Anne Applebaum – Hiểu về Stalin

 

Anne Applebaum

Hiểu về Stalin

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Làm thế nào Stalin lại trở thành Stalin? Hay nói đúng hơn: Làm thế nào mà Iosif Vissarionovič Džugašvili – cháu trai của những người nông nô, con trai của một nữ thợ giặt và một người thợ giày ít học – lại trở thành Tổng tư lệnh Stalin, một trong những kẻ sát nhân hàng loạt tàn bạo nhất mà thế giới từng biết? Làm thế nào mà một cậu bé sinh ra tại một thị trấn nơi vùng đồi hẻo lánh xứ Georgia lại trở thành một kẻ độc tài kiểm soát cả nửa châu Âu? Làm thế nào mà một chàng trai sùng đạo vốn chọn con đường theo học thành linh mục lại lớn lên trở thành một kẻ vô thần đầy nhiệt huyết cũng như một kẻ theo ý hệ Marx.

Chịu ảnh hưởng từ Freud, nhiều tiểu sử gia tham vọng – chưa nói đến các tâm lí gia, các triết gia và các sử gia – đều đi tìm câu trả lời ở thời thơ ấu của chủ thể mà họ đề cập. Cũng như sự cuồng tín của Hitler được “giải thích” bằng quá trình trưởng thành, bằng đời sống tình dục, hoặc bằng chuyện ông ta được cho là chỉ có một tinh hoàn, thì sự hung ác kiểu tâm lí biến thái của Stalin được quy cho người cha, mà theo chính lời Stalin, là người “đánh đập ông không thương tiếc”, hoặc quy cho người mẹ, một người có lẽ từng ngoại tình với một linh mục địa phương. Những lí giải khác đều đưa ra vụ tai nạn khiến Stalin có một cánh tay teo lại, vụ nhiễm trùng đậu mùa làm mặt ông ta đầy sẹo, hoặc vụ khiếm khuyết bẩm sinh làm dính hai ngón chân lại mang đến cho ông ta bàn chân trái có màng – một dấu hiệu của quỷ.

Chính trị cũng ảnh hưởng đến các tiểu sử gia về Stalin. Trong suốt thuở sinh thời, những kẻ đồng cảm biến ông ta thành một siêu anh hùng, nhưng những kẻ đối địch cũng áp đặt thiên kiến của mình. Vốn là kẻ thù ghê gớm nhất của Stalin, Leon Trotsky là người diễn giải Stalin có sức ảnh hưởng cực kì to lớn ở thế kỉ 20, định hình nên cách nhìn của một thế hệ sử gia, từ Issac Deutscher trở về sau. Stalin của Trotsky là một kẻ thiếu cơ trí và không có tính sảng khoái, một kẻ thất học và tỉnh lẻ đạt được quyền lực nhờ thao túng bộ máy quan liêu và nhờ bạo lực tàn khốc. Trên hết, Stalin của Trotsky là một kẻ xoay chiều ban đầu đã phản bội Lenin và sau đó phản bội sự nghiệp theo chủ nghĩa Marx. Bức chân dung như thế nhằm phục vụ một mục đích, chính là truyền cảm hứng để những kẻ theo Trotsky duy trì sự trung thành đối với cuộc cách mạng Xô-viết “đáng lẽ đã xảy ra” – nếu như trước đó người lên nắm quyền là Trotsky chứ không phải là một Stalin buồn thảm, dè dặt và yếm thế. Continue reading

Advertisements

Guy Winch – 10 sự thật bất ngờ về sự cô đơn

null
Những tổn thương cô đơn gây ra cho sức khỏe và hạnh phúc của bạn.

Ước tính hơn 40% dân số sẽ chịu nỗi đau thống khổ của sự cô đơn trong suốt cuộc đời của họ. Song, cho dù cô đơn có phổ biến như thế nào thì chỉ có một số người là nhận thức được đầy đủ những ảnh hưởng mạnh mẽ mà nó tác động lên chúng ta. Sau đây là 10 sự thật bất ngờ về cô đơn sẽ khiến bạn thay đổi cách nhìn về tình trạng tâm lý vừa rất phổ biến nhưng đồng thời cũng gây thiệt hại đáng kể

1. Cô đơn không phụ thuộc vào số lượng bạn bè hay mối quan hệ mà bạn có. Cô đơn phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng chủ quan của những mối quan hệ – liệu rằng bạn có cảm thấy cô lập với những người xung quanh về mặt tình cảm lẫn giao tiếp xã hội. Đó là lý do tại sao:

2. Hơn 60% số người cô đơn là những người đã kết hôn. Khi mà những cặp vợ chồng không còn chia sẻ những tình cảm thầm kín nhất, những suy nghĩ, và những trải nghiệm của họ với người còn lại có thể để lại trong họ cảm giác bị cô lập và đơn độc. Những người trong tình trạng này thật sự tin rằng người bạn đời không còn có thể cho họ sự đồng điệu mà họ muốn. Trong khi nỗi lo sợ của họ có thể đúng, chúng cũng có thể bắt nguồn từ thực tế đó là:

3. Sự cô đơn bóp méo nhận thức của chúng ta về những mối quan hệ. Nhiều nghiên cứu cho thấy chỉ yêu cầu mọi người nhớ lại những lần mà họ cảm thấy cô đơn là đủ để khiến họ làm giảm giá trị những mối quan hệ của chính mình. Những nhận thức sai lệch này thường khiến những người cô đơn thậm chí càng rời xa những người có thể làm giảm bớt sự cô đơn của chính họ. Làm cho vấn đề càng xấu đi, bạn bè của họ có thể sẽ do dự khi tiếp xúc cũng bởi vì:

4. Sự cô đơn có tính lây lan trong cộng đồng xã hội. Cô đơn có một sự phân biệt rõ ràng. Chúng ta có xu hướng phát hiện và xác định những người cô đơn xung quanh chúng ta. Một nghiên cứu cho thấy trong khoảng thời gian hơn sáu tháng, những người cô đơn bị đẩy ra rìa xã hội và đáng ngạc nhiên là bạn bè của họ cũng vậy. Bị đẩy vào “bên trong khoảng lạnh” bằng cách này để lại một sự thật ngạc nhiên trên cơ thể của chúng ta:

5. Cô đơn thật sự có thể khiến chúng ta cảm thấy lạnh hơn. Những nghiên cứu cho thấy nhớ lại khoảng thời gian mà chúng ta cảm thấy cô đơn đã làm cho những người tham gia thực nghiệm đánh giá nhiệt độ trong phòng lạnh hơn đáng kể. Nó thậm chí còn làm cho nhiệt độ thực tế của da họ giảm xuống. Quan niệm về cảm giác “bị đẩy vào bên trong khoảng lạnh” chịu sự ảnh hưởng từ quá trình tiến hóa trong quá khứ của chúng ta trong đó việc bị li khai khỏi bộ lạc của mình cũng đồng nghĩa với việc bị tách khỏi nguồn sưởi ấm và nhóm cộng đồng xung quanh đó. Trên thực tế, cơ thể của chúng ta phản ứng lại với sự cô đơn bằng những cách bi đát nhất:

6. Cô đơn khiến cơ thể của chúng ta cảm thấy như là đang bị tấn công. Cô đơn gây ra sự phản ứng cơ thể tức thời và nghiêm trọng. Nó làm gia tăng huyết áp và cholesterol, và nó kích thích những phản ứng căng thẳng về thể chất lẫn tinh thần của chúng ta. Đó là tại sao:

7. Cô đơn mãn tính làm cho nguy cơ về bệnh tim mạch ở chúng ta gia tăng đáng kể. Qua thời gian, những người cô đơn mãn tính có tỉ lệ về bệnh tim mạch cao hơn bởi vì cơ thể của họ chịu sự căng thẳng liên tục không ngừng. Nhưng đó không phải là tác hại duy nhất mà cô đơn gây ra cho cơ thể của chúng ta:

8. Cô đơn ngăn chặn hoạt động của hệ thống miễn dịch của chúng ta.Cô đơn làm cho hệ thống miễn dịch hoạt động ít hiệu quả hơn, mà qua thời gian, làm chúng ta gia tăng nguy cơ phát triển đủ thứ loại bệnh tật và đau ốm. Kể cả khi cô đơn trong thời gian ngắn cũng ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch của chúng ta, đó là lý do tại sao:

9. Những sinh viên năm nhất những người mà cảm thấy cô đơn sẽ có những phản ứng xấu hơn đối với tác động của cảm cúm. Chỉ với một vài tuần cô đơn là đủ để ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch của những tân sinh viên năm nhất đến nỗi mà những người được nhận định là cảm thấy cô đơn chịu sự ảnh hưởng xấu đối với cảm cúm theo mùa hơn những sinh viên không cảm thấy cô đơn. Gộp chung lại, cô đơn tác động đến cơ thể chúng ta một cách nghiêm trọng:

10. Cô đơn cũng nguy hiểm như hút thuốc lá. Các nhà khoa học đã kết luận rằng bằng việc đưa ra tất cả những hình thức khốc liệt mà cô đơn tác động đến cơ thể chúng ta, điều này cho ta thấy một nguy cơ lớn đối với sức khỏe lâu dài và tuổi thọ cũng giống như hút thuốc lá. Thật vậy, các nghiên cứu kết luận rằng cô đơn kinh niên làm tăng nguy cơ chết sớm đến 14%

Rõ ràng là cô đơn đại diện cho tổn thương vật lý to lớn và quan trọng và là một vấn đề mà chúng ta không nên làm lơ. Vì thế, hảy đảm bảo có đủ các bước khi bạn đang cô đơn và truyền bá đến những người cô đơn xung quanh các bạn về nguy hiểm khi vẫn tiếp tục cô dơn.

Rekita dịch
Nguồn

http://www.psychologytoday.com/blog/the-squeaky-wheel/201410/ten-surprising-facts-about-loneliness

David DiSalvo – Sức mạnh quyến rũ của sự tự tin quá mức

null

Quá tự tin. Bản thân từ đó đã gây khó chịu. Biết được những người quá tự tin thường thành công còn làm bạn điên tiết hơn. Chúng ta thích tin rằng người quá tự tin, giống như sự kiêu căng, sẽ mắc sai sót vấp phải một thất bại có thể dự đoán được và nhường đường cho những người tự tin điềm đạm, có vẻ khiêm tốn, leo lên bậc thang cao hơn. Nhưng điều đó không phải lúc nào cũng đúng hoặc thường xảy ra.

Nghiên cứu tâm lý học thường hỏi tại sao lại thế, và đưa ra một vài câu trả lời khả thi. Một nghiên cứu từ năm 2012 kết luận rằng ngay cả khi sự quá tự tin tạo ra những kết quả dưới trung bình, dưới mức chuẩn, thì sức quyến rũ của nó vẫn chiến thắng trong thời nay. Chúng ta có thể kỳ vọng rằng một ai đó quá tự tin sẽ bị thất bại khi bị thúc ép. Nghiên cứu kiểm tra kỳ vọng đó và phát hiện thấy nó là đúng, không ít thì nhiều – nhưng cũng phát hiện thấy nó thực sự không quan trọng. Người quá tự tin có thể không toả sáng khi được kiểm tra một cách khách quan, nhưng họ có một sở trường là quyến rũ mọi người đến mức làm họ phớt lờ các kết quả.

Nếu bạn phải xác định được tại sao, thì dường như đó là một vấn đề của địa vị (xã hội)—một loại hàng hoá mà người quá tự tin là chuyên gia trong việc tạo ra và nuôi dưỡng nó. Khi được kiểm soát tốt, địa vị xã hội được ban cho bởi sự quá tự tin phát tiết ra ma lực, có khả năng làm chệch sự chú ý của chúng ta ra khỏi những kết quả có thể đo lường.

Đó là một kết luận thật trớ trêu, gây khó chịu khi bạn xem xét phản ứng của người bình thường trước “tên ngốc quá tự tin.” Làm sao chúng ta có thể vừa từ chối, vừa bị quyến rũ bởi người đó? Nghiên cứu khác chỉ ra làm thế nào mà sự thô lỗ có thể thành công nếu sự quá tự tin của người truyền tải làm biến đổi được địa vị.

Trong một thực nghiệm của nghiên cứu, những người tham gia xem một video về một người đàn ông ở một quán cafe vỉa hè gác chân lên chiếc ghế khác, để tàn thuốc lá rơi xuống đất và thô lỗ gọi món ăn. Những người tham gia đã đánh giá người đàn ông này có nhiều khả năng “đưa ra các quyết định” và có khả năng “khiến người khác lắng nghe những gì anh ta nói” hơn những người tham gia được xem một video về người đàn ông tương tự nhưng hành xử một cách lịch sự. Thông qua một vài thực nghiệm khác, các kết quả tương tự vẫn chiếm ưu thế – mọi người có xu hướng đánh giá những người phá luật là mạnh mẽ và kiểm soát hơn so với những người tuân theo luật lệ.

Và yếu tố quan trọng gì nằm trong niềm tin rằng bản thân một người là cao hơn những luật lệ? Sự quá tự tin, tất nhiên. (Điều này cũng có thể giải thích tại sao những người bán hàng thô lỗ bán được nhiều hơn ở những cửa hàng sang trọng. Theo nghiên cứu mới từ đại học University of British Columbia’s Sauder School of Business, Ở các cửa hàng sang trọng, xa xỉ, nhân viên bán hàng càng thô lỗ thì việc bán hàng càng thuận lợi.)

Những nghiên cứu đó xoay quanh câu hỏi tại sao chúng ta có xu hướng bị thu hút trước sự trơ tráo của người quá tự tin, nhưng ít đề cập đến chuyện tại sao người quá tự tin là quá giỏi trong việc tạo ra sự thu hút đó. Nghiên cứu gần đây nhất về chủ đề đó đã đem đến một câu trả lời, có thể không làm giảm bớt sự khó chịu của chúng ta về điều này, nhưng làm cho điều đó có thể hiểu được.

Nó có thể được tóm tắt như thế này: Niềm tin đánh lừa chúng ta, dù nó đúng hay không. Trong trường hợp của sự quá tự tin, niềm tin vào khả năng của một người – tuy không hợp với thực tế —tạo ra nguồn năng lượng có tính lây lan của nó. Sự tự lừa dối bản thân là một phương tiện hùng mạnh để thuyết phục thế giới nhìn sự việc theo cách của bạn.

Những người tham gia trong nghiên cứu (một nhóm các sinh viên đại học) được yêu cầu đánh giá về những năng lực của riêng họ và của bạn bè họ lúc bắt đầu một khoá học dài 6 tuần. Khoảng một nửa số sinh viên là kém tự tin và một ít (ít hơn một nửa) là quá tự tin (với sự cân bằng nhỏ của những sinh viên đánh giá chính xác về những khả năng của họ). Sau đó họ được yêu cầu đấnh giá lại vào cuối khoá học, sau khi mọi người có cơ hội thể hiện và tất cả mọi người đều nhìn thấy những kết quả thực tế.

Nghiên cứu cho thấy lúc bắt đầu khoá học, những sinh viên quá tự tin nhận được những đánh giá cao hơn từ bạn bè – và đến cuối khoá học, bất kể họ học tốt hoặc kém ra sao, những sinh viên quá tự tin vẫn được đánh giá cao hơn những người khác. Thực vậy, các kết quả hầu như không quan trọng khi so với những dấu hiệu quyến rũ được gửi đi bởi những người tin rằng họ là nhất.

Nghiên cứu bổ sung cách đánh giá mức độ lừa dối bản thân của những người tham gia về những khả năng của họ, và phát hiện thấy một mối tương quan vững chắc giữa sự thống trị về mặt xã hội của sự quá tự tin và chiều sâu của sự tự lừa dối bản thân. Các nhà nghiên cứu kết luận như sau: “Các phát hiện của chúng tôi cho thấy mọi người có thể không phải lúc nào cũng tưởng thưởng cho cá nhân đạt được nhiều thành tựu hơn mà đúng hơn là thưởng cho cá nhân tự lừa dối bản thân nhiều hơn.”

Dù chúng ta có thể không thích kết luận đó, thì thật khó mà cãi rằng nó không nằm trong những bằng chứng xung quanh chúng ta hằng ngày. Những người không tin vào bản thân họ – cho dù niềm tin đó có cơ sở hay không – thì không thể thuyết phục những người khác tin theo. Đó là điều mà chức năng tâm lý học của sự tự tin nói đến: nếu bạn mong đợi người khác nghĩ rằng bạn có năng lực, thì bạn tốt hơn là tự tin vào điều đó.

Điều đó đúng đối với sự tự tin lành mạnh cũng như sự tự tin được thổi phồng.

Điều mà nghiên cứu mới nhất và những yếu tố của những người khác nói với chúng ta đó là sự tự lừa dối bản thân là một thứ nuôi dưỡng địa vị xã hội. Khi đi cùng với tính cách, nó làm người khác muốn tin vào ngay cả khi các kết quả chỉ về điều khác. Và dù điều đó không làm cho chủ đề này bớt gây khó chịu hơn, thì nó làm sáng tỏ điều gì khiến cho sự quá tự tin có hiệu quả mặc cho tiếng xấu của nó.

Nghiên cứu mới nhất được đăng trên tạp chí PLOS One.

Thanh Hằng dịch
Nguồn
http://www.psychologytoday.com/blog/neuronarrative/201410/the-surprising-infuriating-power-overconfidence

6 điều hoang đường về đàn ông, phụ nữ và mối quan hệ

null

Nghiên cứu cho thấy chúng ta giống nhau nhiều hơn chúng ta nghĩ
Khi nói đến hành vi của đàn ông và phụ nữ trong các mối quan hệ, đa số mọi người có một quan điểm – và thường là về hai giới khác biệt nhau như thế nào. Nhưng nghiên cứu nói gì với chúng ta về việc đàn ông và phụ nữ hành xử như thế nào trong các mối quan hệ tình cảm? Thường thì họ giống nhau nhiều hơn chúng ta nghĩ, và những giả định phổ biến của chúng ta là sai lầm.

Hãy xem xét 6 điều hoang đường phổ biến sau:

1. Phụ nữ lãng mạn hơn đàn ông.

Khi phần lớn tiểu thuyết lãng mạn và những bộ phim lãng mạn nhắm đến những độc giả nữ, thì khó mà tin rằng đàn ông trong thực tế có một quan điểm lãng mạn về tình yêu hơn phụ nữ. Thang đo về chủ nghĩa lãng mạn được dùng nhiều, Romantic Beliefs Scale, yêu cầu mọi người đánh giá họ đồng ý đến mức độ nào với những câu như “Sẽ chỉ có một tình yêu đích thực đối với tôi” và “Nếu tôi yêu một ai đó, thì tôi biết mình có thể làm mối quan hệ tiến triển, mặc cho bất kỳ chướng ngại nào.” Nhưng hoá ra đàn ông thường ghi nhiều điểm hơn phụ nữ trong thang đo này.(1) Đàn ông cũng có nhiều khả năng tin vào quan điểm lãng mạn của “yêu từ cái nhìn đầu tiên” hơn phụ nữ. 2,3

2. Sự quyến rũ về ngoại hình của một người bạn đời là quan trọng với đàn ông nhiều hơn với phụ nữ.

Điều hoang đường này dựa trên một hạt nhân chủ yếu của sự thật: Nhiều nghiên cứu chỉ ra, khi đàn ông và phụ nữ được hỏi những phẩm chất nào mà họ ưa thích hơn ở một người bạn tình, thì đàn ông đánh giá sự quyến rũ ngoại hình quan trọng hơn là phụ nữ. 4 Tuy nhiên, sự xem xét kỹ lưỡng dữ liệu này đã tiết lộ cả đàn ông và phụ nữ cho rằng vẻ ngoài là quan trọng, có điều đàn ông đánh giá nó cao hơn phụ nữ. Trong một nghiên cứu, đàn ông và phụ nữ đánh giá một loạt phẩm chất ở những bạn tình tiềm năng.5 Về trung bình, đàn ông đánh giá ngoại hình là phẩm chất quan trọng hàng thứ tư; còn phụ nữ đánh giá nó quan trọng hàng thứ sáu. Vì vậy, cả hai giới đèu đánh giá cao ngoại hình, nhưng không đánh giá nó quan trọng hàng đầu.

Nhưng dữ liệu này chỉ nói về việc đàn ông và phụ nữ tuyên bố họ đang tìm kiếm điều gì. Nghiên cứu nói gì về kiểu người mà đàn ông và phụ nữ trong thực tế chọn để hẹn hò? Trong một nghiên cứu cổ điển về sự quyến rũ liên nhân cách, các sinh viên đại học được ghép cặp ngẫu nhiên cho các cuộc hẹn hò, và đối với đàn ông và phụ nữ, sự quyến rũ ngoại hình là yếu tố chính dự đoán liệu họ có hứng thú hẹn hò với ai đó lần thứ hai hay không.6 Trong một nghiên cứu gần đây, các nhà nghiên cứu xem xét những sở thích của các sinh viên đại học tham gia trong một sự kiện hẹn hò-nhanh. Trước những cuộc hẹn hò nhanh của họ, các sinh viên đánh giá về những phẩm chất khác nhau sẽ có tầm quan trọng như thế nào trong việc đưa ra sự lựa chọn của họ, và những khác biệt về giới (được mong đợi) đã xuất hiện, khi phụ nữ đánh giá về sự quyến rũ ngoại hình ở bạn tình là kém quan trọng hơn ở đàn ông. Nhưng khi các nhà nghiên cứu xem xét những người tham gia trong thực tế đã chọn ai trong suốt sự kiện, thì sự khác biệt về giới biến mất: Cả đàn ông và phụ nữ ưa thích những đối tác quyến rũ về ngoại hình hơn, và không có sự khác biệt giới trong vấn đề vẻ ngoài ảnh hưởng đến những lựa chọn của họ nhiều như thế nào.7

Như vậy, cả đàn ông và phụ nữ đều đánh giá cao sự quyến rũ ngoại hình, và đàn ông đánh giá nó cao hơn – nhưng không cao hơn quá nhiều – và sự xem xét về những lựa chọn hẹn hò trong thực tế cho thấy cả hai giới đều bị say mê bởi vẻ ngoài ngang nhau. Continue reading

Nobel Văn chương 2014: Patrick Modiano (1945- )

AP—AP/Gallimard

AP—AP/Gallimard

Patrick Modiano sinh ngày 30 tháng 7 năm 1945 tại Boulogne-Billancourt, ngoại ô Paris. Cha ông là doanh nhân, mẹ ông là nữ diễn viên. Tuổi thơ của ông nát tan do nhiều cuộc đổi dời gây xáo động, do sự vắng mặt của người cha và do cái chết bi thảm của người em Rudy, người bị bệnh bạch cầu ở tuổi lên 10. Ông hồi tưởng lại quãng thời gian đau khổ mà đầy hoài niệm đó trong hồi kí Un pedigree hồi năm 2005: “Tôi không thể viết tự truyện được, đó là lí do tôi gọi nó là một ‘pedigree’ (phả hệ): Nó là cuốn sách không nói về những gì tôi làm cho bằng nói về những gì người khác làm, chủ yếu là những gì cha mẹ tôi đã làm cho tôi.”

Ông từng theo học phổ thông tại trường Lycée Henri-IV tại Paris. Ở đây ông được Raymond Queneau kèm học toán, và tài năng của ông được nhà văn nổi tiếng này phát hiện ra. Thế là chàng thanh niên Patrick bắt đầu viết. Năm 1968, Modiano trình làng với tư cách nhà văn bằng tác phẩm La place de l’étoile, một tiểu thuyết thu hút rất nhiều sự chú ý. Vài năm sau, ông đoạt giải Grand Prix du Roman của Académie Française cho cuốn tiểu thuyết Les boulevards de ceinture.

“Thực sự thì tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện làm thứ gì khác”, ông nói về văn nghiệp của mình. “Tôi không có bằng cấp, không mục tiêu chắc chắn nào để đạt tới. Nhưng thật gian nan đối với một cây bút trẻ khi bắt đầu viết quá sớm. Thực sự thì tôi không thích đọc mấy cuốn sách hồi ban đầu của mình. Không phải vì tôi không thích chúng, mà tôi không nhận ra bản thân mình nữa, giống như một diễn viên già xem chính mình hồi còn là một nam chính trẻ trung vậy.”

Tiểu thuyết của Modiano xoáy vào nan đề của căn cước: Làm thế nào tôi lần ra được chứng cứ về sự tồn tại của mình qua các dấu vết của quá khứ? Bị ám ảnh với khoảng thời gian Chiếm đóng gây muộn phiền và tủi nhục – mà lúc đó cha ông đã dính vào những vụ giao dịch mờ ám – Modiano cứ trở đi trở lại đề tài này trong tất cả tác phẩm của mình, hết cuốn này đến cuốn kia để rồi tạo thành một tác phẩm thuần nhất đáng kinh ngạc. “Sau mỗi tiểu thuyết, tôi có ấn tượng là mình đã xoá đi hết toàn bộ”, ông nói giữa hai khoảng lặng. “Nhưng tôi biết mình sẽ trở lại nhiều lần những chi tiết bé tí ấy, những điều nho nhỏ ấy vốn là một phần của con người tôi. Sau rốt, tất cả chúng ta đều được định đoạt bởi nơi chốn đó và thời gian đó khi ta sinh ra.” Đối với ông, nơi chốn đó chính là Paris, một thành phố mà ông viết về thường xuyên, mô tả sự tiến triển nơi những con phố, những thói quen và những con người chốn ấy. Thực tế thì Modiano rất thân thuộc với Paris giống như Woody Allen thân thuộc với New York vậy: nó là kí ức và là lương tâm của ông. Continue reading

Nobel Sinh lí học hay Y học 2014: John O’Keefe và May-Britt Moser & Edvard I. Moser

Cho khám phá về các tế bào tạo nên hệ thống định vị trong bộ não

Làm sao chúng ta biết được mình đang ở đâu? Làm sao chúng ta có thể tìm được lối đi từ nơi này đến nơi kia? Và làm sao chúng ta có thể lưu trữ thông tin này theo một cách thức mà từ đó mình có thể ngay lập tức tìm ra được lối đi vào lần tới khi ta dò theo cùng con dường đó? Các khôi nguyên Nobel năm nay đã khám phá ra được một hệ thống định vị, một “GPS nội tại” trong bộ não khiến ta có thể định hướng bản thân trong không gian, biểu thị một cơ sở tế bào cho chức năng tri nhận cao hơn.

Năm 1971, John O’Keefe khám phá thành tố đầu tiên của hệ thống địn vị này. Ông phát hiện một loại tế bào thần kinh trong một khu vực não bộ mang tên đồi hải mã (hippocampus) vốn luôn được kích hoạt khi con chuột ở một vị trí nhất định trong căn phòng. Những tế bào thần kinh khác được kích hoạt khi con chuột đó ở vị trí khác. O’Keefe kết luận những “tế bào vị trí” (place cell) đó hình thành nên tấm bản đồ cho căn phòng ấy.

Hơn ba thập niên sau, năm 2005, May-Britt và Edvard Moser khám phá một thành tố then chốt khác của hệ thống định vị não bộ này. Họ nhận dạng được một loại tế bào thần kinh khác, mà họ gọi là các “tế bào ô lưới” (grid cell), chúng tạo ra một hệ thống điều phối và cho phép việc định vị và tìm đường chuẩn xác. Nghiên cứu sau đó của họ chứng tỏ được cách mà những tế bào vị trí và ô lưới có thể xác định chỗ và điều hướng.

Những khám phá của John O’Keefe, May-Britt Moser và Edvard Moser đã giải quyết được một vấn đề vốn choán hết tâm trí các triết gia và khoa học gia suốt nhiều thế kỉ – làm thế nào mà bộ não tạo ra được tấm bản đồ về không gian xung quanh ta và làm thế nào ta điều hướng được lối đi của mình qua một môi trường phức tạp? Continue reading

Hẹn hò và tình yêu: Vấn đề với sự tử tế

null

Đây là một thực tế đơn giản và đáng buồn: Rất nhiều người đã kết hôn, hoặc đang ở trong những mối quan hệ dài hạn, không tương hợp lắm. Hai người bất đồng về những vấn đề rất cơ bản, như tôn giáo, chính trị và những giá trị, hoặc họ đơn giản là không thấy người kia quyến rũ. Chỉ cần nhìn vào các con số thống kê ly dị.

Điều này đặt ra một câu hỏi quan trọng và khó giải thích. Nếu việc chọn lựa bạn đời là một quyết định quan trọng trong cuộc đời, thì tại sao quá nhiều người trong chúng ta lại có quyết định sai? Tại sao thực tế của một mối quan hệ thường không phù hợp với những lý tưởng của chúng ta? Rõ ràng, có rất nhiều khác biệt nhỏ nảy sinh theo thời gian, và mọi người thay đổi, nhưng ít ra chúng ta nên hiểu được những vấn đề cơ bản một cách rõ ràng.

Các nhà tâm lý rất hứng thú với câu hỏi này, nhưng đa số tập trung vào những sai lầm của bản thân trong lựa chọn về tình yêu. Đó là, chúng ta chọn những người yêu giàu có hoặc xinh đẹp hoặc có khả năng sinh sản hoặc có giá trị lớn, nhưng các phẩm chất đó không phải lúc nào cũng làm cho một mối quan hệ kéo dài và sâu sắc.

Lập luận này cũng giả định rằng chúng ta thường từ chối bất kì đối tác tiềm năng nào không phù hợp với những tiêu chuẩn lý tưởng của chúng ta. Nhưng chúng ta có làm thế không? Một nhóm các nhà nghiên cứu ở đại học Toronto đưa ra một quan điểm mới về lý do tại sao chúng ta có quá nhiều lựa chọn về mối quan hệ kém: Chúng ta quá tử tế. Theo Samantha Joel và các cộng sự của bà, tâm lý con người có những khuynh hướng giúp đỡ xã hội mạnh mẽ và một cách tự động hoá – chúng ta không thích gây ra nỗi đau xã hội – và sự tử tế có nguồn gốc sâu xa này ngăn không cho đàn ông và phụ nữ từ chối những bạn tình – ngay cả những bạn tình không tương hợp. Còn gì nữa nào, chúng ta không ý thức được sức mạnh của lòng khoan dung của chúng ta. Chúng ta cho rằng mình sẽ kén chọn người yêu của mình, nhưng trong thực tế, việc từ chối người khác thì nói dễ hơn làm. Ít nhất đó là lý thuyết mà các nhà khoa học Toronto đã khám phá trong phòng thực nghiệm. Đây là cách làm của họ: Continue reading

Có hay không tình yêu từ cái nhìn đầu tiên

Những gì tình yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên thật sự có nghĩa …

null

Thật sự có một thứ gì như tình yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên hay không? Nhiều người sẽ nói là có, và họ đã từng trải nghiệm nó. Nhưng liệu đây có phải chỉ đơn thuần là một nhầm lẫn giữa sự cuốn hút giới tính và tình yêu? Tình yêu từ cái nhìn đầu tiên có khả dĩ; và cái tính chất “từ cái nhìn đầu tiên” thật sự có nghĩa gì? Vậy, trước hết chúng ta hãy định nghĩa các thuật ngữ và xem xem chúng ta có thể làm sáng tỏ ý tưởng này hay không.

Trên thực tế, “tình yêu từ cái nhìn đầu tiên” có vẻ như là một thuật ngữ sai bởi vì chúng ta không thể hiểu nó theo nghĩa đen. Bởi vì chỉ đơn thuần nhìn thấy một ai đó không thể nào đủ để biết được bản chất của một người. Ví dụ như, nhìn thấy Brad Pitt hay Gwyneth Palthrow trong bộ phim mới đây nhất của họ không phải là cơ sở để yêu thích họ. Thật ra, các nhân vật xuất hiện trên màn hình không phải thực sự là con người của các diễn viên, một sự thật mà một nhóm hâm mộ cuồng nhiệt dường như không thể thấy. Những fan này có thể cảm thấy cuốn hút về mặt giới tính, hay cảm thấy mê mẩn, đối với các diễn viên này nhưng họ không thể được xem là yêu họ bởi vì họ không hiểu tí gì về con người của các diễn viên này dù họ có thể biết được một số thông tin (ví dụ như từ các tạp chí hay các cuộc tán gẫu). Tương tự như thế, bằng việc chỉ nhìn thấy người khác mà không có cơ hội để hiểu về họ, chúng ta không thể nào, một cách có lý, nói là yêu họ. Trong một vài trường hợp, khi chúng ta hiểu về con người của một số người mà ta cảm thấy ngưỡng mộ lúc còn lạ lẫm, chúng ta có thể xem họ rất rất đáng tởm!

Tuy nhiên, một số người tin rằng có thể có một sự liên kết kỳ diệu nào đó ngay sau khi ta nhìn thấy người ta yêu lần đầu tiên. Có lẽ cảm giác deja vu được kích hoạt bởi việc đã biết người này ở kiếp trước. Có lẽ từ cái nhìn đầu tiên, một nửa kia của bạn kéo bạn tới gần anh ấy như hai cực trái dấu của một nam châm. Vì vậy, Plato quan niệm rằng, khi linh hồn của chúng ta hạ thế từ thiên đường, chúng đã bị chia ra, để rồi khi ta gặp người bạn đời của mình “lần đầu tiên” trong cuộc đời, đó chính là một sự tái hợp. Tuy nhiên cần chú ý rằng, những cách giải thích siêu hình này về tình yêu từ cái nhìn đầu tiên cũng có ẩn chứa một sự trải nghiệm trực tiếp với người còn lại [đã gặp ở tiền kiếp, hay là hai nửa của một thực thể, tức luôn có một mối liên kết nào đó giữa hai người trước đó, bất kể là ở dạng linh hồn hay tiền kiếp – ND]. Như thế, thậm chí nếu chấp nhận những cách giải thích đó đi chăng nữa, chúng ta phải thừa nhận rằng tình yêu từ cái nhìn đầu tiên không thật sự là “cái nhìn đầu tiên”. Có một sự thân quen nào đó; chúng ta không thể chỉ thấy ai đó rồi sau đó, tự động yêu họ. Có một thứ mà Betrand Russell đã gọi là “tri thức của cảm giác thân quen” (“knowledge by acquaintance”). Chúng ta phải trực tiếp quen biết người khác theo một cách nào đó trước khi chúng ta có tình cảm với họ. Continue reading

Khoa học phía sau hiện tượng Deja Vu

Thậm chí những người lý trí nhất trong số chúng ta cũng có thể trải nghiệm hiện tượng này: bạn đang nói chuyện phím với bạn bè hay khám phá một nơi bạn chưa từng đặt chân đến khi đột nhiên một cảm giác lướt qua trong bạn: bạn đã trải qua chính xác thời khắc này trước đây. Sự tương đồng thật sự quá mức, và điều đó đúng ra không phải là tương đồng gì cả. Cảm giác đó trở nên mạnh hơn rồi giảm dần, sau đó hoàn toàn biến mất, tất cả chỉ trong một vài giây. Có phải bạn đã nhìn thấy tương lai? Khả năng nhiều là bạn không thể xác định chính xác bạn đã trải ngiệm tình huống trong linh cảm đó ở thời điểm nào trong quá khứ.

Deja vu là một từ tiếng Pháp có nghĩa đen là “đã thấy” và được thống kê xuất hiện ở 60-70% dân số, thường ở độ tuổi từ 15 đến 25. Vì Deja vu diễn ra rất bất thường và rất nhanh – và xảy ra ở những người không có bệnh tật gì – khiến cho nó rất khó để nghiên cứu, và tại sao cũng như như thế nào mà hiện tượng xảy ra cũng chỉ là vấn đề suy đoán. Các nhà phân tích tâm lý có lẽ xem nó là đặc trưng cho cách suy nghĩ có tính ao ước; một số nhà tâm lý lại cho rằng sự kết nối nhầm lẫn của bộ não làm cho ta lầm tưởng hiện tại là quá khứ. Còn những nhà hỗ trợ tâm lý thậm chí tin rằng hiện tượng này có liên quan đến trải nghiệm của tiền kiếp. Vậy chúng ta biết được gì chắc chắn về những gì thật sự xảy ra trong một khoảnh khắc Deja vu?

Một số nhà nghiên cứu suy đoán rằng Deja vu xảy ra khi có một sự kết nối nhầm lẫn ở não trong suốt quá trình nó cố gắng không ngừng để tạo ra những nhận thức trọn vẹn về thế giới của chúng ta với rất ít thông tin đầu vào. Hãy nghĩ về ký ức: ký ức chỉ cần một chút thông tin của các giác quan (như mùi hương quen thuộc chẳng hạn) để đem đến một sự gợi nhớ rất chi tiết. Deja vu được cho rằng là một dạng xáo trộn giữa thông tin đầu vào của các giác quan và kết quả dầu ra của quá trình gọi lại ký ức. Tuy nhiên, lý thuyết mơ hồ này không giải thích tại sao khoảnh khắc ta trải nghiệm trong Deja vu không nhất thiết phải là một sự kiện trong quá khứ thật sự.

Một lý thuyết khác có liên quan cho rằng Deja vu là một khoảnh khắc hoạt động không đúng giữa các mạch trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn trong não. Các nhà nghiên cứu giả thuyết rằng thông tin chúng ta có được từ môi trường xung quanh có thể bị “rò rỉ” và đi tắt không đúng chu trình đến khu vực trí nhớ dài hạn thay vì trí nhớ ngắn hạn, bỏ qua cơ chế vận chuyển đến vùng lưu trữ như thông thường. Khi một khoảnh khắc được trải nghiệm – và hiện tại khoảnh khắc này mới này ở vùng trí nhớ ngắn hạn – nó có cảm giác như chúng ta đang gợi nhớ lại ký ức trong quá khứ xa xôi.

Một giả thuyết tương tự xem Deja vu là một sự sai lệch về mặt thời gian; trong khi chúng ta nhận thức một khoảnh khắc, các thông tin giác quan đồng thời được chuyển hướng đến khu lưu trữ trí nhớ dài hạn, tạo nên một sự trì hoãn và có lẽ, cảm giác không yên rằng chúng ta đã trải nghiệm khoảnh khắc đó trước đây.

Một đặc điểm chung của tất cả những trải nghiệm Deja vu là: chúng ta hoàn toàn ý thức được chúng đang diễn ra, có nghĩa là không cần toàn bộ não bộ để tạo ra hiện tượng này.

Qua nhiều năm, các nhà nghiên cứu đã xác định chính xác được những xáo động của vùng giữa thuỳ thái dương (medial temporal lobe) là “thủ phạm” phía sau hiện tượng Deja vu. Những nghiên cứu ở các bệnh nhân động kinh được tiến hành bằng các điện cực cấy vào não chứng minh rằng kích thích ở vùng vỏ não xung quanh khe Rhinal (rhinal cortex) có thể thực sự tạo nên một khoảnh khắc Deja vu.

Một nghiên cứu đăng vào số tháng 3 của tạp chí Clinical Neurophysiology đã phân tích các mẫu tín hiệu điện não đồ từ các vùng vỏ não xung quanh khe Rhinal, hồi hải mã (có liên quan đến quá trình hình thành ký ức) và hồi hạnh nhân (liên quan đến cảm xúc) ở các bệnh nhân động kinh, những người có thể được kích thích điện não để trải nghiệm Deja vu.

Các nhà nghiên cứu (từ Pháp! – còn ai tốt hơn?) nhận thấy rằng các sự phát tín hiệu điện neuron một cách đồng bộ giữa vùng vỏ quanh khe Rhinal với hồi hải mã hay hồi hạnh nhân được tăng cường khi kích thích để tạo ra hiện tượng Deja vu. Đièu này có nghĩa là một sự đồng kích thích trùng hợp nào đó ở các cấu trúc vùng giữa thuỳ thái dương có thể “kéo cò” cho sự hoạt hoá hệ thống tìm gọi ký ức.

Trong lúc nguyên nhân và cơ chế chính xác của hiện tượng Deja vu vẫn còn là một bí ẩn, đừng lo lắng – nếu nó xảy ra với bạn, thì bạn vẫn hoàn toàn bình thường. Thực ra, hãy thả mình trong giây phút đó và cảm nhận cái cảm giác lạ lùng đó lướt qua bạn. Hay cứ giả như mình là một nhà tiên tri.

Trần Đình Tuấn dịch

Nguồn: http://www.psychologytoday.com/blog/brain-babble/201208/the-neuroscience-d-j-vu

J. E. Cirlot – Biểu tượng của sói

Biểu tượng của sói 

Biểu tượng cho lòng can trường của người La Mã và Ai Cập. Nó còn xuất hiện như kẻ  canh gác trong vô số các đền đài (8). Trong thần thoại Bắc Âu, chúng ta được kể về con sói quỷ Fenrir đã phá hủy những chiếc cùm và xích sắt  rồi cuối cùng bị giam cầm nơi tận cùng  lòng đất. Người ta còn nói rằng, cùng với thời kì thoái trào của các vị thần – kết thúc của thế giới – con quỷ cũng sẽ thoát khỏi nhà ngục và sau đó nhai ngấu ngiến vầng thái dương. Ở điểm này, vì thế, sói dường như là biểu tượng cho nguyên lý của cái ác, trong khuôn mẫu của những ý tưởng có liên quan một cách không thể hoài nghi được với thuyết sáng thế của phái Ngộ-đạo. Thần thoại Bắc Âu giả định rằng trật tự vũ trụ là khả thể chỉ nhờ việc  khống chế tạm thời sự hỗn độn và khả năng phá huỷ của vũ trụ – một khả năng mà (thông qua quá trình của Sự đảo ngược biểu tượng) cuối cùng phải giành đươc thắng lợi. Thần thoại đó cũng nối kết với tất cả những ý niệm khác về sự hủy diệt  cuối cùng của thế giới, dù bằng nước hay  bằng lửa.

Trịnh Thìn dịch

Chú thích của tác giả:

(8) B. G. P. Diccionario universal de la mitología. Barcelona, 1835

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Wolf” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971