Ngũgĩ wa Thiong’o – Cuộc cách mạng đứng thẳng: Hoặc tại sao con người đi với dáng thẳng đứng

Ngũgĩ wa Thiong’o

Cuộc cách mạng đứng thẳng: Hoặc tại sao con người đi với dáng thẳng đứng

Duy Đoàn chuyển ngữ

Hồi xưa, con người thường đi bằng cả tay lẫn chân, giống y như mọi sinh vật tứ chi khác. Con người nhanh hơn thỏ, báo và cả tê giác. Chân và tay ở gần nhau hơn bất kì cơ quan nào khác: chúng có những khớp nối tương ứng giống nhau: vai và hông; khuỷu tay và đầu gối; mắt cá chân và cổ tay; bàn chân và bàn tay, mỗi cái đều có phần cuối là 5 ngón chân và 5 ngón tay, với móng ở mỗi đầu ngón chân và ngón tay. Bàn tay và bàn chân có 5 ngón được sắp xếp giống nhau từ ngón chân cái và ngón tay cái cho đến ngón chân và ngón tay nhỏ nhất. Thuở đó, ngón tay cái nằm gần các ngón khác, ngón chân cái cũng vậy. Chân và tay gọi nhau là anh em con chú bác.

Chúng giúp lẫn nhau trong việc mang vác cơ thể tới bất cứ đâu cơ thể muốn đến; chợ, cửa hàng, leo lên leo xuống mấy cái cây và mấy ngọn núi, bất cứ đâu cần đến việc di chuyển. Thậm chí ở dưới nước, chúng cũng hợp tác tốt để giúp cơ thể nổi lên, bơi hoặc lặn xuống. Chúng theo có mối quan hệ dân chủ và bình đẳng. Chúng cũng có thể mượn cái dụng từ sản phẩm của những cơ quan khác, phát âm thanh từ miệng, nghe từ tai, ngửi từ mũi, và cả nhìn từ mắt.

Nhịp điệu và việc phối hợp liền lạc của chúng làm các bộ phận khác vô cùng ganh tị. Chúng tức giận vì phải cho mượn thiên tư đặc biệt của mình cho hai cặp anh em đó. Sự ganh tị làm chúng mù quáng trước thực tế rằng chân và tay mang chúng đi mọi nơi. Chúng bắt đầu lập mưu chống lại hai cặp đó. Continue reading

[Điểm phim] Good Morning, Vietnam (1987)

Good Morning, Vietnam (1987)

Bối cảnh phim diễn ra vào năm 1965, thời điểm mà Mĩ bắt đầu đưa những toán quân chính quy của mình vào Việt-nam nhằm hỗ trợ chính quyền miền Nam Việt-nam chống lại quân cộng sản Bắc Việt. Câu chuyện chủ yếu xoay quanh đài AFR (Armed Forces Radio) Sài-gòn, nơi mà nhân vật chính Cronauer (Robin Williams) đến đảm nhiệm chương trình buổi sáng và biến mọi thứ tại đây trở nên sống động hơn, vui tươi hơn, và tất nhiên là không còn theo lề thói như trước nữa. Không còn những bản nhạc “nghiêm túc” như của Mantovani hay Percy Faith, mà thay vào đó là những bản nhạc rock-n-roll vốn vừa chớm nở và thịnh hành rộng khắp Âu-Mĩ thời bấy giờ. Hầu hết lính Mĩ đều là những chàng trai trẻ, lòng đầy nhiệt huyết, thế thì cớ chi phải “tra tấn” họ bằng những bản nhạc “nghiêm túc”, cớ chi không để rock-n-roll thổi bùng ngọn lửa trong họ, lắc lư họ như cái cách nó vốn dĩ đang làm với giới trẻ Âu-Mĩ thời đó, hẳn Cronauer đã nghĩ thế khi anh phát loại nhạc này để thay thế loại nhạc “nghiêm túc” kia. Continue reading

Scott Soames – Ngôi nhà đích thực của triết học

Nicole Bengiveno/The New York Times

Nicole Bengiveno/The New York Times

Scott Soames

Ngôi nhà đích thực của triết học

Duy Đoàn chuyển ngữ

Tất cả chúng ta đều nghe nói đến lập luận cho rằng triết học đã bị cô lập, một lĩnh vực “tháp ngà” bị cắt lìa hoàn toàn khỏi mọi hình thức còn lại trong việc truy cầu tri thức vốn có nhiệm vụ thúc đẩy tiến bộ, trong đó có toán và các ngành khoa học, cũng như khỏi những mối quan tâm thực sự thường nhật. Có nhiều lí do cho chuyện này. Trong bài tiểu luận thu hút nhiều độc giả trong mục [The Stone của New York Times] này, “Khi triết học lạc lối”, Robert Frodeman và Adam Briggle cam quyết rằng lí do nằm ở sự cơ cấu hoá của triết học trong trường đại học vào cuối thế kỉ 19 vốn tách li nó ra khỏi lĩnh vực nghiên cứu nhân văn và tự nhiên, nay là phạm vi của khoa học xã hội và khoa học tự nhiên.

Việc cơ cấu hoá này, theo cam quyết của hai tác giả, đã dẫn triết học đến chỗ phụ bạc mục đích trọng tâm trong việc minh giải tri thức cần thiết để sống cuộc đời cao hạnh và xứng đáng. Tôi có quan điểm khác: Triết học không bị tách li khỏi khoa học xã hội, tự nhiên hay toán học, nó cũng chẳng bỏ mặc việc nghiên cứu về cái tốt, công chính và đức hạnh, những thứ vốn chưa bao giờ là mục đích trọng tâm của triết học.

Các tác giả đó cam quyết rằng triết học đã từ bỏ mối quan hệ của mình với những lĩnh vực khác bằng cách tạo nên địa hạt được tịnh hoá của riêng mình, mà chỉ những chuyên gia được cấp chứng nhận mới có thể tiếp cận được. Thực sự là từ khoảng 1930 đến 1950, một số triết gia – đặc biệt các nhà duy nghiệm logic – đã cất tiếng cho rằng triết học có chủ đề dành riêng cho mình. Nhưng bởi lẽ vấn đề này là việc phân tích logic vốn có mục đích thống nhất tất cả khoa học, nên tính liên ngành là điều trước tiên và trọng tâm. Continue reading

Robert Frodeman & Adam Briggle – Khi triết học lạc lối

Sinh viên tại trường University of California tại Berkeley. Jim Wilson/The New York Times

Sinh viên tại trường University of California tại Berkeley. Jim Wilson/The New York Times

Robert Frodeman & Adam Briggle

Khi triết học lạc lối

Duy Đoàn chuyển ngữ

 Lịch sử triết học Tây phương có thể được trình bày theo nhiều cách. Nó có thể được kể theo thời kì – cổ đại, trung đại và hiện đại. Ta có thể chia nó thành những truyền thống đối địch (duy nghiệm đối với duy lí, phân tích đối với lục địa), hoặc thành nhiều khu vực cốt lõi khác nhau (siêu hình học, nhận thức luận, đạo đức học). Tất nhiên nó cũng có thể được nhìn qua ống kính phê phán của sự loại trừ giới tính hay chủng tộc, như một lĩnh vực gần như hoàn toàn được định hình cho và bởi đàn ông Âu châu da trắng.

Tuy thế, mặc dù các mô tả phong phú và đa dạng, tất cả chúng đều phải qua một điểm ngoặt trọng yếu: việc định vị triết học bên trong một cơ cấu hiện đại (trường đại học nghiên cứu) vào cuối thế kỉ 19. Việc cơ cấu hoá triết học đã đưa nó vào một lĩnh vực mà chỉ có thể được theo đuổi nghiêm túc trong một khung cảnh hàn lâm. Thực tế này tương ứng với một trong những thất bại trường kì của triết học đương đại.

Hãy xem thử chi tiết đơn giản này: Trước khi chuyển vào trường đại học, triết học chưa bao giờ có một chỗ ở trọng tâm. Người ta có thể tìm thấy triết gia ở mọi nơi – phụng sự ở vai trò nhà ngoại giao, sống nhờ lương hưu, cắt kính thuốc, cũng như trong một trường đại học. Sau đó, nếu họ là những nhà tư tưởng “nghiêm túc”, người ta kì vọng rằng các triết gia sẽ ngụ trong trường đại học nghiên cứu. Đi ngược lại các ý hướng của Sokrates, các triết gia trở thành chuyên gia giống như các chuyên gia trong từng ngành. Việc này xảy ra cho dù họ dạy sinh viên những phẩm tính của sự thông tuệ kiểu Sokrates, vốn nêu bật vai trò của triết gia như một người không phải chuyên gia, như một người tra vấn, một kẻ quấy rầy.

Khi đó, như nhà tư tưởng Pháp Bruno Latour hẳn sẽ nêu ra, triết học đã được “tịnh hoá” (purified) – tách biệt khỏi xã hội trong quá trình hiện đại hoá. Việc tịnh hoá này xảy ra nhằm phản ứng với ít nhất hai sự kiện. Đầu tiên là sự phát triển của khoa học tự nhiên, như một lĩnh vực nghiên cứu rõ ràng khác biệt với triết học, vào khoảng năm 1870, và sự xuất hiện của các ngành khoa học xã hội trong thập niên sau đó. Trước lúc này, giới khoa học thoải mái nghĩ mình là “triết gia tự nhiên” – những người nghiên cứu tự nhiên; và các tiền bối của giới khoa học xã hội đã nghĩ bản thân là “triết gia luân lí”. Continue reading

Andrew Horton – Về bộ phim Thelma and Louise của Ridley Scott

Thelma and Louise (1991)

Andrew Horton

Về bộ phim Thelma and Louise của Ridley Scott

Duy Đoàn chuyển ngữ

Như nhà biên kịch lần đầu trình làng Callie Khouri đã giải thích, “hai phụ nữ tiếp tục một cuộc du ngoạn phạm tội” là nguồn hứng khởi ban đầu đằng sau kịch bản mà trở thành bộ phim rồi sau đó trở thành một tác phẩm truyền kì khắp thế giới, Thelma and Louise.

Khouri rốt cuộc đoạt được một Oscar cho hạng mục Best Original Screenplay (Kịch bản gốc hay nhất) cho những nỗ lực của mình, nhưng quan trọng hơn, bộ phim đã trở thành một sự kiện “phải xem” và “phải thảo luận” vốn gây xúc động, làm tức tối, tiếp sức và gieo nỗi sợ cho nhiều người xem. Danh sách dài các bài viết về phim này bản thân nó là sự chứng nhận cho mối lưu tâm mà được khơi lên từ bộ phim phiêu lưu trên đường về tình bằng hữu ngoài vòng phát luật của nữ giới vào thời điểm bộ phim ra mắt (họ thậm chí còn lên trang bìa của tờ Time) và kể từ đó về sau. Continue reading

J. E. Cirlot – Cá

Theo nghĩa rộng, cá là một sinh vật có năng lực huyền bí, hay là một ‘chuyển động thông suốt’ được phú cho quyền năng ‘nâng cao’ liên quan đến những vật chất nền tảng – tức là, theo vô thức. Vì mối quan hệ biểu tượng gần gũi giữa biển và Magna Mater [Mẹ Vĩ đại], một số người cho rằng cá là linh thiêng. Một số nghi lễ Á châu có bao gồm sự thờ cá, và những thầy tu bị cấm ăn cá. Như Jung đã chỉ ra, con trai của Atargatis (Ashtart hay Astarte) được đặt tên là Ichthys (31). Schneider ghi nhận rằng cá là Con thuyền của Sự sống huyền bí, đôi khi là một con cá voi, thỉnh thoảng là một con chim, và những lúc khác đơn giản là một con cá hay một con cá bay, ‘nhưng đó luôn luôn là sự xoay tròn vút lên khỏi chu trình sống phỏng theo mẫu hình của hoàng đạo mặt trăng’ (50). Continue reading

J. E. Cirlot – Chim

Mỗi sinh vật có cánh đều tượng trưng cho sự tinh thần hoá. Chim, theo Jung, là một sinh vật từ tâm đại diện cho những linh hồn hay những thiên thần, sự cứu đỡ siêu nhiên (31), những ý nghĩ và những bay bổng của huyễn tưởng (32). Truyền thống Hindu cho rằng chim chóc đại diện cho những trạng thái cao hơn của sự tồn tại. Trích một đoạn trong Upanishads [Áo nghĩa thư]: Hai con chim, bầu bạn không thể tách rời, trú ngụ cùng một cây; con đầu tiên ăn quả trên cây, con thứ hai để ý nhưng không ăn. Con chim đầu tiên là Jivâtmâ, và con thứ hai là Atmâ hay tri thức thuần tuý, tự do và vô điều kiện; và khi chúng kết giao không rời, thì không thể phân biệt được con này với con khác ngoại trừ trong một cảm giác ảo tưởng’ (26). Continue reading

Niall Ferguson – Paris và sự sụp đổ của La-mã

 

Niall Ferguson

Paris và sự sụp đổ của La-mã

Duy Đoàn chuyển ngữ

Lời người dịch: Bài viết của giáo sư sử học Niall Ferguson của trường Harvard University, đối chiếu sự vụ nước Pháp ngày 13/11 với sự vụ La-mã sụp đổ cách đây 16 thế kỉ. Ông có một cái nhìn đáng chú ý, tuy nhiên lại gay gắt vô cùng đối với tình trạng nhập cư.

 

Tôi sẽ không lặp lại những gì các vị đã đọc được hay nghe được. Tôi sẽ không nói rằng những gì xảy ra tại Paris vào tối thứ sáu là điều khủng khiếp chưa có tiền lệ, bởi vì không phải vậy. Tôi sẽ không nói rằng thế giới đứng về phía Pháp, bởi đó là cách nói rỗng tuếch. Tôi cũng không tán thưởng lời cam kết của Tổng thống Hollande về việc sẽ trả đũa “không thương tiếc”, bởi tôi không tin điều ấy. Thay vào đó, tôi sẽ cho bạn biết đây chính xác là cách thức mà một nền văn minh sụp đổ.

Đây là cách Edward Gibbon mô tả việc người Goth hạ bệ La-mã vào tháng Tám năm 410 thời Công nguyên:

“Trong giờ phút phóng túng hoang dại, khi mọi tình cảm bị khích động, và mọi kiềm hãm được tháo dỡ… một cuộc tàn sát dã man đã được thực hiện đối với người La-mã; và… các con phố của đô thành tràn ngập xác chết… Bất cứ lúc nào phe Rợ bị đối thủ khiêu khích, họ mở rộng hành vi giết chóc tràn lan sang những kẻ yếu, những kẻ vô tội, và những kẻ bất lực…”

Lúc này, đó chẳng phải mô tả những cảnh tượng mà ta đã chứng kiến tại Paris vào tối thứ sáu?

Đúng vậy, “History of the Decline and Fall of the Roman Empire” của Gibbon đã lột tả hồi cáo chung của La-mã như một cơn bùng tích tụ qua một thiên niên kỉ. Nhưng thế hệ các sử gia mới, như Bryan Ward-Perkins và Peter Heather, đã đưa ra khả năng rằng tiến trình suy vong của La-mã thực tế diễn ra bất thần – và đẫm máu – thay vì diễn ra êm ái: một sự “chiếm lĩnh đầy bạo lực… bởi những kẻ rợ xâm lăng” vốn đã tiêu huỷ một nền văn minh phức hợp trong khoảng thời gian chỉ một thế hệ. Continue reading

Jan Švankmajer – Thập giới mệnh

 

Jan Švankmajer

Thập giới mệnh

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

1. Hãy nhớ rằng chỉ có một hình thức ‘thi ca’. Đối nghịch với thi ca là công việc chuyên môn. Trước khi bạn bắt đầu làm phim, hãy làm thơ, vẽ tranh, tạo một bức ghép, viết tiểu thuyết, tiểu luận, v.v. Chỉ bằng cách trau dồi năng lực của bạn cho cái biểu hiện phổ quát thì bạn mới đảm bảo mình sản sinh ra được một bộ phim hay.

2. Hãy quy hàng những nỗi ám ảnh của bạn. Không có gì tốt hơn. Những nỗi ám ảnh là di vật của thời thơ ấu. Và những kho báu quý giá nhất bắt nguồn từ những cõi sâu thẳm của thời thơ ấu. Bạn cần luôn để cổng vào thời thơ ấu của mình được mở ra. Đây không phải chuyện về những kí ức đặc biệt, mà là về cảm giác. Đây không phải về ý thức, mà về vô thức. Hãy để dòng sông nội tại tự do tuôn chảy khắp bên trong bạn. Hãy tập trung vào nó nhưng đồng thời hãy thư giãn hoàn toàn. Khi làm phim, bạn cần 24 giờ bị nhận chìm ‘trong nó’. Chỉ khi đó thì những nỗi ám ảnh của bạn, thời thơ ấu của bạn, mới đi vào phim của bạn, mà bạn không biết đến một cách có ý thức. Và phim của bạn sẽ trở thành khúc khải hoàn cho ‘tính ấu trĩ’. Và đó là những gì toàn bộ chuyện này nói về. Continue reading

John Gray – Một Karl Marx đời thực

John Gray

Một Karl Marx đời thực

Duy Đoàn chuyển ngữ

Bài điểm sách cho cuốn Karl Marx: A Nineteenth-Century Life, của , Liveright, 648 trang, $35.00

Bằng nhiều cách thức, Jonathan Sperber đề xuất, Marx là “một khuôn mặt thủ cựu” với cái nhìn về tương lai được định khuôn theo những hoàn cảnh khác hoàn toàn so với bất kì hoàn cảnh nào phổ biến ngày nay:

“Quan điểm về Marx như một người đương thời có những ý tưởng định hình nên thế giới hiện đại là một quan điểm đã xong xuôi cả rồi và đến lúc cần một hiểu biết mới về ông như một khuôn mặt của một thời kì lịch sử trong quá khứ, một thời kì càng lúc càng cách xa chúng ta: thời đại của Cách mạng Pháp, của triết học Hegel, của những năm tháng đầu tiên của quá trình công nghiệp hoá tại Anh và của nền kinh tế chính trị bắt nguồn từ đó.”

Mục tiêu của Sperber là trình bày Marx theo đúng con người thực sự của ông – một nhà tư tưởng thế kỉ 19 để hết tâm trí mình vào những ý tưởng và sự kiện của thời mình. Nếu bạn thấy Marx theo cách này, nhiều cuộc tranh cãi vốn đã tạo sóng gió quanh di sản của ông hồi thế kỉ trước dường như không lợi ích gì, thậm chí không liên quan gì. Nếu khẳng định Marx phần nào “chịu trách nhiệm về mặt trí thức” cho chủ nghĩa cộng sản thế kỉ 20, thì khẳng định đó có vẻ hết sức lầm lạc; nhưng chuyện tương tự cũng xảy ra đối với phe biện hộ Marx như một người theo dân chủ cấp tiến, bởi vì cả hai quan điểm đều “phóng chiếu ngược vào những tranh luận về thế kỉ 19 của những thời đại sau đó”. Continue reading