J. E. Cirlot – Tính biểu tượng của tình yêu

 

J. E. Cirlot

Tính biểu tượng của tình yêu

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Jack Sage

Những biểu tượng truyền thống của tình yêu luôn biểu thị tính nhị nguyên trong đó hai yếu tố đối lập nhau dù vậy lại hoà hợp nhau. Do đó, lingam của Ấn-độ, Âm-Dương của Trung-hoa, hoặc ngay cả Thập giá, là thứ ở đó thanh đứng chính là trục thế giới còn thanh ngang là thế giới các hiện tượng. Nói cách khác, chúng là những biểu tượng của sự giao hội, hoặc biểu thị của mục tiêu tối hậu của tình yêu đích thực: việc loại bỏ tính nhị nguyên và loại bỏ sự chia tách, hợp nhất chúng lại ở vùng ‘trung tâm’ huyền học, cái ‘trung dung bất biến’ của triết lí Viễn Đông. Hoa hồng, hoa sen, trái tim, điểm bức xạ – đây là những biểu tượng thường gặp nhất của trung tâm ẩn tàng này; ‘ẩn tàng’ bởi vì nó không hiện hữu trong không gian, mặc dù người ta hình dung là nó có, nhưng nó biểu hiện cho trạng thái đạt được thông qua việc loại bỏ sự chia tách. Hành vi yêu theo sinh học tự nó biểu thị ham muốn này để được chết ở trong đối tượng của ham muốn, để được hoà tan vào đó vốn là thứ đã được hoà tan rồi. Theo cuốn Book of Baruch: ‘lòng ham muốn tình ái và sự thoả mãn của nó chính là chìa khoá dẫn đến nguồn gốc thế gian. Sự thất vọng trong tình yêu và sự báo thù tiếp theo sau đó là gốc rỗ của hết thảy mọi cái ác và sự ích kỉ ở thế gian này. Toàn bộ lịch sử là tác phẩm của tình yêu. Các hữu thể theo đuổi và tìm kiếm nhau; chia tách và làm tổn thương nhau; và sau rốt, họ trở nên đau đớn tột cùng để rồi dẫn đến việc tiết dục.’ Hoặc có thể nói theo cách khác: Maya đối nghịch với Lilith, ảo tưởng được giữ cân bằng nhờ con mãng xà. Continue reading

Advertisements

[Điểm phim] 2030

Tác giả: Maggie Lee (tờ Variety)

2030 - film poster

Nước, nước khắp mọi nơi, nhưng gần như không có một giọt liền lạc. Một phim khoa học viễn tưởng, lãng mạn – hồi hộp với những cảnh quay lộng lẫy lấy bối cảnh ở Việt-nam thời tương lai vốn bị nhấn chìm một nửa trong nước biển do hậu quả của sự biến đổi sinh thái, 2030 tạo nên một thế giới biển cả lấp lánh, nhưng lại để những ý tưởng trôi bềnh bồng với phần dựng cốt truyện cường điệu và những khuôn sáo về thế giới không tưởng, nhấn chìm trong cả diễn trình là mối tình tay ba thoạt đầu đơn giản mà lại say đắm lòng người. Chính những chi tiết đầy hứng khởi về mặt thẩm mĩ này đã làm cho phim của Nguyễn Võ Nghiêm-minh lượn khắp các liên hoan phim và sau rốt công chiếu tại nhiều rạp ở Mĩ và châu Âu.

2030 - screenshot

Nguyễn Võ Nghiêm-minh là một kĩ sư hàng không, sinh ra tại Việt-nam, tiếp nhận nền giáo dục Pháp và Mĩ, ông làm bộ phim đầu tay vào năm 2006 với The Buffalo Boy, một phim cũng có mặt tại nhiều liên hoan phim. Mặc dù bộ phim đó lấy bối cảnh thời thực dân Pháp và mô tả thật xúc động mối quan hệ cha-con/thầy-trò, nhưng cái chất trữ tình cơ bản của nó vẫn còn vang vọng lại trong phim 2030 khi bộ phim này mô tả về một cặp nam nữ sống một cuộc đời thanh đạm mà như thiên đường tại nơi ở trôi nổi bồng bềnh của mình. Lần này, bộ phim chính kịch của ông (được chuyển thể từ truyện ngắn “Nước như nước mắt” của Nguyễn Ngọc Tư) được làm phong phú lên nhờ tập trung vào nhân vật nữ cuốn hút và can trường, người không bị oằn mình chịu khuất phục trước sự đe doạ hay trước việc khai trừ xã hội nhằm theo đuổi tình yêu và chân lí. Continue reading

Maria Popova – Bộ quần áo Chuyện-Nhỏ: Cuốn sách cũ đáng yêu dành cho trẻ em ít được biết đến của Sylvia Plath

Một câu truyện duyên dáng cảnh báo những tai hoạ của sự tự tri.

Sylvia Plath – nhà thơ trứ danh, nghệ sĩ ít được biết đến, người tình của vạn vật, người “say mê trải nghiệm” cảm xúc bị dồn nén, con người lãng mạn nồng nhiệt… và là một tác giả viết sách cho trẻ em? Với lòng âu yếm sách cũ dành cho trẻ em ít được biết đến của những tượng đài văn chương danh tiếng, tôi rất vui khi khám phá ra Bộ quần áo Chuyện-Nhỏ – một câu truyện duyên dáng dành cho trẻ em được Plath viết trước khi bà sinh con đầu lòng. Dù trong nhật kí của bà có ghi rằng câu truyện được viết vào ngày 26 tháng 09 năm 1959 hoặc ngay trước đó, nhưng đến tận tháng 03 năm 1996 nó mới được công bố trong lần xuất bản đầu tiên – và duy nhất đến nay, với những minh hoạ tuyệt vời của nhà thiết kế đồ hoạ và nghệ sĩ người Đức Rotraut Susanne Berner.

itdoesntmattersuit_plath_cover Continue reading

Mark van Vugt – Bạn sẽ phản bội mẹ của bạn để làm hài lòng một kẻ độc tài độc ác?

Nếu bạn đủ dũng cảm, hãy thử làm việc này. Đứng bất động ở một con phố mua sắm đông đúc và nhìn chằm chằm lên trời. Đến một lúc nào đó, một ai đó sẽ dừng lại và nhìn theo ánh mắt của bạn. Chẳng mấy chốc, những người khác sẽ dừng làm việc họ đang làm và cũng nhìn lên trời. Trước khi bạn biết đến nó, bạn đã không cố ý tập hợp một đám đông, tất cả cùng nhìn lên những đám mây. Bạn không chỉ tái tạo một thực nghiệm tâm lý học xã hội cổ điển mà bạn cũng đã tạo ra những người đi theo bạn.

Trong tất cả những tài liệu viết về sự lãnh đạo, cái thường bị quên đó là nó bắt đầu với 1 người đi theo.

Hành động đi theo một nhà lãnh đạo là sự mặc định trong bộ não của chúng ta và nó bắt đầu khi chúng ta còn là những đứa bé sơ sinh.

Trong những phút mới chào đời, em bé bắt đầu bắt chước biểu lộ khuôn mặt của mẹ chúng và bắt đầu từ 3 tháng tuổi, chúng sẽ nhìn theo ánh mắt của người mẹ. Từ khoảng 9 tháng, trẻ sẽ nhìn đối tượng mà mẹ chúng đang nhìn và nhìn lại mẹ để kiểm tra xem cả hai đều đang nhìn cùng đối tượng. Từ 14 tháng tuổi, chúng có thể điều khiển cái nhìn của mẹ đến một đối tượng, ví dụ bằng cách chỉ trỏ.

Do đó, mối quan hệ mẹ-trẻ sơ sinh là hình thức đầu tiên của mối quan hệ nhà lãnh đạo-người đi theo, và nó là một chiến lược sinh tồn.

Bác sỹ tâm thần người Anh John Bowlby cho rằng mối quan hệ mẹ-em bé, được củng cố bởi việc bắt chước và nhìn theo ánh mắt là một chiến lược tiến hóa để tăng khả năng sống sót của đứa bé vì nó phụ thuộc hoàn toàn vào người chăm sóc trong tuổi thơ ấu. Khi có điều gì đó bất ổn thì nó có thể để lại những vết thương tình cảm lâu dài.

Tôi được nhắc lại điều này khi đọc về câu chuyện bi kịch của người đàn ông trẻ Bắc Hàn tên Shin In Guen, anh ấy là tù nhân chính trị đầu tiên sinh ra ở một trại lao động Bắc Hàn, bỏ trốn khỏi đất nước. Hiện tại anh ấy sống ở Nam California và là một đại sứ cho một nhóm quyền con người quốc tế. Shin được sinh ra ở Trại 14 với một người mẹ và cha là tù nhân. Anh chưa bao giờ phát triển một mối quan hệ bố mẹ-con cái bình thường với họ. Những người cai tù về cơ bản là “bố mẹ” của anh vì anh phải tuân theo những quy tắc hà khắc của họ như: “Bất kỳ ai ăn cắp hoặc giấu thức ăn thì sẽ bị bắn ngay lập tức.” Khi còn là một cậu bé, anh ấy phải chứng kiến những sự đánh đập và hành hình công khai trong trại. Continue reading

Noam Shpancer – Cuộc cạnh tranh của phụ nữ

Điều gì xuất hiện khi bạn nghe những từ sau:

Cạnh tranh. Gây hấn. Bạo lực.

Nếu bạn nghĩ về từ “đàn ông” thì bạn có lẽ không đơn độc. Những đặc điểm trên thường được quy cho sự nam tính và tính chất đàn ông. Sự cạnh tranh, gây hấn và bạo lực giữa đàn ông thường chủ yếu hướng đến những người đàn ông khác: trên chiến trường, trên sân chơi, trong văn phòng hoặc trên đường phố. Charles Darwin từ lâu đã nhận thấy sự tồn tại của cuộc cạnh tranh trong cùng giới giữa những người đàn ông; ông cũng hiểu rằng mục đích cơ bản của tất cả những sự gây hấn này của đàn ông là để có được sự chú ý và đồng ý sinh con của phụ nữ.

Bị ảnh hưởng bởi Darwin, hầu hết các nghiên cứu về sự cạnh tranh trong cùng giới tập trung vào sự đấu tranh giữa những người đàn ông để giành quyền tiếp cận tình dục với phụ nữ. Chỉ đến những năm 80, khoa học mới bắt đầu nghiên cứu hiện tượng tương tự ở phụ nữ: cuộc cạnh tranh của phụ nữ để có một người đàn ông phù hợp. Nhiều nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy quan điểm truyền thống xem phụ nữ là thụ động và không có tính tranh đua là sai lầm. Hóa ra, phụ nữ cũng tham gia vào một cuộc cạnh tranh với những phụ nữ khác, dùng mánh khóe (có tính gây hấn) để chiếm được một người đàn ông phù hợp. Continue reading

Susan Krauss Whitbourne – 7 lời khuyên vĩ đại nhất của tâm lý học

Chúng ta đang sống trong thời đại mà những lời khuyên tâm lý học được cung cấp từ nhiều hình thức khác nhau. Cho dù đó là từ tạp chí Psychology Today, the American Psychological Association’s Help Center, bạn có thể tìm thấy những lời khuyên để cải thiện cuộc sống của bạn.

Có lẽ đây là một mục tiêu tham vọng khi muốn tóm tắt lời khuyên tâm lý học vĩ đại nhất trong một bài báo, nhưng dù sao đi nữa thì tôi sẽ thử. Chọn lọc từ nhiều lý thuyết và những phát hiện từ nghiên cứu, có một số sự thật cơ bản dường như nổi lên. Thử xem liệu bạn có đồng ý rằng 7 lời khuyên dựa trên tâm lý học sau có xứng đáng được gọi là “vĩ đại nhất” của tâm lý học hay không:

1. Bạn có thể biết được nhiều điều về con người bằng cách quan sát hành vi của họ.

Đối với một nhà tâm lý học hành vi, thông tin quan trọng nhất (nếu không nói là duy nhất) mà bạn cần để hiểu được một người là xem anh/cô ấy làm gì. Con người tiêu tiền vào những thứ họ thích, đầu tư thời gian của họ vào những công việc họ xem là chủ yếu cho hạnh phúc của họ, và bộc lộ tính cách của họ qua những cách họ đi và nói. Nếu bạn là một người có thói quen quan sát người khác, bạn có thể đóng vai Sherlock Holmes trong các trò chơi mà ở đó bạn suy luận một điều gì đó về một người bạn vừa mới gặp và kiểm tra xem liệu giả thiết của bạn có đúng. Sự thật là con người thường cố gắng để che giấu những động cơ thật của họ hoặc bị áp lực của hoàn cảnh phải hành động theo cách nào đó mà họ không có sự kiểm soát. Tuy nhiên, những sự lựa chọn mà con người đưa ra khi được trao sự tự do trọn vẹn có thể nói với bạn về những giá trị, sở thích và tính cách của họ.

2. Những sức mạnh bên trong có thể điều khiển hành vi bên ngoài.

Con người có thể bị điều khiển bởi những xung lực và những mâu thuẫn mà họ thậm chí không nhận ra. Freud (người khám phá ra vô thức) chỉ ra những xung lực bị kìm nén của chúng ta lọt ra ngoài thành hành vi quan sát được như thế nào (mà tôi thảo luận ở điểm 1). Bạn không cần phải là một nhà phân tâm học để có thể hiểu được những cơ chế phòng vệ cơ bản, hoặc để nhận ra có những lúc khi những vấn đề đau đớn hoặc gây ra sự lo lắng có thể khích động một số hành vi phản tác dụng của chúng ta. Continue reading

E. Rubinstein – Về đạo diễn Luis Buñuel

Luis Bunuel

E. Rubinstein

Về đạo diễn Luis Buñuel

Duy Đoàn chuyển ngữ

Đối với toàn bộ sự chú ý của giới phê bình (và những tranh cãi dữ dội của giới phê bình) mà tác phẩm của ông gây ra suốt hơn nửa thế kỉ, Luis Buñuel đã kháng cự lại những nỗ lực tốt nhất của chúng ta nhằm phân loại phim của ông. Đầu tiên, mặc dù không nghệ sĩ nào của thế kỉ này cho ta cái ấn tượng đậm chất Tây-ban-nha tinh tuý bằng Buñuel, nhưng làm sao ta có thể áp dụng cụm từ “nhà làm phim Tây-ban-nha” cho một người mà tác phẩm của ông hầu như gần với Pháp và Mexico hơn là với vùng đất nơi ông sinh ra? Cũng với lẽ đó, liệu ta có thể nói đến bất kì phim nào của ông như là một bộ phim “điển hình” được không, khi mà người đó làm ra cả L’Age d’or lẫn Nazarín, cả Los olvidados lẫn Belle de jour, cả Land without Bread lẫn Le charme discret de la bourgeoisie? Dù vậy, từ Un chien andalou cho đến Cet obscur objet du désir, một phim của Buñuel (mặc dù cách quãng nhau, như nhiều tác phẩm Mexico khác của thập niên 1940 và 1950) vẫn là một phim của Buñuel. Continue reading

Juliana Breines – Tại sao chúng ta đổ lỗi cho nạn nhân?

Chúng ta có thể thấy xu hướng đổ lỗi cho nạn nhân khi quá khứ tình dục của những nạn nhân bị cưỡng hiếp bị phê phán từng li từng tí, khi những người nghèo bị xem là lười biếng và không có ý chí, khi những người mắc bệnh về tinh thần hoặc cơ thể bị xem là mắc bệnh do lối sống tồi tệ của họ. Đó là những trường hợp mà ở đó nạn nhân có thể phải chịu một phần trách nhiệm cho rủi ro của họ, nhưng thường thì trách nhiệm này bị thổi phồng quá mức và những yếu tố khác bị xem nhẹ. Tại sao chúng ta rất hăm hở đổ lỗi cho những nạn nhân, ngay cả khi chúng ta dường như không nhận được thứ gì?

Chúng ta đổ lỗi cho nạn nhân vì muốn tránh bị tổn thương. Một nạn nhân càng vô tội thì họ càng gây đe dọa (cho chúng ta). Các nạn nhân đe dọa cảm nhận của chúng ta rằng thế giới là một nơi an toàn và đạo đức, ở đó những điều tốt đẹp xảy đến với người tốt và những chuyện xấu xảy đến với người xấu. Khi những điều xấu xảy ra với người tốt, thì nó ám chỉ rằng không có ai an toàn, bất kể họ sống tốt như thế nào, và chúng ta cũng có thể dễ bị tổn thương. Quan điểm cho rằng sự rủi ro, bất hạnh có thể xảy ra ngẫu nhiên, tấn công bất kì ai ở bất kì lúc nào, là một ý nghĩ đáng sợ, và chúng ta đối mặt hằng ngày với bằng chứng cho thấy nó có thể đúng. Continue reading

J. E. Cirlot – Tính biểu tượng của cái rổ

 

J. E. Cirlot

Tính biểu tượng của cái rổ

Duy Đoàn chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Jack Sage

Đối với Jung, nó tượng trưng cho thân xác người mẹ (31). Trên đồng xu Hi-lạp, hình tượng của cái rổ được cây thường xuân bao phủ lên chính là biểu tượng cho những nghi thức bí truyền của Bakkhos [hay còn gọi là Dyonisos]. Người ta nói rằng Semele, trong lúc bà mang thai Bakkhos, được đặt trong một cái rổ và bị ném ra sông (tính biểu tượng của nước gắn liền với ý niệm về sinh sản) (8). Continue reading

Gene D. Phillips – Về bộ phim 2001: A Space Odyssey (1968) của Stanley Kubrick

2001 A Space Odyssey

Gene D. Phillips

Về bộ phim 2001: A Space Odyssey (1968) của Stanley Kubrick

Duy Đoàn chuyển ngữ

Trong 2001: A Space Odyssey, Stanley Kubrick đã khảo sát thêm về viễn cảnh tăm tối của con người trong thời đại vật chất, cơ giới vốn được mô tả trong Dr. Strangelove bốn năm trước đó. Khi giải thích làm sao ý tưởng độc đáo cho bộ phim khoa học viễn tưởng đặc trưng này đã hiện ra với ông, ông bảo, “Hầu hết các phi hành gia và các nhà khoa học khác lưu tâm đến toàn bộ vấn đề này đều quả quyết tin rằng vũ trụ đầy sự sống; trong đó có nhiều sự sống, bởi vì những con số quá chấn động, tương đương chúng ta về mặt trí tuệ, hoặc cao cấp hơn, đơn giản vì trí tuệ con người đã tồn tại trong một quãng thời gian tương đối ngắn ngủi.” Ông tiếp cận Arthur Clarke, mà truyện ngắn khoa học viễn tưởng của ông, “The Sentinel”, cuối cùng đã trở thành cơ sở cho bộ phim này. Đầu tiên họ mở rộng truyện ngắn thành một cuốn tiểu thuyết, để phát triển hoàn toàn tiềm năng của câu chuyện, và sau đó biến cuốn tiểu thuyết đó thành kịch bản phim.

MGM mua trọn gói kịch bản và tài trợ sáu triệu dollar cho bộ phim, và ngân sách này sau bốn năm làm phim đã tăng lên mười triệu. Mặc dù 2001 mở màn gặp phải những bài điểm phim lãnh đạm và thậm chí chống đối, nhưng sau đó ý kiến của giới phê bình hoàn toàn đảo ngược lại. Do bộ phim thường được hồi sinh, nên nó kiếm được số tiền gấp mấy lần chi phí ban đầu. Continue reading