ của Holmes – và lý tưởng về mặt khoa học – là sự hoài nghi và tò mò trước thế giới. Mọi việc đều được xem xét cẩn thận rồi sau đó mới được chấp nhận. Điều không may là, tâm trí chúng ta ở trạng thái tự nhiên (default state) của nó, chống lại lối tiếp cận như vậy. Để suy nghĩ giống Sherlock Holmes, chúng ta đầu tiên cần vượt qua sự kháng cự tự nhiên ảnh hưởng đến cách chúng ta nhìn thế giới.

Hầu hết các nhà tâm lý bây giờ đều đồng ý rằng tâm trí chúng ta hoạt động theo 2 hệ thống cơ bản. 1 hệ thống thì nhanh, theo trực giác, phản xạ-1 kiểu chiến đấu-hoặc-bỏ chạy. Nó không đòi hỏi nhiều suy nghĩ ý thức hoặc nỗ lực. Hệ thống kia thì chậm hơn, suy nghĩ cân nhắc, thận trọng hơn, logic hơn, nhưng nó cũng tốn nhiều năng lượng thần kinh/nhận thức hơn.

Vì phí tổn tinh thần của hệ thống này nên chúng ta dành hầu hết thời gian suy nghĩ của chúng ta trong hệ thống phản xạ. Tôi gọi hệ thống này là hệ thống Watson. Hệ thống kia là hệ thống Holmes.

Hãy nghĩ hệ thống Watson như là cái tôi ngây thơ của chúng ta, hoạt động bởi những thói quen suy nghĩ lười biếng. Nghĩ về hệ thống Holmes như cái tôi khao khát của chúng ta, cái tôi mà chúng ta sẽ học cách làm thế nào để áp dụng phương pháp suy nghĩ của Holmes vào cuộc sống hằng ngày của chúng ta và loại bỏ những thói quen suy nghĩ của hệ thống Watson. Continue reading

Denise Cummins – Tại sao một số người dường như thiếu thấu cảm

 

“Bạn ổn chứ? Bạn có vẻ mất tập trung”, đồng nghiệp hỏi Alice.

“Vâng, tôi ổn” Alice đáp. “Vì mẹ tôi lại nhập viện trở lại, và tôi không chắc bà sẽ qua khỏi lần này.” Giọng Alice vỡ ra, và cô lấy khăn lau nước mắt. Khi cô nhìn lên, cô ngạc nhiên khi thấy đồng nghiệp của cô đã biến mất.

Chuyện càng tồi tệ hơn khi đồng nghiệp của cô tránh mặt cô suốt cả ngày. Anh ta thậm chí còn không thân thiện khi Alice hỏi về thông tin cô cần để hoàn thành một báo cáo.

Cuối buổi chiều đó, đồng nghiệp gửi cho cô một email nói “Xin lỗi. Không thể làm được.”

Đa số chúng ta từng có những tương tác giống như thế. Những người chúng ta xem là bạn bè – những người tử tế – dường như bỏ rơi chúng ta khi chúng ta cần sự hỗ trợ tinh thần nhất. Họ rõ ràng không phải là những người vui mừng trước nỗi khổ của người khác hoặc là người có nhân cách bệnh lý, vô cảm trước nỗi khổ. Vì vậy hành động của họ gây khó hiểu.

Kiểu tương tác này có thể dẫn đến sự tức giận, đánh giá và buộc tội – phản ứng tức giận “bạn không quan tâm tôi”. Nhưng đây là vấn đề: Cả hai bên cảm thấy những cảm xúc của họ từng bị chà đạp.

Đáp ứng thấu cảm có thể dẫn đến sự quá tải về cảm xúc

Hãy xem điều gì xảy ra bên trong chúng ta khi chúng ta nhìn thấy nỗi khổ của những người khác. Khi chúng ta trải nghiệm nỗi đau thể xác hoặc nỗi khổ tinh thần, thì một mạch thần kinh được kích hoạt (vành đai vỏ não và thuỳ nhỏ ở não trước). Nghiên cứu khoa học thần kinh cho thấy mạch thần kinh này cũng được kích hoạt khi chúng ta nhìn thấy người khác chịu đựng đau đớn hoặc đau khổ. Do đó, nhìn thấy nỗi khổ của người khác khiến chúng ta cũng đau khổ.

Dù đáp ứng này là quan trọng cho mối quan hệ xã hội, thì quả thật nó không thoải mái. Nếu mạch thần kinh đó bị kích thích quá thường xuyên (chia sẻ quá mức với những kinh nghiệm tiêu cực của người khác) thì nó có thể dẫn đến sự kiệt sức về cảm xúc.

Và do đó con người phát triển những chiến lược để bảo vệ bản thân họ. Một số người làm giống như đồng nghiệp của Alice – tạo khoảng cách về thể lý và cảm xúc giữa họ và người đang đau khổ. Một số người thì hiện diện nhưng lại tách rời về cảm xúc, khiến người đang đau khổ thường cảm thấy bị bỏ rơi. Continue reading

Samantha Joel – 10 lời thề khi kết hôn dựa trên nghiên cứu

Dưới đây là 10 lời hứa chúng ta nói với người kia. Chúng ta tin rằng mỗi lời hứa đó sẽ giúp chúng ta đạt được hạnh phúc lâu dài trong hôn nhân. Đây là lý do tại sao:

1. “Tôi hứa tôn trọng, ngưỡng mộ và đánh giá cao con người bạn đang là, cũng như con người mà bạn ao ước trở thành.”

Nghiên cứu về những ảo tưởng tích cực cho thấy khi nhìn người yêu dưới ánh sáng tích cực thì có lợi cho mối quan hệ – đánh giá cao những phẩm chất tích cực của họ hơn là lải nhải về những khuyết điểm của họ. Điều này không chỉ làm cho mối quan hệ thỏa mãn hơn mà những ảo tưởng tích cực còn giúp 2 người cảm thấy tốt hơn về bản thân họ [1]. Vì vậy, trong phần đầu tiên của lời thề này, chúng ta hứa sẽ luôn luôn nhìn thấy mặt tốt nhất ở người kia.

Trong phần hai của lời thề, đối tác và tôi hứa sẽ ủng hộ những nỗ lực để trưởng thành và cải thiện bản thân của người kia theo thời gian. Đây được gọi là hiện tượng Michelangelo, và nghiên cứu cho thấy việc ủng hộ sự thay đổi bản thân của đối tác có lợi cho cả đối tác và mối quan hệ [2]. Điều quan trọng là, tôi không hứa giúp đối tác cải thiện bản thân theo cách tôi muốn anh ấy cải thiện, mà theo cách anh ấy muốn cải thiện bản thân, và ngược lại. Nó nói về việc ủng hộ những mục tiêu cá nhân của riêng đối tác. Continue reading

Về bộ phim Kaze tachinu (The Wind Rises, 2013) của Miyazaki Hayao

The Wind Rises (2013)

Lời nói đầu: Tác phẩm mới nhất và có lẽ cũng là cuối cùng của bậc thầy hoạt hình Nhật Miyazaki Hayao. Cả bộ phim nói về một người sống hết lòng vì ước mơ, và làm hết mình để thực hiện hoài bão của mình, dẫu cho kết quả của hoài bão ấy thật là kinh khủng và gây ra thật nhiều tai ương. Tình tiết câu chuyện trong phim nhiều chỗ lãng đãng như mây trời, nhiều chỗ lấp lửng, thi vị tựa như một bài thơ. Những cơn gió dịu dàng thì thật dễ chịu, nhưng khi chúng nhân bội lên thì cũng thật đáng sợ. Chúng mang cô gái đến với anh, mà cũng mang cô gái đi khỏi anh; chúng đem đến cho anh niềm vui thích ở chuyện bay lượn, mà cũng cuốn phăng đi sức lực và tinh thần nơi anh, và cả đất nước anh nữa.

Thế đấy, được đó, mất đó, gió cứ nổi, dòng đời cứ trôi, và ta vẫn phải sống.

Bộ phim này còn dấy lên nhiều chuyện tranh cãi, chủ yếu xoay quanh việc Miyazaki làm một phim về việc sản xuất máy bay dùng cho chiến tranh. Sau đây là một bài viết trên trang NPR về vấn đề này.

Continue reading

Lawrence T. White – Nhật Bản là thiên đường của người mất đồ

Những người quan sát am hiểu nhiều thì nhất trí rằng: nếu bạn mất ví tiền, máy ảnh, điện thoại hoặc bất kì thứ gì khác giá trị, bạn có nhiều khả năng tìm được vật đó ở Tokyo hơn là ở New York.

Ví dụ, năm 1995, tỷ lệ tìm lại được những đồ vật bị mất ở Grand Central Terminal ở thành phố New York là khoảng 20%. Ở Shinjuku Station, Tokyo, những chủ sở hữu tìm được đồ bị mất của họ là khoảng 80%.

Năm 2003, giáo sư luật Mark West ở đại học Michigan tiến hành một thực nghiệm để xác minh ấn tượng rằng người Nhật có nhiều khả năng trả lại những món đồ bị mất hơn người Mĩ. Ông bỏ 100 cái điện thoại di động và 20 cái ví tiền ở 2 địa điểm khác nhau – Manhattan (New York) và Shinjuku (Tokyo). Mỗi cái ví có 20 đôla.

West khám phá ra người New York trả lại 77 cái điện thoại và 8 ví tiền (trong đó 2 ví không còn tiền). Ở Tokyo, họ trả lại 95 cái điện thoại và 17 ví tiền. Điều thú vị là, ở Tokyo, gần như tất cả số điện thoại và ví tiền được trả lại đều được đem đến một đồn cảnh sát được gọi là koban phân bố ở khắp thành phố. Ở New York, rất ít đồ vật bị mất được đem đến đồn cảnh sát; những người trả lại có thể liên lạc trực tiếp với chủ sở hữu hoặc để lại món đồ ở một cửa hàng gần đó.

Làm thế nào chúng ta có thể giải thích về tỷ lệ trả đồ cao ở Nhật? Một số người quan sát nói rằng người Nhật có thể trung thực và tốt bụng hơn. Những người khác thì cho rằng bản chất theo chủ nghĩa tập thể của xã hội Nhật chuyển thành một sự quan tâm đến những người khác. Tuy nhiên, những tuyên bố đó không được ủng hộ bởi bằng chứng theo kinh nghiệm.

Cuối những năm 1990, nhà xã hội học Toshio Yamagishi khảo sát hơn 1,400 người ở Nhật và Mĩ. Ông hỏi họ nhất trí hay không nhất trí với những câu như “Tôi không muốn bất lương trong bất kì tình huống nào” và phát hiện thấy người Mĩ, không phải người Nhật, có nhiều khả năng miêu tả về bản thân họ là trung thực và quan tâm đến sự công bằng.

Trong nghiên cứu khác, các nhà nghiên cứu người Nhật đã kiểm tra sự trung thực của trẻ em Mĩ và Nhật độ tuổi từ 3-6. Nhà nghiên cứu giấu một món đồ chơi và bảo đứa trẻ không được lén nhìn. Đa số trẻ em đã lén nhìn và sau đó nói dối về việc lén nhìn. Điều này đúng với mọi đứa trẻ, bất kể sắc tộc của chúng.

Vì vậy, có ít lý do để tin rằng người Nhật thường xuyên trả lại đồ bị mất hơn vì họ trung thực hơn người Mĩ. Thay vào đó, giáo sư West cho rằng hệ thống mất-và-tìm ở Nhật đơn giản là hoạt động hiệu quả hơn ở Mĩ.

Để ủng hộ lập luận của mình, ông đã phỏng vấn nhiều người ở Nhật và Mĩ. Đa số người Nhật biết rằng một ai đó giữ lại tài sản bị mất thì sẽ bị phạt hoặc bỏ tù, và họ biết rằng những người trả lại đồ có quyền hợp pháp nhận được một phần thưởng (thường là 10% giá trị của món đồ bị mất). Họ cũng biết rằng những món đồ bị mất có thể được đem đến một koban. Ngược lại, người Mĩ nhìn chung là không biết các luật địa phương liên quan đến tài sản bị mất.

Sự khác biệt giữa hệ thống mất-và-tìm ở Tokyo và New York đã minh hoạ cho một sự thật về tâm lý học xã hội: Những yếu tố dự báo mạnh mẽ nhất về hành vi con người có thể tìm thấy ở những đặc điểm của hoàn cảnh, chứ không phải ở những đặc điểm của con người. Trong trường hợp này, người Nhật có tỷ lệ trả lại đồ bị mất cao hơn không phải vì họ trung thực hoặc tốt bụng hơn người Mĩ. Họ có tỷ lệ trả đồ cao hơn vì (a) Người Nhật biết luật pháp, (b) dễ dàng để trả lại một món đồ bị mất ở một koban gần đó (c) dễ dàng tìm được món đồ bị mất ở koban, và (d) những người trả lại đồ biết họ sẽ nhận được một phần thưởng tài chính khi chủ sở hữu nhận lại đồ bị mất của họ.

 

Thanh Hằng dịch

Source:

West, M. D. (2005). Law in Everyday Japan: Sex, Sumo, Suicide, and Statutes. Chicago: University of Chicago Press.

Nguồn
http://www.psychologytoday.com/blog/culture-conscious/201405/japan-is-loser-s-paradise

[National Geographic] Việc trồng trọt tác động đến tư duy con người

Tác giả: Ed Yong

Duy Đoàn chuyển ngữ

What you farm affects your thinking

Ảnh: Jim Richardson, National Geographic Creative

 

Lúa gạo và lúa mì không chỉ làm lương thực cho nhân loại. Chúng còn tác động đến cách họ tư duy – theo rất nhiều cách khác nhau.

Đây là kết quả một nghiên cứu được công bố vào ngày 9/5/2014 trên tập sang Science, trong đó họ so sánh những người đến từ những vùng khác nhau của Trung-quốc. Các nhà nghiên cứu, dẫn đầu là Thomas Talhelm thuộc trường University of Virginia (Charlottesville, Mĩ), đã phát hiện rằng những người đến từ những vùng trồng lúa gạo có lối tư duy tương thuộc nhau nhiều hơn và hướng đến tổng thể hơn so với những người đến từ những khu vực trồng lúa mì.

Talhelm cho rằng những khác biệt này nảy sinh bởi vì người ta cần hợp tác nhiều hơn và nỗ lực chung nhiều hơn trong việc trồng lúa gạo so với việc trồng lúa mì. Để gieo trồng và gặt hái lúa được thành công, các nông dân phải làm việc cùng nhau nhằm tạo dựng nên những hệ thống tưới tiêu phức tạp và thiết lập những trao đổi lao động với nhau. Qua thời gian, nhu cầu làm việc nhóm này đã nuôi dưỡng tâm lí tương thuộc và hướng đến tập thể. Tuy nhiên, lúa mì lại có thể phát triển độc lập, thế nên những nông dân lúa mì trở thành những người cá nhân chủ nghĩa hơn. Continue reading

Jennifer Kunst – Làm thế nào để thuần hoá sự ganh tỵ của bạn


Nhà phân tâm học Melanie Klein từng có một mối quan hệ đặc biệt với con quái vật mắt xanh, sự ganh tỵ. Bà dành rất nhiều thời gian để lắng nghe mọi người ở mọi lứa tuổi. Bà nghe từ họ những kinh nghiệm phổ biến về sự ganh tỵ trong cuộc sống hằng ngày.

Sự ghen tỵ gây đau khổ vì 2 nguyên nhân chính – một là chúng ta có thể đều ý thức được mình đang ghen tỵ, và hai là sự ghen tỵ nằm trong vô thức, chúng ta ít nhận ra được. Trải nghiệm có ý thức về sự ghen tỵ là khao khát mãnh liệt muốn có thứ mà người khác có. Nó là nỗi mong muốn nhức nhối, sự khao khát đau khổ, nỗi thèm muốn đến phát điên khi thấy người khác có thứ đó, tận hưởng thứ đó, thậm chí khoe khoang thứ đó. Sắc đẹp, tiền bạc, của cải vật chất, quyền lực – chúng ta ngưỡng mộ chúng và muốn có chúng.

Một cách có ý thức, điều rất đau khổ về khía cạnh này của sự ghen tỵ là nó dựa trên một cảm giác bị tước đoạt. Chúng ta cảm thấy nhỏ bé. Chúng ta cảm thấy không đủ đầy. Chúng ta cảm thấy nghèo. Chúng ta cảm thấy có một điều gì đó sai trái với chúng ta. Chúng ta thậm chí cảm thấy một thứ gì đó đau đớn sâu sắc hơn nhiều: chúng ta có thể cảm thấy mình như kẻ thất bại. Continue reading

Dino Buzzati – Con gián nọ

 

Dino Buzzati

Con gián nọ

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Rebecca Heath

 

Về nhà trễ, tôi giẫm phải một con gián ngoài hành lang khi nó đang chạy lỉnh đi giữa hai chân tôi (nó vẫn còn ở đó, đen xịt nổi lên trên gạch sàn nhà) và sau đó tôi vào nhà tắm. Cô nàng đang ngủ. Tôi nằm xuống kế nàng, tắt đèn và nhìn qua cửa sổ mở tôi thấy bầu trời và một khúc bờ tường. Trời thật nóng, tôi không ngủ được, những sự kiện từ quá khứ quay trở lại ám ảnh tôi, những mối nghi ngờ cũng thế, một sự ngờ vực chung chung nào đó cho ngày hôm sau. Cô nàng khẽ rên rỉ.

“Chuyện gì vậy?”, tôi hỏi.

Nàng mở to mắt với ánh nhìn hững hờ rồi làu bàu, “Em sợ.”

“Sợ gì vậy?”, tôi hỏi.

“Sợ chết? Và tại sao chứ?”

Nàng nói, “Em mơ thấy…” Nàng rúc người sát vào chút nữa.

“Mà em mơ thấy gì vậy?”

“Em mơ thấy em đang ở một vùng quê, em đang ngồi ở bờ sông và em nghe tiếng la hét từ đằng xa… và em sắp chết.”

“Ở bờ sông ư?”

“Đúng vậy,” nàng nói, “em nghe tiếng bọn ếch… chúng đang nhảy rột rột.”

“Lúc đó là thời điểm nào?”

“Vào buổi chiều và em nghe thấy tiếng la hét.”

“Thôi, ngủ đi em, gần hai giờ rồi.”

“Hai giờ ư?” Nhưng cô nàng đã quay trở lại giấc ngủ. Continue reading