[Scientific American] Tại sao bộ não chuộng sách giấy hơn

Tác giả: Ferris Jabr

Duy Đoàn chuyển ngữ 

Một trong những đoạn phim Youtube lan truyền rất nhanh và làm người ta phấn khích nhất hồi hai năm trước, với phần mở đầu bình thường vô cùng: một bé gái một tuổi chơi với iPad, lướt ngón tay dọc ngang màn hình cảm ứng và đẩy các nhóm biểu tượng qua lại trên màn hình. Ở những cảnh tiếp theo đó, cô bé có vẻ như đang khum bàn tay lại, túm túm gì đó và ấn vào những trang giấy của mấy tờ tạp chí như thể chúng là những màn hình. Đoạn phim còn xoáy vào những cử chỉ đó bằng cách tua lại và chiếu cận cảnh vào.

Đối với cha của đứa bé, thì đoạn phim đó – A Magazine Is an iPad that Does Not Work – là bằng chứng cho sự chuyển dời thế hệ. Trong đoạn mô tả kèm theo, ông viết, “Những cuốn tạp chí giờ đây vô dụng và không thể hiểu được, đối với cư dân số (digital native)” – tức là, đối với những người đã tương tác với những công nghệ số từ lúc còn rất nhỏ, khi mà xung quanh họ lúc đó không chỉ có sách và tạp chí bằng giấy mà còn có điện thoại thông minh (smartphone), Kindle và iPad.

Cho dù bé gái đó có thực sự kì vọng những cuốn tạp chí phải hành xử như một chiếc iPad hay không, thì đoạn phim cũng làm ta chú ý đến một vấn đề vô cùng thực tế: Chính xác làm thế nào mà công nghệ chúng ta dùng để đọc có thể thay đổi cách đọc của chúng ta?

Ít nhất kể từ thập niên 1980, các nhà nghiên cứu tâm lí học, kĩ thuật máy tính, và khoa học thư viện và thông tin đã công bố hơn 100 nghiên cứu khám phá những khác biệt ở cách đọc trên sách giấy và cách đọc trên màn hình. Trước năm 1992, hầu hết các thí nghiệm đều kết luận rằng khi người ta đọc truyện và đọc báo ở màn hình thì họ đọc chậm hơn và ghi nhớ thông tin ít hơn. Tuy vậy, khi độ phân giải của màn hình của tất cả các loại thiết bị trở nên sắc nét hơn, thì một loạt những khám phá theo nhiều chiều hướng khác nhau bắt đầu xuất hiện. Những khảo sát gần đây cho thấy rằng mặc dù hầu hết mọi người đều chuộng dùng giấy hơn – đặc biệt khi họ cần tập trung trong thời gian dài – nhưng những thái độ đó đang thay đổi khi máy tính bảng và công nghệ đọc sách điện tử được cải thiện dần và khi mà chuyện đọc những văn bản số để tìm dữ kiện và để giải trí đang trở nên ngày càng phổ biến hơn. Ở Mĩ, e-book hiện nay chiếm hơn 20 phần trăm tổng số sách được bán cho công chúng.

Mặc cho loại công nghệ phổ thông thân thiện người dùng ngày càng phát triển, nhưng hầu hết các nghiên cứu được công bố kể từ đầu thập niên 1990 đều xác nhận những kết luận trước đó: giấy vẫn chiếm ưu thế so với màn hình như một phương tiện đọc sách báo. Cùng với những thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, những cuộc bỏ phiếu và những báo cáo người tiêu dùng đều chỉ ra rằng các thiết bị số ngăn người ta định vị những đoạn văn bản dài một cách hiệu quả, điều này có thể làm ngăn trở chút ít trong việc đọc hiểu. So với giấy, màn hình cũng có thể làm cạn kiệt nguồn tài nguyên trí óc của chúng ta trong lúc đọc và làm ta khó ghi nhớ hơn những gì mình đọc được sau khi đọc xong. Bất kể họ có nhận ra điều đó hay không, người ta vẫn thường tiếp cận máy tính và máy tính bảng với tinh thần ít hướng đến chuyện học hơn so với lúc tiếp cận sách giấy. Và máy đọc sách không tái dựng lại được một số trải nghiệm theo cảm giác có được lúc đọc sách giấy, và một số người thấy bất an khi thiếu vắng những cảm nghiệm đó. Continue reading

Advertisements

Scientific American Mind – Giúp trẻ yêu thích toán học

 

Giúp trẻ yêu thích toán học

Tác giả: John Mighton

Hình minh hoạ của Celia Johnson

Duy Đoàn chuyển ngữ

Với kế hoạch giảng dạy thích hợp, giáo viên có thể biến những em học sinh chật vật trở thành những nhà toán học tiềm năng. Bí mật ở đây là việc hướng dẫn kĩ lưỡng các em trong chuyến phiêu lưu vào thế giới những con số.

Tôi vẫn còn nhớ rõ cái ngày cách đây 14 năm, khi đó tôi gặp được một cô bé lớp sáu cao ráo và rất chi là nhút nhát tên là Lisa, cô bé ngồi ở bàn để chuẩn bị buổi học toán đầu tiên với tôi. Hiệu trưởng của Lisa đã khuyến nghị cô bé nên tham gia chương trinh phụ đạo miễn phí sau giờ học mà tôi đã khởi xướng ở căn hộ của mình cùng với mấy người bạn nữa. Mặc dù tôi đã yêu cầu vị hiệu trưởng kiếm giúp mình những em học sinh đang chật vật với môn toán, nhưng tôi thật sự chưa sẵn sàng để gặp Lisa.

Tôi đã lên kế hoạch tăng cường sự tự tin ở Lisa bằng cách dạy cô bé phép cộng các phân số. Theo kinh nghiệm làm gia sư trước đây, tôi biết trẻ con thường hình thành những nỗi âu lo về môn toán khi lần đầu tiên tiếp cận các phân số. Bởi vì bài học của tôi liên quan đến phép tính nhân, nên tôi hỏi Lisa liệu em ấy có gặp vấn đề gì trong việc ghi nhớ bất kì bảng cửu chương nào hay không, nhưng cô bé cứ ngây ra nhìn tôi chằm chằm. Cô bé không biết phép nhân nghĩa là gì. Ngay cả khái niệm đếm cách quãng hơn một cũng là điều lạ lẫm đối với em. Em ấy sợ hãi khi tôi đặt câu hỏi và lúc tôi đế cập đến những khái niệm đơn giản nhất thì em ấy cứ luôn miệng bảo, “Em không hiểu.”

Tôi không biết phải làm gì với Lisa, thế là tôi quyết định thử xem liệu cô bé có học được cách đếm cách quãng hai con số hay không để cuối cùng cô bé có thể làm được phép nhân hai. Để làm dịu nỗi sợ của cô bé, tôi bảo rằng tôi chăc chắn em ấy đủ thông minh để học phép nhân. Tôi sợ có thể mình đưa ra lời khen giả tạo, nhưng lời khuyến khích của tôi dường như giúp em ấy tập trung được, và em ấy tiến bộ nhiều hơn tôi mong đợi. Continue reading

Scientific American Mind – Nghiên cứu khoa học về sự viết tay

 

Nghiên cứu khoa học về sự viết tay

Tác giả: Brandon Keim

Hình minh hoạ của Celia Johnson

Duy Đoàn chuyển ngữ

Tôi đang viết bài báo này bằng kiểu táo bạo, thử nghiệm ngược ngạo, dùng một kĩ thuật hiếm khi được thấy trong giới xuất bản hiện đại: viết tay, dùng bút và giấy, những dụng cụ xuất xứ từ cây cối này vốn chỉ được coi là những vật lạ kì mang tính lịch sử trong mắt giới mê công nghệ, giống như mấy tấm bản đất sét hay máy đánh chữ Remington.

Tại sao tôi lại làm điều như vậy trong thời đại bấm phím này? Một phần tôi làm vậy vì viết tay đang trở thành một hoạt động bên lề, ở ngoài xã hội và trong đời tôi. Chúng ta gõ chữ nhiều hơn bao giờ hết, và không phải điều gì bất thường khi ta gặp những người hoàn toàn ngưng dùng tay để viết, chữ viết của họ khô quắt như những chi cụt còn để lại vết tích.

Tôi luôn có cảm giác rằng suy nghĩ của tôi sẽ khác – cân nhắc hơn, phong phú hơn – khi thông qua bàn tay thay vì cỗ máy. Mấy người tôi gặp thường kể những câu chuyện giống vậy. Họ vẫn dùng bàn phím để chuyển tải phần lớn chữ nghĩa, nhưng vẫn dùng tay lập danh sách, ghi chú, phác thảo các đoạn văn hay sắp xếp ý nghĩa. Họ cũng cảm thấy viết tay liên quan đến trí óc theo một cách khác.

Chỉ cảm giác thôi chắc chắn thiếu tính khoa học. Nó có thể là ảo tưởng hoặc bị nhiều nhân tố làm xáo trộn, chẳng hạn khó khăn khi kiểm tra e-mail trên giấy, vốn không có liên quan gì đến những thuộc tính tri nhận của viết tay. Các nhà hoài nghi có thể khẳng định rằng trẻ em thời hiện đại, khi trải nghiệm bàn phím và màn hình, sẽ vận dụng được các thiết bị đó để có được kết quả tương đương. Chừng nào mà ta còn viết, thì chuyện đó ảnh hưởng ra sao có quan trọng gì?

Minh triết theo truyền thống cũng theo hướng vậy. Mọi cuộc chuyển dời công nghệ quan trọng ngàn năm có một đều gây ra mối bận tâm đau đầu: chúng ta lo lắng về chứng nghiện Internet, tình bạn trở nên tầm thường hơn do các phương tiện truyền thông xã hội, máy đọc sách điện tử thay thế sách giấy, màn hình điện tử sẽ biến bọn trẻ thành những kẻ nghiện ngập thế giới mô phỏng. Tuy vậy ngoại trừ cuốn The Missing Ink đáng yêu của Philip Hensher có đi dò xét phần lịch sử văn hoá của lối viết tay, thì chuyện kĩ thuật này mất dần, trọng tâm cho sự trỗi dậy của nền văn minh, phần lớn không được người đời lưu ý đến. Continue reading

Scientific American Mind – Đánh giá các phương pháp học tập

Scientific American Mind

Đánh giá các phương pháp học tập

Các tác giả: John Dunlosky, Katherine A. Rawson, Elizabeth J. Marsh, Mitchell J. Nathan & Daniel T. Willingham

Hình minh hoạ của Celia Johnson

Duy Đoàn chuyển ngữ

Nhìn chung giáo dục thường tập trung vào nội dung học tập, chẳng hạn đại số, các nguyên tố trong bảng tuần hoàn hay cách chia động từ. Nhưng tìm hiểu cách học cũng là điều quan trọng không kém, đi kèm nhiều lợi ích lâu dài. Điều đó có thể dạy bạn cách thu thập kiến thức nhanh và hiệu quả hơn cũng như cho phép bạn giữ được thông tin suốt nhiều năm thay vì trong nhiều ngày.

Hơn 100 năm nay, những nhà tâm lí học tri nhận và giáo dục đã phát triển và đánh giá vô số kĩ thuật, từ việc đọc lại tài liệu cho đến tóm tắt lại để tự kiểm tra bản thân. Một số chiến lược phổ biến rõ ràng có cải thiện thành tích của học viên, trong khi số khác lại tốn thời gian và không hiệu quả. Tuy vậy những thông tin này thường không được đưa vào áp dụng ở lớp học. Các giáo viên ngày nay không được cho biết những kĩ thuật học tập nào được các chứng cứ thực nghiệm hậu thuẫn, còn học viên thì không được dạy cách dùng những kĩ thuật đó sao cho hiệu quả. Thực tế, hai cách trợ giúp học tập mà các học viên đang dựa vào nhiều nhất lại không hiệu quả. Một trong hai cách này thậm chí còn làm suy giảm thành tích học tập.

Một nguyên do tiềm tàng chính là việc có quá nhiều nghiên cứu khiến chúng ta choáng ngợp, làm cho các nhà giáo dục và các học viên khó xác định những phương cách học tập thực tiễn và ích lợi nhất. Để đáp ứng thách thức này, chúng tôi điểm lại hơn 700 bài báo khoa học bàn về 10 kĩ thuật học tập thường được sử dụng nhất. Chúng tôi tập trung vào những chiến lược trông có vẻ dễ sử dụng và đạt mức hiệu quả rộng khắp. Chúng tôi cũng có cái nhìn sát sao hơn về một số phương pháp các học viên thường dùng.

Để được chúng tôi đưa ra giới thiệu ở đây, kĩ thuật đó phải hữu ích ở nhiều hoàn cảnh học tập khác nhau, chẳng hạn lúc học viên học một mình hay học chung nhóm. Nó phải trợ giúp học viên ở nhiều lứa tuổi khác nhau, có những năng lực khác nhau và những cấp độ hiểu biết ban đầu khác nhau – và nó phải được kiểm tra trong lớp học hoặc trong tình huống ngoài thế giới thực. Các học viên có thể dùng phương pháp đó để tinh thông nhiều môn khác nhau, và việc học tập của họ phải được hưởng lợi từ phương pháp đó bất kể trải qua loại hình kiểm tra gì. Những cách tiếp cận tốt nhất cũng phải dẫn đến những cải thiện dài lâu về mặt kiến thức và khả năng lĩnh hội.

Bằng cách dùng những tiêu chuẩn này, chúng tôi định ra hai phương pháp tối ưu rõ ràng. Chúng tạo ra những kết quả vững chắc, ổn định và thích hợp cho nhiều tình huống. Chúng tôi cũng đưa ra ba phương pháp khác để dự phòng những tình huống khác, và năm phương pháp – trong đó có hai cách trợ giúp học tập phổ biến – không được chúng tôi khuyến nghị, vì chúng chỉ hữu ích trong một số hoàn cảnh hạn chế nhất định hoặc vì chưa đủ chứng cứ để có thể đánh giá chúng cao hơn. Chúng tôi khuyến khích các nhà nghiên cứu khảo sát sâu thêm một số kĩ thuật chưa được kiểm nghiệm, nhưng học viên và giáo viên nên cẩn trọng khi dựa vào những kĩ thuật đó.

Những kĩ thuật vàng

1. Tự kiểm tra (self-testing)

Ra bài kiểm tra chính bản thân mình sẽ giúp đạt điểm cao  Continue reading

Science Daily – Giờ đi ngủ thất thường có thể hạn chế năng lực trí não ở trẻ nhỏ

Giờ đi ngủ hàng đêm thất thường khi còn nhỏ dường như sẽ làm hạn chế năng lực trí não ở trẻ. Đây là kết quả từ một nghiên cứu trên diện rộng suốt quãng thời gian dài, được công bố trên Journal of Epidemiology and Community Health (Tập san về Dịch tễ học và Sức khoẻ Cộng đồng).

 Xét theo tầm quan trọng của sự phát triển thuở nhỏ đối với sức khoẻ sau này của trẻ, các nhà nghiên cứu cho biết chuyện giờ giấc ngủ thất thường có thể dẫn tới những ảnh hưởng dây chuyền suốt cả quãng đời trẻ.

Các tác giả xem xét liệu giờ đi ngủ ở giai đoạn đầu tuổi thơ có liên hệ gì đến năng lực trí não không, và họ nghiên cứu trên 11,000 trẻ bảy tuổi, đây là một phần trong UK Millennium Cohort Study (Nghiên cứu Đoàn hệ Thiên niên kỉ Anh quốc – MCS).

MCS là nghiên cứu dài hạn tiêu biểu tầm quốc gia về trẻ con Anh quốc chào đời trong khoảng thời gian từ tháng Chín năm 2000 đến tháng Một năm 2002, và nghiên cứu này dựa trên những khảo sát và những chuyến ghé thăm định kì tới các gia đình lúc trẻ được 3, 5, và 7 tuổi, nhằm biết được lịch sinh hoạt gia đình, bao gồm cả giờ đi ngủ.

Các tác giả nghiên cứu muốn biết liệu giờ đi ngủ của trẻ, và tính nhất quán của giờ đi ngủ, liệu có tác động nào đến khả năng thể hiện trí tuệ, được đánh giá thông qua điểm số bài trắc nghiệm chuẩn dành cho việc đọc sách, môn toán, và khả năng nhận thức không gian.

Và họ muốn biết liệu những ảnh hưởng đó có tích tụ lại hay không và/hoặc liệu có bất kì giai đoạn đặc biệt nào trong suốt thời kì đầu tuổi thơ quan trọng hơn những giai đoạn khác. Continue reading

Ferric C. Fang & Arturo Casadevall – Tại sao ta lại gian lận

 

Ferric C. Fang & Arturo Casadevall

Tại sao ta lại gian lận

Duy Đoàn chuyển ngữ

Tay đua xe đạp Lance Armstrong đã lên tiếng xin lỗi vì dùng chất kích thích cải thiện phong độ để giành được bảy danh hiệu Tour de France. Anh ta cho việc gian lận này là do lòng kiên quyết “chiến thắng bằng mọi giá”. Nhà tâm lí học Marc Hauser tại trường Harvard University, người từng viết bài báo nhan đề “Costs of Deception: Cheaters Are Purnished…” hiện đang thất nghiệp sau công việc ở U.S. Office of Research Integrity (Sở liêm chính trong nghiên cứu tại Hoa-kì), kết luận rằng ông đã “nguỵ tạo dữ liệu, chi phối kết quả ở nhiều thí nghiệm khác nhau, và mô tả cách thực hiện những nghiên cứu theo những phương cách thực sự thiếu chính xác.” Mười sáu ngân hàng đã đồng ý trả tiền phạt hoặc đang bị điều tra vụ thao túng Libor, một dạng lãi suất mà các ngân hàng có thể dùng để vay tiền từ những ngân hàng khác, và đây được coi là vụ lừa đảo tài chính lớn nhất trong lịch sử thị trường.

Những trường hợp này chỉ là một phần trong dòng chảy dường như bất tận các vụ bê bối gian lận xuất hiện trên báo đài, gây tác động đối với thể thao, khoa học, giáo dục, tài chính và những địa hạt khác. Mặc dù thật dễ chịu khi nghĩ rằng hầu hết mọi người về căn bản đều thành thật, nhưng việc gian lận – được định nghĩa là hành vi thiếu trung thực nhằm đạt lợi ích nào đó – thực sự là hiện tượng phổ biến đáng kinh ngạc. Theo khảo sát năm 1997, giáo sư ngành quản lí Donald McCabe thuộc trường Rutgers University và Linda da Klebe Treviño, giáo sư về hành vi tổ chức ở trường Pennsylvania State University, đã tiết lộ rằng khoảng ba phần tư trong só 1,800 sinh viên ở chín trường đại học bang đã thừa nhận gian lận trong thi cử hoặc trong những bài luận trên lớp. Năm 2005, nhà xã hội học Brian Martinson thuộc Health Partners Research Foundation ở Bloomington, Minnesotta và những đồng nghiệp của ông đã báo cáo rằng một phần ba số khoa học gia đã thú nhận có can dự vào những công việc nghiên cứu khả nghi trong suốt ba năm qua.

Gian lận không giới hạn ở con người; nó còn được ghi nhận trong khắp thế giới sự sống, ở bất kì nơi đâu mà có sự cạnh tranh giành lấy những nguồn tài nguyên hạn chế. Mặc dù đâu đâu cũng có, nhưng hành vi gian lận có thể gây tổn hại rất nhiều cho cá nhân và xã hội. Những kẻ gian lận bị bêu xấu và có thể mất công ăn việc làm. Công việc lừa đảo làm lãng phí nguồn tài nguyên. Những người theo luật lại bị tước đoạt phần thưởng mà họ xứng đáng có. Còn có những tổn thất khác ngoài ý muốn. Những đồng đội của Armstrong bị buộc phải làm theo kế hoạch dùng thuốc kích thích và bị đe doạ khi họ cố vạch trần sự thật. Những nghiên cứu khoa học thiếu trung thực có thể làm những nhà nghiên cứu khác lầm đường lạc lối, có thể dẫn đến những chính sách công sai lầm và có thể gây hại cho bệnh nhân khi những quyết định lâm sàng lại dựa trên nguồn thông tin sai sót. Continue reading

Gương mặt của những nhân vật đồ chơi Lego

Lego heads.

Ảnh: Holly Allen/Slate

Lego là một trong những nhãn hiệu đồ chơi nổi tiếng nhất hiện nay. Trong suốt khoảng thời gian gần 40 năm kể từ lần đầu tiên xuất hiện, các nhân vật Lego đã trải qua không ít sự thay đổi.  Gần đây, đội ngũ các chuyên gia thuộc trường University of Canterbury tại New Zealand đã tiến hành nghiên cứu gương mặt của các nhân vật đồ chơi Lego, và họ phát hiện ra tỉ lệ các gương mặt vui vẻ đang có xu hướng giảm dần, trong khi các gương mặt giận dữ lại tăng dần qua năm tháng.

Mô tả nghiên cứu

Christoph Bartneck, trưởng nhóm nghiên cứu, đã trình bày cách thực hiện cuộc nghiên cứu này:

  • “Chúng tôi chụp hình toàn bộ 3,655 nhân vật Lego được sản xuất trong khoảng thời gian từ năm 1975 đến 2010. Chúng tôi xác định 628 gương mặt khác nhau rồi cắt chúng ra riêng khỏi các bức ảnh.”
  • “Chúng tôi lập ra bảng câu hỏi trực tuyến, trưng ra 628 gương mặt đó cùng 94 nhân vật Lego. Sau đó chúng tôi yêu cầu những người tham gia thí nghiệm [264 người] đánh giá mức biểu hiện cảm xúc…”
  • “Chúng tôi yêu cầu những người tham gia đánh giá theo một trong sáu mức độ được dán nhãn như sau: giận dữ, ghê tởm, sợ hãi, vui vẻ, buồn bã, và ngạc nhiên.”

Kết quả:

  • 324 gương mặt được đánh giá là “vui vẻ”.
  • 192 gương mặt “giận dữ”
  • 49 “buồn bã”
  • 28 gương mặt dường như biểu lộ sự “ghê tởm”.
  • 23 gương mặt được xếp vào loại “ngạc nhiên”.
  • 11 gương mặt được coi là “sợ hãi”.

Có thể thấy số gương mặt “vui vẻ” chỉ nhỉnh hơn một nửa. Trong gần 40 năm, số lượng các gương mặt Lego khác nhau tăng dần qua năm tháng, từ con số chưa đầy 5 gương mặt cho mỗi năm trong khoảng thời gian trước năm 1988, tăng đến hơn 300 gương mặt vào năm 2010. Đồng thời, tỉ lệ số gương mặt vui vẻ giảm dần, và tăng dần số lượng những gương mặt riêng biệt với nhiều dạng cảm xúc khác nhau. Continue reading

Một số cha mẹ muốn con bù đắp cho giấc mơ tan vỡ của họ

Một số bậc phụ huynh mong muốn con mình hoàn thành những tham vọng dở dang của bản thân, đúng như giả thuyết lâu nay được các nhà tâm lí học đặt ra. Đây là kết quả theo cuộc nghiên cứu mới, vốn là nghiên cứu đầu tiên ở lĩnh vực như thế này.

Các nhà nghiên cứu phát hiện các bậc cha mẹ càng xem đứa trẻ như một phần của bản thân họ, thì càng có nhiều khả năng họ muốn đứa trẻ sẽ đạt được giấc mơ thất bại hồi xưa của bản thân mình.

Kết quả có thể giúp cắt nghĩa cho những hành động của những người được gọi là “những bà mẹ sân khấu” hay “những ông cha thể thao”, vốn là những người thường muốn thúc đẩy con mình trở thành ngôi sao sân khấu hay ngôi sao sân cỏ, theo lời của Brad Bushman, đồng tác giả cuộc nghiên cứu và là giáo sư ngành truyền thông và tâm lí học tại trường The Ohio State University.

“Một số cha mẹ xem con cái mình như là phần mở rộng cho bản thân mình, thay vì là những cá nhân tách biệt với những hi vọng và giấc mơ riêng,” Bushman cho biết.  Continue reading

Science Daily – Lời nói của trẻ con phát triển nhiều hơn ta tưởng

Tiếng đứa bé nói tíu tít lúc đang học nói bao giờ cũng có nét dễ thương – nhưng người ta không coi những tiếng nói đó đặc biệt tinh vi. Tuy thế, nghiên cứu của một chuyên gia tại trường Newcastle University đã chứng tỏ lời nói của trẻ con phát triển hơn nhiều so với những gì ta nghĩ trước đây.

Tiến sĩ Cristina Dye, nhà nghiên cứu ở lĩnh vực phát triển ngôn ngữ ở trẻ em, đã phát hiện những đứa bé 2-3 tuổi sử dụng ngữ pháp sớm hơn so với người ta tưởng.

Cô đã nghiên cứu năm mươi đứa trẻ nói tiếng Pháp, khoảng từ 23 đến 37 tháng tuổi, và thu được vài chục ngàn câu phát ngôn của bọn trẻ.

Tiến sĩ Dye lúc trước đã thực hiện nghiên cứu này khi còn ở trường Cornell University tại Mĩ, giờ đây phát hiện rằng ngay từ rất sớm trẻ con đã dùng “những hư từ ” vốn hình thành nên khung sườn cho câu (chẳng hạn các từ “a, an, can, is”).

Tiến sĩ Dye và đội ngũ của cô dùng công nghệ ghi âm tiên tiến bao gồm những micrô có độ nhạy cao được giấu gần chỗ bọn trẻ, để thu được những âm thanh chuẩn xác do bọn trẻ phát ra. Họ bỏ ra nhiều năm gắng công phân tiến từng âm thanh nhỏ nhất do bọn trẻ tạo ra và phân tích cả bối cảnh nơi âm thanh đó hình thành.

Họ đã phát hiện một mẫu hình rõ ràng mà trước đây chưa ai nhận thấy của những âm thanh đó và những tiếng phù, tương thích với những từ ngữ mang chức năng ngữ pháp trong nhiều câu phát ngôn của bọn trẻ.

Tiến sĩ Dye cho biết: “Nhiều đứa trẻ mà chúng tôi nghiên cứu tạo ra một thứ âm thanh nho nhỏ, một hơi thở nhẹ, hay ngắt giọng, ở ngay chính xác chỗ mà bình thường người ta sẽ nói ra một từ mang chức năng ngữ pháp nào đó.”

“Âm thanh này luôn được phát ra ngay đúng chỗ trong câu, thực tế này làm chúng ta tin rằng trẻ con đã am hiểu về những từ mang chức năng ngữ pháp. Chúng có năng lực ngữ pháp tinh vi hơn nhiều so với những gì chúng ta từng hiểu.”

“Mặc dù bọn trẻ mà chúng tôi nghiên cứu toàn dùng tiếng Pháp, nhưng khám phá của chúng tôi có thể mở rộng sang các ngôn ngữ khác. Tôi tin là chúng ta nên công nhận bọn trẻ nhiều hơn – chúng tuyệt vời hơn ta nhận thấy.”

Trong nhiều thập niên thì nhiều chuyên gia về phát triển có quan niệm phổ biến rằng những kết hợp từ ngữ ở trẻ con lúc ban đầu thường thiếu đi những từ ngữ mang chức năng ngữ pháp. Theo quan điểm này thì trẻ con trải qua quá trình chuyển hoá từ ‘nòng nọc thành ếch’ mà tại đó chúng bắt đầu phát triển khả năng dùng ngữ pháp trong lời nói của mình, do một cơ chế bí ẩn nào đó. Giờ thì kết quả của Dye đã thách thức quan niệm cũ kĩ đó.  Continue reading

Science Daily: Mức độ giống nhau giữa cử chỉ của loài khỉ không đuôi và của em bé

 

Các nhà tâm lí học đã phân tích đoạn phim về một con tinh tinh cái, một con bonobo cái và một em bé gái trong một nghiên cứu nhằm đối chiếu những loại cử chỉ khác nhau ở những giai đoạn phát triển giao tiếp tương tự nhau, và họ phát hiện những tương đồng đáng chú ý giữa ba loài này.

Đây là lần đầu tiên người ta dùng những dữ liệu như thế để đối chiếu sự phát triển các cử chỉ giữa các loài. Loài tinh tinh và bonobo, trước đây được gọi là “tinh tinh lùn”, là hai loài có mối liên hệ gần nhất với loài người ở cây tiến hoá.

“Mức độ tương đồng về hình thức và chức năng của các cử chỉ ở em bé loài người, tinh tinh con, và bonobo con là điều đáng chú ý,” theo lời của Patricia Greenfield, giáo sư ưu vị (distinguished professor) khoa Tâm lí học thuộc trường University of California ở Los Angeles (UCLA) và là đồng tác giả cuộc nghiên cứu được công bố trên tờ tập san Frontiers in Psychology.

Các cử chỉ do ba loài này thực hiện bao gồm việc vươn tay, chỉ bằng ngón tay hay bằng đầu, và nâng cánh tay lên để yêu cầu được bế. Các nhà nghiên cứu sửng sốt khi phát hiện các cử chỉ của ba loài này đều “gần như mang tính giao tiếp,’ Greenfield cho biết.

Để được xếp vào loại mang tính giao tiếp, một cử chỉ phải bao gồm việc nhìn vào mắt đối phương đang giao tiếp với mình, kèm theo việc xướng âm (những âm thanh không phải lời nói) hoặc là có nỗ lực hành vi có thể thấy được nhằm gợi phản ứng. Một tiêu chuẩn giống vậy đã được dùng cho ba loài này. Đối với ba loài, thì các cử chỉ thường kèm theo một hay nhiều dấu hiệu hành vi của ý định giao tiếp.

Charles Darwin hồi năm 1872 trong cuốn The Expression of the Emotions in Man and Animals (Biểu hiện cảm xúc ở con người và loài vật) đã bày tỏ rằng những nét mặt và những cử chỉ cơ bản giống nhau đều xuất hiện ở cộng đồng người khắp thế giới, điều này ngụ ý rằng đây là những nét bẩm sinh. Greenfield và đồng nghiệp của bà đã đào sâu thêm một bước nữa đối với những kết luận của Darwin, họ cung cấp chứng cứ mới cho thấy những nguồn gốc của ngôn ngữ có thể được tìm thấy trong các cử chỉ và cung cấp những thức nhận mới cho sự đồng tiến hoá của cử chỉ và lời nói.  Continue reading