Tiểu thuyết gia Abe Kōbō – Donald Keene

Tôi gặp Abe Kōbō  vào mùa thu năm 1964. Ông đến New York để bàn về việc nhà xuất bản Knopf cho  ra mắt  bản dịch Anh ngữ  tiểu thuyết Người đàn bà trong cồn cát (Suna no onna). Tôi quên lí do vì sao ông lại quyết định đến thăm đại học Columbia nhưng tôi nhớ như in chuyến đến thăm của ông ở số 47 Kent Hall. Đi cùng ông có Teshigahara Hiroshi , đạo diễn bộ phim nổi tiếng chuyển thể từ tiểu thuyết này, bộ phim đã giành Giải  thưởng Lớn tại liên hoan phim Cannes cùng năm. Có một phụ nữ trẻ đi cùng họ. Tôi  thú nhận là có hơi bực mình khi được thông báo rằng người phụ nữ trẻ đó sẽ là phiên dịch viên của chúng tôi và để chứng minh mình không cần người phiên dịch, tôi cố tính lảng tránh thậm chí cả việc nhìn cô nàng. Chỉ những năm sau đó tôi mới biết rằng cô ta là Ono Yōko. Continue reading

Advertisements

John Berger – Chiếc giường (Dành cho Christoph Hänsli)

 

John Berger
Chiếc giường (Dành cho Christoph Hänsli)
Duy Đoàn chuyển ngữ

Trên chiếc giường khách sạn ấy, không có một ai, trên chiếc giường kế cạnh cũng không. Trong Anh ngữ, tình huống này có thể được xét thành một từ: “no body (không có một ai)” trở thành “nobody (không-ai-cả)”. Ta không thể hỏi. Không-ai-cả là ai? Hoặc có lẽ ta có thể hỏi (như những ống nước chảy ồng ộc phòng bên) nhưng không câu đáp nào sẽ đến.

Không-ai-cả là không ai cả và cả hai giường đều trống trải. Thậm chí còn không có một nếp nhăn, một dấu vết. Có không-ai-cả.

Không-ai-cả là người yêu dấu của anh hay của tôi, và không-ai-cả là mọi cặp đôi từng chiếm lĩnh căn phòng này. Suốt nhiều năm họ lên tới hàng ngàn người. Họ nằm không ngủ. Họ làm tình. Họ vươn người khắp cả hai giường vốn được kéo lại cạnh nhau. Họ ép vào nhau trên một chiếc giường đôi. Họ về nhà vào hôm sau hoặc họ không bao giờ gặp nữa. Họ kiếm ra tiền hoặc đánh mất nó. Họ bội phản nhau. Họ cứu vớt nhau. Continue reading

Các xu hướng trong văn chương hậu chiến [Nhật Bản] từ 1945 đến những năm 1970 – Kensuke Kōno và Ann Sherif

Suốt các cuộc chiến tranh dài của đế quốc Nhật với Trung Quốc và phe Đồng minh trong những năm 1930 và 1940, người dân ở hậu phương tin vào phương tiện truyền thông in ấn và radio vốn đã bị kiểm soát bởi nhà nước. Vào ngày 15 tháng 8 năm 1945, radio truyền đi tin tức về việc tuyên bố đầu hàng của Nhật hoàng. Chỉ hai ngày sau , độc giả thấy trên tờ Asahi một bài thơ có tựa đề “Ichioku  gōkyū” (Những lời than khóc của một trăm triệu người ) do thi sĩ hàng đầu là Takamura Kōtarō  (1883–1956) soạn ra để nói về sự chuyển biến  sững sờ đó. Takamura, tự coi mình là nhà thơ tự do tiên phong và nhà điêu khắc được đào tạo ở Paris, viết một số  tập thơ sau trận Trân Châu Cảng ủng hộ sự bành trướng đế quốc của Nhật Bản đã sử dụng lối nói khoa trương tuyên truyền của thời kì đó.  “Những lời than khóc của một trăm triệu người” không chỉ biểu lộ cú sốc vì thất bại của quốc gia trong một cuộc chiến dài đau đớn mà còn diễn tả cảm giác hoài nghi khi nghe giọng nói của một con người  từ Thiên Hoàng, người được xem như thần.  Takamura  biểu thị lòng tôn kính cố hữu của thần  dân trong đế quốc, xấu hổ khi mà quốc gia đã đẩy nhà vua đến tình trạng cực hạn đó – một quan điểm sớm bị  làm cho phức tạp bởi các vấn đề về trách nhiệm đối với chiến cuộc.  Continue reading

Tiểu thuyết đương đại Nhật Bản – Stephen Snyder

Cuối những năm 1970s, sau thời kì kinh tế tương đối hỗn loạn bởi Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, nước Nhật quay lại với sự phát triển nhanh, hướng đến xuất khẩu. Điều này tiêu biểu cho phần  lớn kinh nghiệm thời hậu chiến của  Nhật Bản. Giai đoạn đầu của thời kì này được biết đến trong hồi tưởng như là Nền kinh tế bong bóng, được đánh dấu bởi thị trường chứng khoán và bất động sạn sôi động, vốn đầu tư lớn từ nước ngoài và sự tiêu dùng nội địa tăng mạnh. Sự sung túc vừa phải nhưng đang  gia tăng trong những năm 1960s, vì sự phục hồi thời hậu chiến vẫn được giữ vững,  được thay thế bằng cảm giác  về sức mạnh của nền kinh tế đang tăng trưởng, được phản chiếu trong lòng ngưỡng mộ của nước ngoài dành cho các sản phẩm và thực tiễn quản lí của  Nhật Bản cùng nỗi sợ đối với sức mạnh cuả nền kinh tế Nhật Bản. Sự đối khang chính trị cuối những năm 1960s là một kỉ niệm nhạt nhòa hoặc chỉ là đối tượng của lòng hoài cổ, những hạt giống  dẫn đến những điều đó rút cục  được  gán với “Nước Nhật Tươi Mát” đã được gieo trên mảnh đất nội địa và sẵn sàng để xuất khẩu. Kết thúc những năm 1970s, Nhật Bản trong lối nhìn của chính mình cũng như của thế giới vẫn đang trong quá trình tự tái sinh , văn chương thời kì này phản ánh cảm giác đổ vỡ, thứ định hình lại bối cảnh văn hóa. Continue reading

Perry Link – Khúc thọ nạn của Lưu Hiểu Ba

Ảnh: Liu Xa/New York Review of Books

Perry Link

Khúc thọ nạn của Lưu Hiểu Ba

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Vào cuối thập niên 1960, Mao Trạch Đông 毛泽东, Đại Đà thủ (大舵手/Great Helmsman) của Trung-quốc, khuyến khích trẻ em và thiếu niên nên đối đầu với giáo viên và bố mẹ chúng, tiệt trừ “ngưu quỷ xà thần”, và nói cách khác là “làm cách mạng”. Thực tế điều này nghĩa là đóng cửa các trường học ở Trung-quốc. Trong những thập niên sau đó, nhiều người đã chỉ trích sự thiếu giáo dục của một thế hệ.

Lưu Hiểu Ba 刘晓波, khôi nguyên Nobel Hoà bình, người bị kết án 11 năm vì tội “khích động lật đổ” chính quyền Trung-quốc, và người đã chết vì ung thư gan hồi thứ Năm (13/7/2017), chính là người minh hoạ cho một hình mẫu khác. Lúc trường học đóng cửa, Lưu, sinh năm 1955, được 11 tuổi, nhưng dẫu sao ông cũng đọc sách, ở bất cứ chỗ nào ông có thể tìm thấy sách. Với việc không giáo viên nào bảo ông biết chính phủ muốn ông nghĩ gì ở những cuốn sách ông đọc, ông bắt đầu tự mình suy tư lấy—và ông yêu thích việc này. Mao tình cờ đã dạy ông một bài học vốn đối nghịch trực tiếp với mục tiêu của chính Mao trong việc cải đổi trẻ em thành những “hồng tiểu binh”.

Nhưng trải nghiệm này chỉ giải thích được một phần cho tính độc lập ngoan cường của Lưu. Tính này có vẻ còn là một đặc điểm bẩm sinh. Nếu có một loại gien dành cho sự thẳng thừng, Lưu có thể có nó. Vào thập niên 1980, trong khi hãy còn là sinh viên cao học ngành văn chương Trung-quốc, ông đã nổi danh như là một “hắc mã” vì ông lên án gần như mọi nhà văn Trung-quốc đương thời: ngôi sao văn chương Vương Mông 王蒙 là tay giảo hoạt chính trị; những cây bút “tầm căn 寻根 (tìm về nguồn cội)” như Hàn Thiểu Công 韓少功 lại quá sức lãng mạn khi nói về giá trị của những truyền thống Trung-quốc; thậm chí những vị anh hùng lên tiếng vì người dân như Lưu Tân Nhạn 刘宾雁 lại quá sẵn sàng phó thác hi vọng vào những lãnh đạo Cộng sản theo “tự do chủ nghĩa” như Hồ Diệu Bang 胡耀邦. Không ai có đủ tinh thần độc lập. Ông viết vào năm 1986, “Tôi có thể tóm gọn trong một câu cho thấy chuyện gì bất ổn đối với các nhà văn Trung-quốc. Họ không tự mình viết sáng tạo được—họ chỉ đơn giản là không có năng lực đó—vì chính cuộc đời của họ không thuộc về họ.” Continue reading

Viet Thanh Nguyen – Tiểu thuyết lớn về Chiến tranh Việt-nam đã không được viết bởi người Mĩ

 

Viet Thanh Nguyen

Tiểu thuyết lớn về Chiến tranh Việt-nam đã không được viết bởi người Mĩ

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Năm 1967, Le Ly Hayslip, khi ấy được biết với tên Phùng Thị Lệ Lý, còn là một thiếu nữ sinh sống và làm việc ở Đà-nẵng. Một cô gái nông thôn vốn đã sống sót qua được cuộc chiến tranh và nạn cưỡng hiếp ở ngôi làng miền quê của mình, cô chuyển tới Đà-nẵng cư trú để thoát khỏi tệ ngược đãi từ phe Cộng sản lẫn phe chống Cộng người Việt. Năm 1972, cô lấy một người Mĩ và chuyển tới Hoa-kì, và vào năm 1989 cô xuất bản một bản văn mãnh liệt kết thuật đời mình về việc bị mắc kẹt giữa hai phe, cuốn “When Heaven and Earth Changed Places (Khi trời và đất hoán chỗ dời nơi)”. Năm 2017, đây có lẽ là cuốn sách duy nhất bằng tiếng Anh có góc nhìn ngôi thứ nhất viết về những trải nghiệm của người dân quê Việt-nam bị kẹt giữa làn đạn hai bên trong thời Chiến tranh Việt-nam. Trong cuộc đời và tác phẩm của mình, cô Hayslip đã thể hiện được định nghĩa rộng của tôi về ý nghĩa của việc là người Việt-nam, một căn cước vốn bao gồm những người ở Việt-nam hoặc những người đang lưu tán, cũng như bao gồm những người viết bằng tiếng Việt hoặc bằng những thứ tiếng khác, trong trường hợp này là bằng tiếng Anh. Continue reading

Viet Thanh Nguyen – Ngợi ca lòng hoài nghi và cái vô dụng

Viet Thanh Nguyen

Ngợi ca lòng hoài nghi và cái vô dụng

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Gần đúng 20 năm trước, tôi đến Los Angeles vào tháng Sáu. Trước đó tôi đã nhận bằng tiến sĩ ở trường University of California, Berkeley vào tháng Năm và đã bước sang tuổi 26 vào tháng Hai. Mùa hè năm ấy, tôi tìm được một căn hộ nhỏ ở Silver Lake và bắt đầu chuẩn bị sự nghiệp mới ở cương vị giáo sư trường University of Southern California. Tôi nhìn lại bản thân mà trong lòng cảm thấy mịt mờ và cảm thông, vì có nhiều thứ tôi không biết lúc tôi 26 tuổi. Tính ngây thơ của tôi đã bảo vệ tôi khi tôi ngồi xuống viết ở cái bàn nhỏ trong nhà bếp và trong mùa hè nóng ngột ngạt đầu tiên ở Los Angeles tôi khởi sự một tập truyện ngắn.  Nếu tôi biết tập truyện này sẽ làm tôi tiêu tốn mất 17 năm mới hoàn thành, và thêm ba năm nữa mới xuất bản được, thì có lẽ tôi thậm chí không bao giờ khởi sự việc làm ấy.

Nhưng sự vô tri đôi khi – không phải luôn luôn, mà là đôi khi – có thể hữu ích tựa như tri thức vậy. Vô tri hữu ích khi ta nhận thức được nó. Trong trường hợp của tôi, nói như vị cựu bộ trưởng Quốc phòng, tôi biết điều tôi không biết, và tôi biết rằng tôi muốn biết nó, nhưng tôi không biết làm sao để biết nó. Tôi biết rằng tôi muốn viết văn, và tôi biết rằng tôi muốn tạo ra công cuộc nghiên cứu mang tính cách tân, nhưng tôi không biết cách nào làm cả hai điều ấy. Tôi cũng biết rằng các trường đại học không tưởng thưởng cho sự vô tri, hoặc cho lời thú nhận về sự vô trí, và thế là tôi giữ cái vô trí ấy cho bản thân rồi vờ như tôi biết mình sẽ làm gì. Continue reading

Robin Wood – Về bộ phim Ugetsu monogatari (1953) của Mizoguchi Kenji

ugetsu-monogatari-1953

Robin Wood

Về bộ phim Ugetsu monogatari (1953) của Mizoguchi Kenji

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Ugetsu monogatari không phải phim đầu tiên của Mizoguchi Kenji được chiếu ở Tây phương, nhưng đây là phim đầu tiên để trưng ông ra trước Tây phương ở vai trò một nghệ sĩ lớn. Sau khi nhanh chóng tự đặt định mình (đặc biệt ở Pháp) trong nhiều danh sách “tốp 10” của nhiều nhà phê bình, bộ phim đã mở lối đón nhận sự tán thưởng dành cho sự nghiệp cuối đời của Mizoguchi. Đối với một số người, ông trở thành một nhà làm phim đại tài, một Shakespeare trong điện ảnh, một người đã hiện thực hoá tối đa cái tiềm năng của phim ảnh như một hình thức nghệ thuật. Đó là lúc mà “tiềm năng của phim ảnh” được công chúng cảm thấy là đã được nhìn nhận và được giải trình xác đáng nhờ công của André Bazin; và đó là sự đánh giá vẫn còn có thể chấp nhận được nếu ta thêm điều kiện là Bazin chỉ trình bày một trong số nhiều tiềm năng của phim ảnh. Continue reading

Andrew J. Nathan – Kim Jong-un là ai?

Andrew J. Nathan

Kim Jong-un là ai?

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Bài điểm sách cho những cuốn sau:

Tyranny of the Weak: North Korea and the World, 1950–1992

của Charles K. Armstrong

Cornell University Press, 307 tr., 35$; 24,95$ (bản bìa mềm)

Marked for Life: Songbun, North Korea’s Social Classification System

của Robert Collins

Committee for Human Rights in North Korea, 119 tr., có văn bản tại www.hrnk.org

 The Real North Korea: Life and Politics in the Failed Stalinist Utopia

của Andrei Lankov

Oxford University Press, 315 tr., 18,95$ (bản bìa mềm)

Pyongyang Republic: North Korea’s Capital of Human Rights Denial

của Robert Collins

Committee for Human Rights in North Korea, 177 tr., có văn bản tại www.hrnk.org 

The Cleanest Race: How North Koreans See Themselves—And Why It Matters

của B.R. Myers

Melville House, 200 tr., 19,99$

Lãnh tụ Bắc Triều-tiên Kim Jong-un đi thị sát trại thiếu nhi Manyongdae ở Bình-nhưỡng; bức ảnh không rõ ngày tháng, được công bố ngày 4 tháng Sáu năm 2016 bởi Thông tấn xã Trung ương Triều-tiên (조선중앙통신사 - Korean Central News Agency) thuộc chính quyền Bắc Triều-tiên. (Ảnh: KCNA/Reuters)

Lãnh tụ Bắc Triều-tiên Kim Jong-un đi thị sát trại thiếu nhi Manyongdae ở Bình-nhưỡng; bức ảnh không rõ ngày tháng, được công bố ngày 4 tháng Sáu năm 2016 bởi Thông tấn xã Trung ương Triều-tiên (조선중앙통신사 – Korean Central News Agency) thuộc chính quyền Bắc Triều-tiên. (Ảnh: KCNA/Reuters)

Hai má phúng phính và kiểu tóc loe của nhà cai trị trẻ tuổi Kim Jong-un xứ Bắc Triều-tiên, mối giao tình với cựu ngôi sao bóng rổ xăm trổ đầy mình Dennis Rodman, cùng nụ cười toe toét như trẻ vui đùa khi đứng trước những đợt phóng tên lửa, hết thảy kết hợp một cách kì dị với việc chế độ này quyết tâm nhấn chìm kẻ thù trong “biển lửa”. Những điểm đó làm cho phương Tây vừa có mối ác cảm vừa có thái độ giễu cợt đối với đất nước này. Nhiều người tiên đoán rằng Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều-tiên không thể tồn lưu lâu hơn nữa, khi xét đến tình trạng đói nghèo ở khắp nước này, một hệ thống trại tù chuyên giết hại người vốn được khép vào tội ác chống nhân loại theo xác định của một uỷ hội điều tra của Liên hợp quốc,[1] khi xét đến tình trạng tự áp đặt thế cô lập kinh tế, tình trạng đương đầu với hết thảy các nước láng giềng, cùng sự non nớt thiếu kinh nghiệm của lãnh tụ nước này. Chính quyền Obama đã vận dụng lập trường “kiên nhẫn chiến lược”, chờ đợi những lệnh chế tài quốc tế ngày càng dữ dội sẽ buộc Bắc Triều-tiên hoặc phải từ bỏ các loại vũ khí hạt nhân hoặc phải lâm vào tình trạng nội phá (implode) và bị thâu tóm bởi chính phủ Nam Triều-tiên thân Tây phương.

Nhưng kẻ láng giềng thân cận khác của Bắc Triều-tiên, Trung-quốc, chưa bao giờ mong đợi CHDCND Triều-tiên đầu hàng hay sụp đổ, và cho đến nay họ vẫn đúng. Thay vì từ bỏ bom hạt nhân và các chương trình tên lửa, Bình-nhưỡng đến nay được cho là có tầm mười đến hai mươi thiết bị hạt nhân và hơn một nghìn tên lửa tầm ngắn, tầm trung và tầm xa, và đang phát triển một đầu nổ dạng nén vốn có thể công phá nội địa Hoa-kì.

Ở Triều-tiên, chế độ này gần đây đã qua được bài thử thách ngặt nghèo nhất mà các chế độ toàn trị phải đối diện, quá trình kế nghiệp vị trí lãnh tụ. Nước này chịu sự cai trị của Kim Il-sung từ năm 1948, khi kết thúc thời gian chiếm đóng của Xô-viết thời hậu chiến ở Bắc Triều-tiên, cho đến khi ông ta mất vào năm 1994; tiếp theo là sự cai trị của người con trai Kim Jong-il, từ năm 1994 cho đến khi ông này mất năm 2011; và kể từ 2011 là dưới sự cai trị của cháu trai người sáng lập, Kim Jong-un. Jong-un là con trai út trong nhà và là người kế vị bất ngờ; y trỗi lên như người thừa tự rõ ràng chỉ hai năm trước khi cha y mất, ngược lại với cha y, vốn là người thừa tự rành rành trong suốt 20 năm. Người ta tin rằng Kim Jong-il đã điều hành việc khủng bố, làm hàng giả, buôn lậu và các chiến dịch phổ biến vũ khí trong hầu hết thời gian tại vị. Continue reading

Louis Menand – Về dòng sách tự trợ (self-help)

Louis Menand

Về dòng sách tự trợ (self-help)

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Cách thành công trong công việc và trong gia đình.

Liệu việc trở thành một người làm việc năng suất cao hơn có khiến bạn trở thành một con người tốt hơn? (Hình: Richard Mcguire)

Liệu việc trở thành một người làm việc năng suất cao hơn có khiến bạn trở thành một con người tốt hơn?
(Hình: Richard Mcguire)

“Smarter Faster Better: The Secrets of Being Productive in Life and Business” (Random House) là cuốn sách tiếp theo một tác phẩm đắt hàng của ông, “The Power of Habit: Why We Do What We Do in Life and Business”, được xuất bản năm 2012. Cuốn sách mới này, giống cuốn trước, có một định dạng quen thuộc trong lĩnh vực phi hư cấu đương thời: nhiều câu chuyện tiêu biểu được sáp nhập với một chút kiến thức về khoa học xã hội và khoa học nhận thức (cognitive science). Mục đích của những câu chuyện này là để tạo ra những câu chuyện thú vị làm lay động người đọc; mục đích của phần khoa học là để trợ giúp tác giả chọn ra một đặc điểm tái dụng được của những câu chuyện đó để độc giả có thể phỏng theo.

Điều gì khiến cho viên phi công hạ cánh được chiếc phi cơ bị hư hại trầm trọng? Làm thế nào một kẻ bỏ học đại học với chứng rối loạn âu lo (anxiety disorder) lại trở thành quán quân bài poker? Điều gì khiến cho “West Wide Story” và “Frozen” của Disney trở thành thứ hút khách? Hoá ra, toàn bộ điều cần làm chính là thao tác tinh chỉnh then chốt đối với guồng vận hành trí óc thường tình hoặc đối với động lực quần thể (group dynamics). Các “mô hình tinh thần” giúp cho viên phi công hạ cánh chiếc phi cơ ấy. “Lối tư duy kiểu Bayes” làm cho một gã khốn cùng thoát thai thành người thắng cuộc trong môn đánh bài. Một “tay môi giới sáng ý (innovation broker)” đã chỉnh lí “West Side Story”, và “Frozen” trở thành bộ phim hoạt hình có tổng doanh thu cao nhất mọi thời nhờ vào một nguyên lí được biết với tên “can nhiễu trung độ (intermediate disturbance)”. Continue reading