The Paris Review – Nghệ thuật Hư cấu số 39: Jorge Luis Borges

 Phỏng vấn do Ronald Christ thực hiện

Buổi phỏng vấn này thực hiện vào tháng Bảy năm 1966, trong buổi chuyện trò với Borges tại văn phòng của ông ở Biblioteca Nacional (Thư viện Quốc gia Argentina), nơi ông làm giám đốc. Căn phòng, làm nhớ lại một Buenos Aires xưa cũ, thực sự không phải là văn phòng gì cả, mà nó là một gian phòng rộng lớn, trang hoàng lộng lẫy với trần nhà cao, ngụ trong một thư viện vừa mới sửa sang lại. Treo trên tường là những tờ giấy chứng nhận và các trích dẫn văn chương – nhưng lại được treo quá cao khó mà đọc được, như thể không muốn ai nhìn thấy. Cũng có vài bản khắc acid của Piranesi, làm nhớ lại tàn tích như cơn mộng dữ của Piranesi trong truyện “Kẻ bất tử” của Borges. Phía trên lò sưởi là tấm chân dung lớn; khi tôi hỏi cô thư kí của Borges, cô Susana Quinteros, về bức chân dung ấy, thì cô đáp lại bằng cung cách rất phù hợp, dù là tiếng vang vọng vô tình, theo kiểu Borges đơn giản: “Không quan trọng gì đâu. Nó là bức tái chế lại một bức hoạ khác thôi.”

Ở góc chéo đối diện trong căn phòng là hai kệ sách lớn, có thể xoay vòng, và cô Quinteros cho biết chúng chứa những cuốn sách mà Borges thường xuyên tra cứu, tất cả đều được sắp xếp theo trật tự nhất định và không bao giờ thay đổi để Borges, vốn gần như mù loà, có thể tìm thấy chúng theo vị trí và kích cỡ cuốn sách. Chẳng hạn, mấy cuốn từ điển được sắp cạnh nhau, trong đó có cuốn Webster’s Encyclopedic Dictionary of the English Language đã cũ sờn, được đóng gáy chắc chắn và một cuốn từ điển Anglo-Saxon cũng sờn cũ y như thế. Những cuốn khác, từ mấy cuốn bằng Đức ngữ và Anh ngữ về thần học và triết học cho đến văn chương và lịch sử, trong số đó có cuốn Pelican Guide to English Literature hoàn chỉnh, cuốn Selected Writings của Francis Bacon ấn bản nhà Modern Library, cuốn Poetic Edda của Hollander, cuốn The Poems of Catullus, cuốn Geometry of Four Dimensions của Forsyth, vài cuốn trong bộ English Classics (Kinh điển Anh ngữ) của Harrap, cuốn The Conspiracy of Pontiac của Parkman, và ấn bản Beowulf của nhà Chambers. Cô Quinteros cho biết, gần đây Borges đang đọc cuốn The American Heritage Picture History of the Civil War, mà mới đêm trước thì ông đã mang cuốn The Life of Mahomet của Washington Iriving về nhà mình, và ở đó mẹ ông, nay đã chín mươi, đọc cuốn đó cho ông nghe. Continue reading

Advertisements

Science Daily – Giờ đi ngủ thất thường có thể hạn chế năng lực trí não ở trẻ nhỏ

Giờ đi ngủ hàng đêm thất thường khi còn nhỏ dường như sẽ làm hạn chế năng lực trí não ở trẻ. Đây là kết quả từ một nghiên cứu trên diện rộng suốt quãng thời gian dài, được công bố trên Journal of Epidemiology and Community Health (Tập san về Dịch tễ học và Sức khoẻ Cộng đồng).

 Xét theo tầm quan trọng của sự phát triển thuở nhỏ đối với sức khoẻ sau này của trẻ, các nhà nghiên cứu cho biết chuyện giờ giấc ngủ thất thường có thể dẫn tới những ảnh hưởng dây chuyền suốt cả quãng đời trẻ.

Các tác giả xem xét liệu giờ đi ngủ ở giai đoạn đầu tuổi thơ có liên hệ gì đến năng lực trí não không, và họ nghiên cứu trên 11,000 trẻ bảy tuổi, đây là một phần trong UK Millennium Cohort Study (Nghiên cứu Đoàn hệ Thiên niên kỉ Anh quốc – MCS).

MCS là nghiên cứu dài hạn tiêu biểu tầm quốc gia về trẻ con Anh quốc chào đời trong khoảng thời gian từ tháng Chín năm 2000 đến tháng Một năm 2002, và nghiên cứu này dựa trên những khảo sát và những chuyến ghé thăm định kì tới các gia đình lúc trẻ được 3, 5, và 7 tuổi, nhằm biết được lịch sinh hoạt gia đình, bao gồm cả giờ đi ngủ.

Các tác giả nghiên cứu muốn biết liệu giờ đi ngủ của trẻ, và tính nhất quán của giờ đi ngủ, liệu có tác động nào đến khả năng thể hiện trí tuệ, được đánh giá thông qua điểm số bài trắc nghiệm chuẩn dành cho việc đọc sách, môn toán, và khả năng nhận thức không gian.

Và họ muốn biết liệu những ảnh hưởng đó có tích tụ lại hay không và/hoặc liệu có bất kì giai đoạn đặc biệt nào trong suốt thời kì đầu tuổi thơ quan trọng hơn những giai đoạn khác. Continue reading

Ferric C. Fang & Arturo Casadevall – Tại sao ta lại gian lận

 

Ferric C. Fang & Arturo Casadevall

Tại sao ta lại gian lận

Duy Đoàn chuyển ngữ

Tay đua xe đạp Lance Armstrong đã lên tiếng xin lỗi vì dùng chất kích thích cải thiện phong độ để giành được bảy danh hiệu Tour de France. Anh ta cho việc gian lận này là do lòng kiên quyết “chiến thắng bằng mọi giá”. Nhà tâm lí học Marc Hauser tại trường Harvard University, người từng viết bài báo nhan đề “Costs of Deception: Cheaters Are Purnished…” hiện đang thất nghiệp sau công việc ở U.S. Office of Research Integrity (Sở liêm chính trong nghiên cứu tại Hoa-kì), kết luận rằng ông đã “nguỵ tạo dữ liệu, chi phối kết quả ở nhiều thí nghiệm khác nhau, và mô tả cách thực hiện những nghiên cứu theo những phương cách thực sự thiếu chính xác.” Mười sáu ngân hàng đã đồng ý trả tiền phạt hoặc đang bị điều tra vụ thao túng Libor, một dạng lãi suất mà các ngân hàng có thể dùng để vay tiền từ những ngân hàng khác, và đây được coi là vụ lừa đảo tài chính lớn nhất trong lịch sử thị trường.

Những trường hợp này chỉ là một phần trong dòng chảy dường như bất tận các vụ bê bối gian lận xuất hiện trên báo đài, gây tác động đối với thể thao, khoa học, giáo dục, tài chính và những địa hạt khác. Mặc dù thật dễ chịu khi nghĩ rằng hầu hết mọi người về căn bản đều thành thật, nhưng việc gian lận – được định nghĩa là hành vi thiếu trung thực nhằm đạt lợi ích nào đó – thực sự là hiện tượng phổ biến đáng kinh ngạc. Theo khảo sát năm 1997, giáo sư ngành quản lí Donald McCabe thuộc trường Rutgers University và Linda da Klebe Treviño, giáo sư về hành vi tổ chức ở trường Pennsylvania State University, đã tiết lộ rằng khoảng ba phần tư trong só 1,800 sinh viên ở chín trường đại học bang đã thừa nhận gian lận trong thi cử hoặc trong những bài luận trên lớp. Năm 2005, nhà xã hội học Brian Martinson thuộc Health Partners Research Foundation ở Bloomington, Minnesotta và những đồng nghiệp của ông đã báo cáo rằng một phần ba số khoa học gia đã thú nhận có can dự vào những công việc nghiên cứu khả nghi trong suốt ba năm qua.

Gian lận không giới hạn ở con người; nó còn được ghi nhận trong khắp thế giới sự sống, ở bất kì nơi đâu mà có sự cạnh tranh giành lấy những nguồn tài nguyên hạn chế. Mặc dù đâu đâu cũng có, nhưng hành vi gian lận có thể gây tổn hại rất nhiều cho cá nhân và xã hội. Những kẻ gian lận bị bêu xấu và có thể mất công ăn việc làm. Công việc lừa đảo làm lãng phí nguồn tài nguyên. Những người theo luật lại bị tước đoạt phần thưởng mà họ xứng đáng có. Còn có những tổn thất khác ngoài ý muốn. Những đồng đội của Armstrong bị buộc phải làm theo kế hoạch dùng thuốc kích thích và bị đe doạ khi họ cố vạch trần sự thật. Những nghiên cứu khoa học thiếu trung thực có thể làm những nhà nghiên cứu khác lầm đường lạc lối, có thể dẫn đến những chính sách công sai lầm và có thể gây hại cho bệnh nhân khi những quyết định lâm sàng lại dựa trên nguồn thông tin sai sót. Continue reading

Paris Review – Nghệ thuật hư cấu số 195: Phỏng vấn Oe Kenzaburo,

Người phỏng vấn: Sarah Fay

Oe Kenzaburo dành cả cuộc đời để khai thác bất cứ chủ đề nào nghiêm túc – nạn nhân của vụ thả bom nguyên tử ở Hiroshima, những cuộc đấu tranh của người dân Okinawa, thử thách đối với người khuyết tật, kỷ luật trong đời sống học thuật – trong khi bản thân ông bề ngoài lại chả nghiêm túc chút nào! Mặc dù rất nổi tiếng tại Nhật Bản  như một nhà hoạt động phá bĩnh cũng như là một trong những nhà văn thành danh nhất của quốc gia nhưng về phương diện cá nhân Oe, hơn thế, lại là người hài hước đầy mê hoặc. Lúc nào cũng giản dị và bình thản, ông ăn vận trong bộ sơ-mi thể thao, chuyển động không ngừng nghỉ và cười đùa một cách thoải mái. (Henry Kissinger, người ủng hộ to lớn cho những gì mà Oe chống lại, có lần đã bình phẩm về “nụ cười quỉ quái” của ông). Nhà của Oe,  nơi ông dành hầu hết thời gian ngồi trong phòng khách trên một chiếc ghế tựa  bên cạnh là những bản thảo chép tay, sách vở, và một núi những đĩa CD nhạc jazz và nhạc cổ điển, thì cũng thoải mái và khiêm tốn như con người ông. Continue reading

BFI – 10 bộ phim tuyệt vời về mùa hè

Tác giả: Samuel Wigley

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Hè tới, và cuộc sống trông dễ chịu. Monsieur Hulot khởi hành trên chiếc xe ọp ẹp để đi du lịch ở bãi biển (Les Vacances de M. Hulot, 1953). Mười hai vị bồi thẩm đoàn do dự đã toát mồ hôi ướt đẫm hết áo trong một phiên toà ở New York (12 Angry Men, 1956). Sandra Dee đánh bóng tấm ván lướt sóng của mình (Gidget, 1959)…

Đây là quãng thời gian nóng nực, Jack Lemmon và Walter Matthau cố gắng xoa dịu cơn nóng bằng cách mở cửa tủ lạnh (The Odd Couple, 1967). Julie cứ theo Céline sau khi thấy cô nàng quẩn quanh đó với vẻ bối rối ở khu công viên nọ vào một buổi chiều huyền ảo tại Paris (Céline and Julie Go Boating, 1974). River Phoenix và những người bạn xuất phát đi tìm phần cơ thể bị thất lạc của cậu bé nọ (Stand by Me, 1986). Jesse Eisenberg nén lòng kiêu hãnh mình lại để làm công việc thời vụ tại một công viên giải trí ở địa phương (Adventureland, 20009)…

Với ý tưởng đưa mùa hè lên màn ảnh, một loạt những hình ảnh như thế ồ ạt xuất hiện ra, đó là những bộ phim thể loại tiệc tùng trên bãi biển hồi thập niên 1950 xô đẩy nhau với những cảnh nô đùa theo đợt sóng mới ở vùng nông thôn Pháp (Jules et Jim, 1962; Pierrot le fou, 1965). Có nhiều bộ phim dành cho thanh thiếu niên nói về lứa tuổi sắp trưởng thành suốt kì nghỉ hè dài đằng đẵng, và những bộ phim nói về tâm trạng người ta trở nên cáu bẳn khi phải chịu cái nóng oi bức nơi những thành phố lớn (Dog Day Afternoon, 1975; Falling Down, 1992). Có những bộ phim diễn ra ở phương đông, với bối cảnh nhiệt đới ở Việt-nam và Thái-lan, nơi đó người ta dễ có cảm giác nóng ẩm đến mức lúc nào bạn cũng đầm đìa mồ hôi (At the Height of Summer, 2000; Blisfully Yours, 2002).

Danh sách này liệt kê những bộ phim tuyệt vời về mùa hè và nó không hẳn là danh sách chung quyết: những bộ phim mùa hè giống như những kì nghỉ hè vậy, ai cũng có sở thích riêng. Nhưng đây là 10 bộ phim có thể làm bạn cảm giác được sức nóng của mùa hè, cảm giác được những buổi ban ngày dài đằng đẵng và những buổi đêm oi bức, cùng cảm giác về tự do và những khả năng có thể xảy ra trong đời. Continue reading

Clarice Lispector – Con gà

Clarice Lispector

Con gà

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh

Đó là con gà mái cho buổi ăn trưa Chủ nhật. Vẫn còn sống, bởi vì lúc ấy mới chín giờ sáng thôi. Nó trông khá yên bình. Nó rúc mình vào góc bếp từ hôm thứ bảy. Nó không nhìn ai cả và không ai chú ý gì đến nó hết. Thậm chí khi họ chọn con gà này, cảm nhận sự thân quen nơi cơ thể nó bằng vẻ thờ ơ, họ không thể cho biết nó đầy đặn hay ốm. Không ai từng đoán được con gà cũng có cảm giác lo âu.

Do đó, thật ngạc nhiên khi họ thấy nó dang rộng đôi cánh ngắn ngủn nhiều lông của mình, phồng ngực lên, và sau hai ba lần cố gắng, nó bay lên bức tường ở sân sau. Nó vẫn còn chần chừ một thoáng – đủ thời gian để người đầu bếp la toáng lên – và ngay sau đó nó đã ở sân hiên nhà hàng xóm, rồi từ nơi đó, bằng một động tác bay vụng về khác, nó lên tới được mái nhà. Ở trên đó con gà, như một món trang trí, đậu tạm nghỉ với vẻ do dự lúc thì đứng bằng chân này, lúc thì chân kia. Gia đình nhà đó hối hả tụ lại và với vẻ sửng sốt họ thấy bữa trưa của mình bật lên trên nền ống khói. Ông chủ nhà, tự nhắc mình về hai chuyện cần phải làm là đôi lúc nên chơi thể thao và cho gia đình một bữa trưa, xuất hiện sặc sỡ khi đang mặc quần bơi và quyết đi theo lối do con gà kia vạch ra: bằng những cú nhảy thận trọng, ông lên được mái nhà nơi có con gà đang chần chừ và run run, rồi nó cấp tốc chọn con đường khác. Màn đuổi nhau giờ đây càng quyết liệt hơn. Từ mái nhà này sang mái nhà nọ, băng qua mấy khu nhà dọc theo con đường. Hầu như không quen với việc tranh đấu tàn bạo thế này để sống còn, con gà phải tự quyết định con đường mình phải theo mà không có sự trợ giúp nào từ đồng loại. Tuy nhiên, người đàn ông nọ lại là kẻ đi săn bẩm sinh. Và bất kể con mồi khốn đốn ra sao, tiếng hò reo chiến thắng sắp sửa diễn ra. Continue reading

Charles McGrath – Alice Munro buông bút để hoà vào cõi sống

 

Charles McGrath

Alice Munro buông bút để hoà vào cõi sống

Duy Đoàn chuyển ngữ  

 

Alice Munro, cây bút truyện ngắn được nhiều người ca ngợi – “Chekhov của chúng ta” như cách gọi của Cynthia Ozick – người đoạt giải Man Booker International Prize và gần như mọi giải thưởng văn chương Bắc Mĩ quan trọng mà bà được chọn, khi nhận một giải thưởng văn chương tại Toronto tháng rồi, đã nói với người phỏng vấn một tờ báo rằng, “Có thể tôi sẽ không viết nữa”.

Bà Munro, sắp sửa bước sang tuổi 82, trước đây đã từng nói thế này. Hồi năm 2006, bà nói với một cây bút của tờ Toronto Globe and Mail, “Tôi không biết liệu mình còn sức lực để làm chuyện này nữa không”. Sau đó bà tiếp tục xuất bản thêm tập truyện khác, tập truyện thứ mười bốn có nhan đề “Dear Life”. Nó được công bố hồi mùa thu năm rồi, và những nhà điểm sách, như thường lệ, nhận xét về cách trình bày sâu sắc về những chủ đề như sự ảm đạm nơi cuộc sống ở thị trấn nhỏ bé; sức mạnh phun trào, có khả năng chuyển hoá của dục tính; và những người đàn bà phiền muộn tìm lối vào cõi sống do đàn ông cai quản. Continue reading

11 bộ phim tuyệt vời về tuổi thơ

(Theo BFI)

Cría cuervos (1976)

Đạo diễn: Carlos Saura

Cría cuervos

Diễn viên người Tây-ban-nha Ana Torrent có một chỗ đứng ý nghĩa trong lịch sử điện ảnh – với vai diễn là một đứa trẻ, đôi mắt mở to mà lại chất chứa nét bí ẩn với vẻ buồn rầu, bà góp mặt trong hai bộ phim vốn được xem là những thước phim bất hủ nhất khơi gợi về thời thơ ấu.

Lúc bảy tuổi, trong bộ phim mê hoặc lòng người The Spirit of the Beehive (1973) của Victor Erice, bà đóng vai một cô bé khép kín trong một gia đình vùng Castile, cô bé này trở nên thích thú, thậm chí còn bị ám ảnh trước con quái vật của Boris Karloff sau khi xem trên màn ảnh phiên bản phim năm 1931 của Frankenstein.

Ba năm sau, trong phim Cría cuervos (1976, nhan đề tiếng Anh là “Raise Ravens”), Carlos Saura đã cho bà đóng vai một đứa trẻ bị ám ảnh khác, Ana, một cô bé 8 tuổi phải đương đầu với cái chết của người mẹ. Khi tạo dựng một thế giới không có sự hiện diện của những đứa bé dễ thương hay những cảnh tượng uỷ mị về tuổi thơ vốn xuất hiện trong nhiều bộ phim Hollywood, như Pollyanna (1960), thì bộ phim của Saura đã nhận thấy được thời thơ ấu mỏng manh phải vật lộn với tổn thương và mất mát, và bị vây quanh bởi nhiều suy nghĩ và xúc cảm lạ thường.

Tựa như người đồng hương Luis Buñuel, Saura đan xen huyễn tưởng và thực tại trong bộ phim của mình, không bao giờ báo hiệu rõ ràng khi nào thì cái này trở thành cái kia. Đối với Ana, luôn có ý nghĩ là mình đã chuốc độc người cha quan hệ lăng nhăng, thì những lần tâm trí bay bổng và mỗi chuyến trở lại u tối của trí tưởng tượng cô bé trông mãnh liệt và hiển hiện như nhà cửa trong khu phố hay như những món đồ nội thất trong căn nhà ảm đạm của giới tư sản mà cô bé đang ở.

Một Ana tò mò, hay cáu kỉnh, u buồn, thích vui đùa là một sự hiện diện thu hút người xem, giống như một trong những đứa trẻ kì dị, phức tạp mà ta gặp được ngoài đời thực chứ không phải một bức tranh lí tưởng về những nét dễ thương và tràn ngập ánh sáng.

Sau đây là 10 bản khắc hoạ điện ảnh tuyệt vời khác về tuổi thơ trên toàn thế giới. Chúng đầy ắp niềm vui mà cũng hàm chứa nhiều thách thức thời tuổi nhỏ, những bộ phim này nói về tuổi thơ chứ không phải là những bộ phim dành cho trẻ em – mỗi bộ phim đều cho thấy làm thế nào mà số phận, tình bạn, sự bất định và những bí ẩn của thế giới người lớn lại định hình và tô vẽ nên những năm tháng ấu thơ của chúng ta.  Continue reading

Vladimir Nabokov – Chuyện dịch thuật

 

Vladimir Nabokov

Chuyện dịch thuật

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Ta có thể nhận ra ba cấp độ sai trái trong cõi kì dị nơi xảy ra những cuộc luân hồi từ ngữ. Đầu tiên, cấp độ thấp hơn hết thảy, bao gồm những lỗi hiển nhiên, nguyên nhân là do thiếu hiểu biết hoặc có những tri thức lầm lạc. Đây là nhược điểm thuần tuý con người và do vậy có thể thứ tha được. Bước kế tiếp dẫn xuống Địa ngục xảy ra ở dịch giả nào cố tình bỏ qua những từ ngữ hay những đoạn văn mà họ không bận tâm đến chuyện hiểu hoặc những chỗ đó có vẻ tối nghĩa và tục tĩu đối với những độc giả mà họ mơ hồ hình dung trong đầu; dịch giả chấp nhận cái nhìn trống rỗng cuốn từ điển trao cho mình mà không một chút băn khoăn nào; hoặc đem chuyện tìm tòi nghiên cứu ra làm đối tượng của sự cứng nhắc: việc họ sẵn sàng biết ít hơn tác giả cũng ngang với việc họ nghĩ rằng mình biết nhiều hơn. Mức độ thứ ba, tệ nhất, của sự táng tận lương tâm sẽ đạt tới được khi một kiệt tác được cán và đập dẹp ra thành một dạng hình thù, tô điểm đẹp đẽ một cách ghê tởm theo một kiểu cách nhằm thuận theo những quan điểm và định kiến của một công chúng cụ thể nào đó. Đây là tội ác, cần phải trừng phạt bằng cách cho khoá chân tay vào cột gỗ giống như trừng phạt bọn đạo văn ở cái thời người ta bắt đầu dùng khoá cài giày.

Những sai lầm ngớ ngẩn trong hạng mục đầu tiên tiếp theo đó còn được chia thành hai lớp. Việc không đủ vốn kiến thức ngoại ngữ trong văn bản có thể biến một thành ngữ quen thuộc thành một phát biển đáng chú ý nào đó mà chính tác giả thực sự không bao giờ có ý tạo ra. “Bien être general” [nghĩa tiếng Anh là “general well-being” – “khoẻ mạnh toàn diện” ] trở thành câu khẳng quyết hùng hồn “it is good to be a general” [“thật tốt khi là một vị tướng”]; mà đám đông dũng cảm còn cho là ngọc quý, làm sinh ra vị dịch giả tiếng Pháp của “Hamlet”. Tương tự vậy trong bản tiếng Đức của Chekhov, một vị giáo viên nọ, ngay khi ông bước vào lớp học, bị buộc phải chúi đầu vào “tờ báo của ông,” điều này khiến cho nhà phê bình khoa trương nào đó bình luận về hoàn cảnh thê lương cho việc dạy dỗ công chúng ở nước Nga thời tiền Xô-viết. Nhưng Chekhov thực thụ chỉ đơn giản đề cập “cuốn sổ điểm” của lớp mà giáo viên sẽ phải mở ra để kiểm tra bài học, điểm số và những học sinh vắng mặt. Và ngược lại, những từ ngữ vô hại trong một cuốn tiểu thuyết tiếng Anh như “first night” [“đêm đầu tiên”] hay “public house” [“quán rượu”] thì trong bản dịch tiếng Nga lại trở thành “đêm thành hôn” và “nhà thổ”. Những ví dụ đơn giản này cũng đủ rồi. Chúng buồn cười và chói tai, nhưng chúng không chứa đựng mục đích nguy hại nào cả; và phần lớn câu chữ bóp méo thế này vẫn có thể tạo ra ý nghĩa nào đó trong bối cảnh nguyên gốc. Continue reading

Gương mặt của những nhân vật đồ chơi Lego

Lego heads.

Ảnh: Holly Allen/Slate

Lego là một trong những nhãn hiệu đồ chơi nổi tiếng nhất hiện nay. Trong suốt khoảng thời gian gần 40 năm kể từ lần đầu tiên xuất hiện, các nhân vật Lego đã trải qua không ít sự thay đổi.  Gần đây, đội ngũ các chuyên gia thuộc trường University of Canterbury tại New Zealand đã tiến hành nghiên cứu gương mặt của các nhân vật đồ chơi Lego, và họ phát hiện ra tỉ lệ các gương mặt vui vẻ đang có xu hướng giảm dần, trong khi các gương mặt giận dữ lại tăng dần qua năm tháng.

Mô tả nghiên cứu

Christoph Bartneck, trưởng nhóm nghiên cứu, đã trình bày cách thực hiện cuộc nghiên cứu này:

  • “Chúng tôi chụp hình toàn bộ 3,655 nhân vật Lego được sản xuất trong khoảng thời gian từ năm 1975 đến 2010. Chúng tôi xác định 628 gương mặt khác nhau rồi cắt chúng ra riêng khỏi các bức ảnh.”
  • “Chúng tôi lập ra bảng câu hỏi trực tuyến, trưng ra 628 gương mặt đó cùng 94 nhân vật Lego. Sau đó chúng tôi yêu cầu những người tham gia thí nghiệm [264 người] đánh giá mức biểu hiện cảm xúc…”
  • “Chúng tôi yêu cầu những người tham gia đánh giá theo một trong sáu mức độ được dán nhãn như sau: giận dữ, ghê tởm, sợ hãi, vui vẻ, buồn bã, và ngạc nhiên.”

Kết quả:

  • 324 gương mặt được đánh giá là “vui vẻ”.
  • 192 gương mặt “giận dữ”
  • 49 “buồn bã”
  • 28 gương mặt dường như biểu lộ sự “ghê tởm”.
  • 23 gương mặt được xếp vào loại “ngạc nhiên”.
  • 11 gương mặt được coi là “sợ hãi”.

Có thể thấy số gương mặt “vui vẻ” chỉ nhỉnh hơn một nửa. Trong gần 40 năm, số lượng các gương mặt Lego khác nhau tăng dần qua năm tháng, từ con số chưa đầy 5 gương mặt cho mỗi năm trong khoảng thời gian trước năm 1988, tăng đến hơn 300 gương mặt vào năm 2010. Đồng thời, tỉ lệ số gương mặt vui vẻ giảm dần, và tăng dần số lượng những gương mặt riêng biệt với nhiều dạng cảm xúc khác nhau. Continue reading