Nobel Văn chương 2014: Patrick Modiano (1945- )

AP—AP/Gallimard

AP—AP/Gallimard

Patrick Modiano sinh ngày 30 tháng 7 năm 1945 tại Boulogne-Billancourt, ngoại ô Paris. Cha ông là doanh nhân, mẹ ông là nữ diễn viên. Tuổi thơ của ông nát tan do nhiều cuộc đổi dời gây xáo động, do sự vắng mặt của người cha và do cái chết bi thảm của người em Rudy, người bị bệnh bạch cầu ở tuổi lên 10. Ông hồi tưởng lại quãng thời gian đau khổ mà đầy hoài niệm đó trong hồi kí Un pedigree hồi năm 2005: “Tôi không thể viết tự truyện được, đó là lí do tôi gọi nó là một ‘pedigree’ (phả hệ): Nó là cuốn sách không nói về những gì tôi làm cho bằng nói về những gì người khác làm, chủ yếu là những gì cha mẹ tôi đã làm cho tôi.”

Ông từng theo học phổ thông tại trường Lycée Henri-IV tại Paris. Ở đây ông được Raymond Queneau kèm học toán, và tài năng của ông được nhà văn nổi tiếng này phát hiện ra. Thế là chàng thanh niên Patrick bắt đầu viết. Năm 1968, Modiano trình làng với tư cách nhà văn bằng tác phẩm La place de l’étoile, một tiểu thuyết thu hút rất nhiều sự chú ý. Vài năm sau, ông đoạt giải Grand Prix du Roman của Académie Française cho cuốn tiểu thuyết Les boulevards de ceinture.

“Thực sự thì tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện làm thứ gì khác”, ông nói về văn nghiệp của mình. “Tôi không có bằng cấp, không mục tiêu chắc chắn nào để đạt tới. Nhưng thật gian nan đối với một cây bút trẻ khi bắt đầu viết quá sớm. Thực sự thì tôi không thích đọc mấy cuốn sách hồi ban đầu của mình. Không phải vì tôi không thích chúng, mà tôi không nhận ra bản thân mình nữa, giống như một diễn viên già xem chính mình hồi còn là một nam chính trẻ trung vậy.”

Tiểu thuyết của Modiano xoáy vào nan đề của căn cước: Làm thế nào tôi lần ra được chứng cứ về sự tồn tại của mình qua các dấu vết của quá khứ? Bị ám ảnh với khoảng thời gian Chiếm đóng gây muộn phiền và tủi nhục – mà lúc đó cha ông đã dính vào những vụ giao dịch mờ ám – Modiano cứ trở đi trở lại đề tài này trong tất cả tác phẩm của mình, hết cuốn này đến cuốn kia để rồi tạo thành một tác phẩm thuần nhất đáng kinh ngạc. “Sau mỗi tiểu thuyết, tôi có ấn tượng là mình đã xoá đi hết toàn bộ”, ông nói giữa hai khoảng lặng. “Nhưng tôi biết mình sẽ trở lại nhiều lần những chi tiết bé tí ấy, những điều nho nhỏ ấy vốn là một phần của con người tôi. Sau rốt, tất cả chúng ta đều được định đoạt bởi nơi chốn đó và thời gian đó khi ta sinh ra.” Đối với ông, nơi chốn đó chính là Paris, một thành phố mà ông viết về thường xuyên, mô tả sự tiến triển nơi những con phố, những thói quen và những con người chốn ấy. Thực tế thì Modiano rất thân thuộc với Paris giống như Woody Allen thân thuộc với New York vậy: nó là kí ức và là lương tâm của ông. Continue reading

Advertisements

Nobel Sinh lí học hay Y học 2014: John O’Keefe và May-Britt Moser & Edvard I. Moser

Cho khám phá về các tế bào tạo nên hệ thống định vị trong bộ não

Làm sao chúng ta biết được mình đang ở đâu? Làm sao chúng ta có thể tìm được lối đi từ nơi này đến nơi kia? Và làm sao chúng ta có thể lưu trữ thông tin này theo một cách thức mà từ đó mình có thể ngay lập tức tìm ra được lối đi vào lần tới khi ta dò theo cùng con dường đó? Các khôi nguyên Nobel năm nay đã khám phá ra được một hệ thống định vị, một “GPS nội tại” trong bộ não khiến ta có thể định hướng bản thân trong không gian, biểu thị một cơ sở tế bào cho chức năng tri nhận cao hơn.

Năm 1971, John O’Keefe khám phá thành tố đầu tiên của hệ thống địn vị này. Ông phát hiện một loại tế bào thần kinh trong một khu vực não bộ mang tên đồi hải mã (hippocampus) vốn luôn được kích hoạt khi con chuột ở một vị trí nhất định trong căn phòng. Những tế bào thần kinh khác được kích hoạt khi con chuột đó ở vị trí khác. O’Keefe kết luận những “tế bào vị trí” (place cell) đó hình thành nên tấm bản đồ cho căn phòng ấy.

Hơn ba thập niên sau, năm 2005, May-Britt và Edvard Moser khám phá một thành tố then chốt khác của hệ thống định vị não bộ này. Họ nhận dạng được một loại tế bào thần kinh khác, mà họ gọi là các “tế bào ô lưới” (grid cell), chúng tạo ra một hệ thống điều phối và cho phép việc định vị và tìm đường chuẩn xác. Nghiên cứu sau đó của họ chứng tỏ được cách mà những tế bào vị trí và ô lưới có thể xác định chỗ và điều hướng.

Những khám phá của John O’Keefe, May-Britt Moser và Edvard Moser đã giải quyết được một vấn đề vốn choán hết tâm trí các triết gia và khoa học gia suốt nhiều thế kỉ – làm thế nào mà bộ não tạo ra được tấm bản đồ về không gian xung quanh ta và làm thế nào ta điều hướng được lối đi của mình qua một môi trường phức tạp? Continue reading

Hẹn hò và tình yêu: Vấn đề với sự tử tế

null

Đây là một thực tế đơn giản và đáng buồn: Rất nhiều người đã kết hôn, hoặc đang ở trong những mối quan hệ dài hạn, không tương hợp lắm. Hai người bất đồng về những vấn đề rất cơ bản, như tôn giáo, chính trị và những giá trị, hoặc họ đơn giản là không thấy người kia quyến rũ. Chỉ cần nhìn vào các con số thống kê ly dị.

Điều này đặt ra một câu hỏi quan trọng và khó giải thích. Nếu việc chọn lựa bạn đời là một quyết định quan trọng trong cuộc đời, thì tại sao quá nhiều người trong chúng ta lại có quyết định sai? Tại sao thực tế của một mối quan hệ thường không phù hợp với những lý tưởng của chúng ta? Rõ ràng, có rất nhiều khác biệt nhỏ nảy sinh theo thời gian, và mọi người thay đổi, nhưng ít ra chúng ta nên hiểu được những vấn đề cơ bản một cách rõ ràng.

Các nhà tâm lý rất hứng thú với câu hỏi này, nhưng đa số tập trung vào những sai lầm của bản thân trong lựa chọn về tình yêu. Đó là, chúng ta chọn những người yêu giàu có hoặc xinh đẹp hoặc có khả năng sinh sản hoặc có giá trị lớn, nhưng các phẩm chất đó không phải lúc nào cũng làm cho một mối quan hệ kéo dài và sâu sắc.

Lập luận này cũng giả định rằng chúng ta thường từ chối bất kì đối tác tiềm năng nào không phù hợp với những tiêu chuẩn lý tưởng của chúng ta. Nhưng chúng ta có làm thế không? Một nhóm các nhà nghiên cứu ở đại học Toronto đưa ra một quan điểm mới về lý do tại sao chúng ta có quá nhiều lựa chọn về mối quan hệ kém: Chúng ta quá tử tế. Theo Samantha Joel và các cộng sự của bà, tâm lý con người có những khuynh hướng giúp đỡ xã hội mạnh mẽ và một cách tự động hoá – chúng ta không thích gây ra nỗi đau xã hội – và sự tử tế có nguồn gốc sâu xa này ngăn không cho đàn ông và phụ nữ từ chối những bạn tình – ngay cả những bạn tình không tương hợp. Còn gì nữa nào, chúng ta không ý thức được sức mạnh của lòng khoan dung của chúng ta. Chúng ta cho rằng mình sẽ kén chọn người yêu của mình, nhưng trong thực tế, việc từ chối người khác thì nói dễ hơn làm. Ít nhất đó là lý thuyết mà các nhà khoa học Toronto đã khám phá trong phòng thực nghiệm. Đây là cách làm của họ: Continue reading

Có hay không tình yêu từ cái nhìn đầu tiên

Những gì tình yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên thật sự có nghĩa …

null

Thật sự có một thứ gì như tình yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên hay không? Nhiều người sẽ nói là có, và họ đã từng trải nghiệm nó. Nhưng liệu đây có phải chỉ đơn thuần là một nhầm lẫn giữa sự cuốn hút giới tính và tình yêu? Tình yêu từ cái nhìn đầu tiên có khả dĩ; và cái tính chất “từ cái nhìn đầu tiên” thật sự có nghĩa gì? Vậy, trước hết chúng ta hãy định nghĩa các thuật ngữ và xem xem chúng ta có thể làm sáng tỏ ý tưởng này hay không.

Trên thực tế, “tình yêu từ cái nhìn đầu tiên” có vẻ như là một thuật ngữ sai bởi vì chúng ta không thể hiểu nó theo nghĩa đen. Bởi vì chỉ đơn thuần nhìn thấy một ai đó không thể nào đủ để biết được bản chất của một người. Ví dụ như, nhìn thấy Brad Pitt hay Gwyneth Palthrow trong bộ phim mới đây nhất của họ không phải là cơ sở để yêu thích họ. Thật ra, các nhân vật xuất hiện trên màn hình không phải thực sự là con người của các diễn viên, một sự thật mà một nhóm hâm mộ cuồng nhiệt dường như không thể thấy. Những fan này có thể cảm thấy cuốn hút về mặt giới tính, hay cảm thấy mê mẩn, đối với các diễn viên này nhưng họ không thể được xem là yêu họ bởi vì họ không hiểu tí gì về con người của các diễn viên này dù họ có thể biết được một số thông tin (ví dụ như từ các tạp chí hay các cuộc tán gẫu). Tương tự như thế, bằng việc chỉ nhìn thấy người khác mà không có cơ hội để hiểu về họ, chúng ta không thể nào, một cách có lý, nói là yêu họ. Trong một vài trường hợp, khi chúng ta hiểu về con người của một số người mà ta cảm thấy ngưỡng mộ lúc còn lạ lẫm, chúng ta có thể xem họ rất rất đáng tởm!

Tuy nhiên, một số người tin rằng có thể có một sự liên kết kỳ diệu nào đó ngay sau khi ta nhìn thấy người ta yêu lần đầu tiên. Có lẽ cảm giác deja vu được kích hoạt bởi việc đã biết người này ở kiếp trước. Có lẽ từ cái nhìn đầu tiên, một nửa kia của bạn kéo bạn tới gần anh ấy như hai cực trái dấu của một nam châm. Vì vậy, Plato quan niệm rằng, khi linh hồn của chúng ta hạ thế từ thiên đường, chúng đã bị chia ra, để rồi khi ta gặp người bạn đời của mình “lần đầu tiên” trong cuộc đời, đó chính là một sự tái hợp. Tuy nhiên cần chú ý rằng, những cách giải thích siêu hình này về tình yêu từ cái nhìn đầu tiên cũng có ẩn chứa một sự trải nghiệm trực tiếp với người còn lại [đã gặp ở tiền kiếp, hay là hai nửa của một thực thể, tức luôn có một mối liên kết nào đó giữa hai người trước đó, bất kể là ở dạng linh hồn hay tiền kiếp – ND]. Như thế, thậm chí nếu chấp nhận những cách giải thích đó đi chăng nữa, chúng ta phải thừa nhận rằng tình yêu từ cái nhìn đầu tiên không thật sự là “cái nhìn đầu tiên”. Có một sự thân quen nào đó; chúng ta không thể chỉ thấy ai đó rồi sau đó, tự động yêu họ. Có một thứ mà Betrand Russell đã gọi là “tri thức của cảm giác thân quen” (“knowledge by acquaintance”). Chúng ta phải trực tiếp quen biết người khác theo một cách nào đó trước khi chúng ta có tình cảm với họ. Continue reading

Khoa học phía sau hiện tượng Deja Vu

Thậm chí những người lý trí nhất trong số chúng ta cũng có thể trải nghiệm hiện tượng này: bạn đang nói chuyện phím với bạn bè hay khám phá một nơi bạn chưa từng đặt chân đến khi đột nhiên một cảm giác lướt qua trong bạn: bạn đã trải qua chính xác thời khắc này trước đây. Sự tương đồng thật sự quá mức, và điều đó đúng ra không phải là tương đồng gì cả. Cảm giác đó trở nên mạnh hơn rồi giảm dần, sau đó hoàn toàn biến mất, tất cả chỉ trong một vài giây. Có phải bạn đã nhìn thấy tương lai? Khả năng nhiều là bạn không thể xác định chính xác bạn đã trải ngiệm tình huống trong linh cảm đó ở thời điểm nào trong quá khứ.

Deja vu là một từ tiếng Pháp có nghĩa đen là “đã thấy” và được thống kê xuất hiện ở 60-70% dân số, thường ở độ tuổi từ 15 đến 25. Vì Deja vu diễn ra rất bất thường và rất nhanh – và xảy ra ở những người không có bệnh tật gì – khiến cho nó rất khó để nghiên cứu, và tại sao cũng như như thế nào mà hiện tượng xảy ra cũng chỉ là vấn đề suy đoán. Các nhà phân tích tâm lý có lẽ xem nó là đặc trưng cho cách suy nghĩ có tính ao ước; một số nhà tâm lý lại cho rằng sự kết nối nhầm lẫn của bộ não làm cho ta lầm tưởng hiện tại là quá khứ. Còn những nhà hỗ trợ tâm lý thậm chí tin rằng hiện tượng này có liên quan đến trải nghiệm của tiền kiếp. Vậy chúng ta biết được gì chắc chắn về những gì thật sự xảy ra trong một khoảnh khắc Deja vu?

Một số nhà nghiên cứu suy đoán rằng Deja vu xảy ra khi có một sự kết nối nhầm lẫn ở não trong suốt quá trình nó cố gắng không ngừng để tạo ra những nhận thức trọn vẹn về thế giới của chúng ta với rất ít thông tin đầu vào. Hãy nghĩ về ký ức: ký ức chỉ cần một chút thông tin của các giác quan (như mùi hương quen thuộc chẳng hạn) để đem đến một sự gợi nhớ rất chi tiết. Deja vu được cho rằng là một dạng xáo trộn giữa thông tin đầu vào của các giác quan và kết quả dầu ra của quá trình gọi lại ký ức. Tuy nhiên, lý thuyết mơ hồ này không giải thích tại sao khoảnh khắc ta trải nghiệm trong Deja vu không nhất thiết phải là một sự kiện trong quá khứ thật sự.

Một lý thuyết khác có liên quan cho rằng Deja vu là một khoảnh khắc hoạt động không đúng giữa các mạch trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn trong não. Các nhà nghiên cứu giả thuyết rằng thông tin chúng ta có được từ môi trường xung quanh có thể bị “rò rỉ” và đi tắt không đúng chu trình đến khu vực trí nhớ dài hạn thay vì trí nhớ ngắn hạn, bỏ qua cơ chế vận chuyển đến vùng lưu trữ như thông thường. Khi một khoảnh khắc được trải nghiệm – và hiện tại khoảnh khắc này mới này ở vùng trí nhớ ngắn hạn – nó có cảm giác như chúng ta đang gợi nhớ lại ký ức trong quá khứ xa xôi.

Một giả thuyết tương tự xem Deja vu là một sự sai lệch về mặt thời gian; trong khi chúng ta nhận thức một khoảnh khắc, các thông tin giác quan đồng thời được chuyển hướng đến khu lưu trữ trí nhớ dài hạn, tạo nên một sự trì hoãn và có lẽ, cảm giác không yên rằng chúng ta đã trải nghiệm khoảnh khắc đó trước đây.

Một đặc điểm chung của tất cả những trải nghiệm Deja vu là: chúng ta hoàn toàn ý thức được chúng đang diễn ra, có nghĩa là không cần toàn bộ não bộ để tạo ra hiện tượng này.

Qua nhiều năm, các nhà nghiên cứu đã xác định chính xác được những xáo động của vùng giữa thuỳ thái dương (medial temporal lobe) là “thủ phạm” phía sau hiện tượng Deja vu. Những nghiên cứu ở các bệnh nhân động kinh được tiến hành bằng các điện cực cấy vào não chứng minh rằng kích thích ở vùng vỏ não xung quanh khe Rhinal (rhinal cortex) có thể thực sự tạo nên một khoảnh khắc Deja vu.

Một nghiên cứu đăng vào số tháng 3 của tạp chí Clinical Neurophysiology đã phân tích các mẫu tín hiệu điện não đồ từ các vùng vỏ não xung quanh khe Rhinal, hồi hải mã (có liên quan đến quá trình hình thành ký ức) và hồi hạnh nhân (liên quan đến cảm xúc) ở các bệnh nhân động kinh, những người có thể được kích thích điện não để trải nghiệm Deja vu.

Các nhà nghiên cứu (từ Pháp! – còn ai tốt hơn?) nhận thấy rằng các sự phát tín hiệu điện neuron một cách đồng bộ giữa vùng vỏ quanh khe Rhinal với hồi hải mã hay hồi hạnh nhân được tăng cường khi kích thích để tạo ra hiện tượng Deja vu. Đièu này có nghĩa là một sự đồng kích thích trùng hợp nào đó ở các cấu trúc vùng giữa thuỳ thái dương có thể “kéo cò” cho sự hoạt hoá hệ thống tìm gọi ký ức.

Trong lúc nguyên nhân và cơ chế chính xác của hiện tượng Deja vu vẫn còn là một bí ẩn, đừng lo lắng – nếu nó xảy ra với bạn, thì bạn vẫn hoàn toàn bình thường. Thực ra, hãy thả mình trong giây phút đó và cảm nhận cái cảm giác lạ lùng đó lướt qua bạn. Hay cứ giả như mình là một nhà tiên tri.

Trần Đình Tuấn dịch

Nguồn: http://www.psychologytoday.com/blog/brain-babble/201208/the-neuroscience-d-j-vu

J. E. Cirlot – Biểu tượng của sói

Biểu tượng của sói 

Biểu tượng cho lòng can trường của người La Mã và Ai Cập. Nó còn xuất hiện như kẻ  canh gác trong vô số các đền đài (8). Trong thần thoại Bắc Âu, chúng ta được kể về con sói quỷ Fenrir đã phá hủy những chiếc cùm và xích sắt  rồi cuối cùng bị giam cầm nơi tận cùng  lòng đất. Người ta còn nói rằng, cùng với thời kì thoái trào của các vị thần – kết thúc của thế giới – con quỷ cũng sẽ thoát khỏi nhà ngục và sau đó nhai ngấu ngiến vầng thái dương. Ở điểm này, vì thế, sói dường như là biểu tượng cho nguyên lý của cái ác, trong khuôn mẫu của những ý tưởng có liên quan một cách không thể hoài nghi được với thuyết sáng thế của phái Ngộ-đạo. Thần thoại Bắc Âu giả định rằng trật tự vũ trụ là khả thể chỉ nhờ việc  khống chế tạm thời sự hỗn độn và khả năng phá huỷ của vũ trụ – một khả năng mà (thông qua quá trình của Sự đảo ngược biểu tượng) cuối cùng phải giành đươc thắng lợi. Thần thoại đó cũng nối kết với tất cả những ý niệm khác về sự hủy diệt  cuối cùng của thế giới, dù bằng nước hay  bằng lửa.

Trịnh Thìn dịch

Chú thích của tác giả:

(8) B. G. P. Diccionario universal de la mitología. Barcelona, 1835

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Wolf” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

Mối nguy hiểm của sự thờ ơ

Một trong những chủ đề của blog này qua nhiều năm là sự lây lan mục tiêu, quan điểm cho rằng chúng ta thường làm theo những mục tiêu của những người xung quanh chúng ta. Nhìn thấy một ai đó đang giúp đỡ người khác và bạn bạn đột nhiên muốn sống có ích. Nhìn thấy một ai đó đang gây hấn, và nó khiến bạn có nhiều khả năng đánh nhau với người khác.

Còn sự thờ ơ, vô cảm thì sao?

Nếu bạn nhìn thấy người khác thờ ơ với một công việc, liệu nó có tính lây lan?

Câu hỏi đó đã được khám phá trong một bài báo tháng 8/2014 (issue of the Journal of Personality and Social Psychology) bởi Pontus Leander, James Shah, và Stacey Sanders.

Họ cho rằng khi con người đang lưỡng lự trong sự cam kết với một mục tiêu của họ, thì sau đó việc tiếp xúc với sự thờ ơ vô cảm sẽ làm suy giảm động cơ theo đuổi một mục tiêu ở con người. Continue reading

Joe Navarro – Tại sao những tên quỷ đội lốt người thích trở thành thầy tu

Góc nhìn sâu sắc hơn đối với một hiện tượng nghiêm trọng.
xuất bản ngày 20 tháng 4 năm 2014 bơi Joe Navarro, M.A Trên Spycatcher Tweet

Dòng tít bắt mắt: “Nghề nghiệp nào có nhiều kẻ điên rồ nhất?” (đăng trên The Week, 30 tháng 10 năm 2013) đã gây ra một cuộc tranh luận tương đối gay gắt trên mạng, là bởi mỗi người đều có một đáp án của riêng mình hoặc một câu chuyện đáng ghê sợ. Dù vậy, đáng tiếc là chưa có nghề nghiệp nào xứng đáng đứng đầu danh sách. Và câu hỏi đặt ra ở đây là: tại sao một ngành nghề bất kì lại có nhiều kẻ có nhân cách bệnh hoạn (psychopath) hơn so với những ngành nghề còn lại?

Theo bài báo, vị trí CEOs thường hấp dẫn nhiều kẻ có nhân cách bệnh hoạn nhất (psychopath). Có thể là như vậy, nếu chúng ta xem xét đến Enron, Bernard Madoff, hay các bộ phim như “Con sói Phố Wall” (2013). Nhưng có một ngành nghề từng khiến tôi chú ý, bị bỏ qua suốt 30 năm qua, đó chính là các thầy tu, linh mục (xếp hạng thứ 8 sau các vị trí thuộc các lực lượng hành pháp, dựa theo bài báo). Tôi nói từ 30 năm trước là bởi người ta có thể cho rằng những kẻ biến thái điên rồ khó mà trở thành các linh mục, nhưng đó là sự thật khi các linh mục bị phát giác có liên quan đến vụ việc “các Linh mục thiên chúa giáo lạm dụng trẻ em”, Điều này đặt ra câu hỏi: tại sao những kẻ bị cho là có nhân cách bệnh hoạn (psychopath) lại hứng thú với việc trở thành linh mục? Thực tế cho thấy, có rất nhiều lợi ích khi trở thành linh mục, và những kẻ tâm lý biến thái thì nắm rất vững những lợi ích này – đầu tiên là việc được cảnh báo trước. Continue reading

Umberto Eco – Sức tưởng tượng ảo

 

Umberto Eco

Sức tưởng tượng ảo

Duy Đoàn chuyển ngữ

Bằng sức mạnh của máy tính và internet, liệu sách có bị biến đổi thành “cấu trúc siêu văn bản” vô hạn mà tại đó độc giả cũng là tác giả?

Ngày nay, tồn tại hai dạng sách: những cuốn để đọc và những cuốn để tham khảo. Với sách-để-đọc, bạn bắt đầu ở trang 1, chẳng hạn tại đó tác giả bảo bạn biết về một hành vi phạm tội. Bạn theo dõi đến cuối sách, khi đó bạn phát hiện ra ai có tội. Kết thúc cuốn sách; kết thúc trải nghiệm đọc. Chuyện tương tự xảy ra cho dù bạn đọc triết, Husserl chẳng hạn. Tác giả mở màn ở trang đầu, và dõi theo một chuỗi các tra vấn nhằm cho bạn thấy được cách ông ta đi đến kết luận.

Dĩ nhiên bách khoa thư không bao giờ được làm để đọc từ bìa này đến bìa nọ. Nếu tôi muốn biết liệu Napoleon có thể gặp Kant hay không, tôi lấy quyển K và N và phát hiện rằng Napoleon sinh năm 1769 và chết năm 1821, và Kant sinh năm 1724 và chết năm 1804. Có thể hai người này đã gặp nhau. Để biết chính xác, tôi tham khảo tiểu sử của Kant. Tiểu sử của Napoleon, người đã gặp nhiều người, có thể bỏ qua cuộc gặp gỡ với Kant; tiểu sử của Kant hẳn sẽ không bỏ qua thế.

Máy tính đang bắt đầu thay đổi tiến trình đọc. Với một siêu văn bản, ví dụ vậy, tôi có thể yêu cầu tất cả mọi trường hợp trong đó tên của Napoleon có liên kết với Kant. Tôi có thể làm việc đó trong vài giây. Siêu văn bản sẽ khiến bách khoa thư giấy bị lỗi thời. Nhưng mặc dù máy tính đang lan ra một hình thức đọc viết mới, nhưng chúng không thể thoả mãn tất cả các nhu cầu trí tuệ mà chúng kích thích. Continue reading

Theresa DiDonato – Làm sao bạn biết bạn đang yêu

(7 biểu hiện mà nghiên cứu cho thấy bạn đã tìm được tình yêu đích thực.)

Làm sao bạn biết bạn đang yêu ?

Câu trả lời có thể làm cuộc đời bạn thay đổi rất lớn, từ cách bạn tiếp xúc với người bạn đời hiện tại (hoặc tương lai) đến cách bạn nhìn nhận bản thân với những mục tiêu bạn có trong tương lai. Bạn nghĩ rằng có thể bạn đang yêu? Hãy có cái nhìn sâu hơn về vấn đề này bằng việc xem xét những biểu hiện mà nghiên cứu đã đưa ra về tình yêu và sự gắn kết.

1. Bạn nghiện người ấy.

Tình yêu thay đổi trí óc. Ở bước đầu của mối quan hệ, sự phấn chấn mà mọi người thường cảm thấy là do hoạt động thần kinh được tăng cường ở những vùng nhiều dopamine trong não – vùng được kết nối với hệ thống củng cố – và vùng não liên quan với sự mưu cầu phần thưởng. Còn có một số dấu vết cùa hoạt động trong não trước, vùng não liên kết với những suy nghĩ ám ảnh, một cảm giác kinh điển khi con người đang yêu (Aron, Fisher, Mashek, Strong, và Brown, 2005). Khi mối quan hệ được tiến triển lên sự gắn kết lâu dài, nghĩ về người ấy sẽ kích hoạt các trung khu tưởng thưởng cùng với những vùng não liên quan đến sự gắn kết, nhưng những ý nghĩ ám ảnh sẽ giảm bớt (Acevedo, Aron, Fisher, & Brown, 2011). Continue reading