Lydia Davis – Bọn chuột

 

Lydia Davis

Bọn chuột

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Bọn chuột sống giữa bốn bức tường nhà chúng tôi nhưng không quấy rầy nhà bếp. Chúng tôi lấy làm hài lòng nhưng không thể hiểu nổi tại sao chúng không vào bếp nhà chúng tôi, nơi chúng tôi đã đặt bẫy, như chúng vào bếp nhà hàng xóm. Mặc dù chúng tôi lấy làm hài lòng, nhưng chúng tôi cũng bực, bởi bọn chuột cư xử như thể có gì đó bất ổn ở bếp nhà chúng tôi. Điều làm cho việc này còn rối trí hơn nữa chính là chuyện nhà chúng tôi kém ngăn nắp hơn nhiều so với mấy căn nhà hàng xóm. Có nhiều thức ăn nằm đây đó trong bếp, nhiều mẩu vụn trên các kệ bếp và mấy mảnh hành tây bẩn thỉu bám vào chân tủ bếp. Thực tế có quá nhiều thức ăn rơi vãi trong bếp đến mức tôi chỉ có thể nghĩ rằng chính bọn chuột sẽ bị điều đó hạ gục. Trong một căn bếp ngăn nắp, quả là thách thức cho chúng để có thể tìm đủ thức ăn đêm này qua đêm nọ để sống cho đến lúc xuân về. Chúng kiên nhẫn săn lùng và nhấm nháp giờ này qua giờ nọ đến khi thoả ý. Tuy vậy, trong bếp nhà chúng tôi, chúng lại đối diện với một thứ quá ư vượt tầm mức so với kinh nghiệm của chúng đến nỗi chúng không thể đương đầu chuyện đó. Chúng có thể đánh bạo ra ngoài một mấy bước, nhưng rồi cảnh tượng và mùi bao trùm nhanh chóng khiến chúng chạy trở lại vào mấy cái hốc, lòng thấy khó chịu và lúng túng trước sự tình rằng chúng không thể bới tìm thức ăn như việc cần phải làm.

Chuyển ngữ tại Sài-gòn
20180205

Nguồn:

Davis, Lydia. “Mice.” Almost No Memory. New York: Picador, 2001.

Advertisements

Christopher Goscha – Historical Dictionary of the Indochina War (1945-1954) – Các hiệp định Genève

Các hiệp định Genève

Hội nghị Genève năm 1954 được xếp vào hàng những cuộc hội họp quốc tế quan trọng nhất trong lịch sử hệ thống quốc tế thời hậu Thế chiến II.

Cái chết của Joseph Stalin vào tháng Ba 1953 và vụ ngừng bắn tại Triều-tiên vài tháng sau đó là hai sự kiện mở đường cho mối quan hệ hữu hảo giữa Đông và Tây mà trước đó vốn rất căng bứt ở khắp nơi trên địa cầu. Chiến tranh Triều-tiên nổ ra vào tháng Sáu năm 1950 đã thử thách khả năng của quân đội Liên hợp quốc do Mĩ dẫn dắt trong việc chống lại quân đội Trung-quốc và [Bắc] Triều-tiên do Xô-viết hậu thuẫn. Kể từ năm 1950, Trung-quốc và ở chừng mực ít hơn là Xô-viết đã hỗ trợ quân lực Việt-nam Dân chủ Cộng hoà chống lại quân của Liên hiệp Pháp, do Mĩ hậu thuẫn. Khi Stalin qua đời và súng ngừng bắn ở Triều-tiên, giới lãnh đạo mới trỗi lên ở Xô-viết đã tỏ bày tường minh rằng họ muốn giảm mối căng bứt cả ở châu Âu lẫn châu Á để tập trung vào những vấn dề kinh tế nội bộ. Hoà hoãn là một cách để xúc tiến quá trình này. Đồng minh Trung-quốc của họ cũng có cùng quan điểm này. Chiến tranh Triều-tiên đã cho thấy Bắc-kinh bị rút cạn nguồn nguyên liệu lẫn nhân lực. Công cuộc tái cơ cấu triệt để về kinh tế và xã hội theo đường hướng cộng sản, bao gồm cuộc cải cách ruộng đất đã làm đất nước này suy kiệt. Bị Hoa-kì cô lập về đường ngoại giao, giới lãnh đạo Trung-quốc cũng cảm thấy rằng một hội nghị quyền bính lớn ở châu Á sẽ cho phép họ có kết cuộc được gia nhập dàn hợp tấu các quốc gia trên trường quốc tế. Xô-viết cũng đồng thuận với ý đó.

Người Pháp và người Anh đồng ý rằng đó là thời điểm chín muồi nhằm thuyên giảm mối căng bứt trong hệ thống quốc tế. Năm 1953, tổng thống Pháp Joseph Laniel hiểu rằng Pháp không thể chu cấp cho Chiến tranh Đông-dương được nữa khi xét đến việc tạo dựng các mối cam kết quân sự với tuyến phòng thủ Tây Âu. Giữa năm 1953, Laniel điều Henri Navarre đến Đông-dương để tạo các điều kiện quân sự cần thiết nhằm hướng đến việc kết thúc trong danh dự cuộc Chiến tranh Đông-dương trên bàn đàm phán. Thuyên giảm mối căng bứt với Đức là điều đầu tiên trong danh sách các chủ đề cần bàn thảo, khi những bộ trưởng ngoại giao của Pháp, Anh quốc, Xô-viết và Mĩ tề tựu ở Berlin vào đầu năm 1954. Tuy nhiên, tại Berlin, họ đã quyết định rằng cuộc họp kế tiếp, tổ chức ở thủ đô Genève của Thuỵ-sĩ, sẽ bàn thảo về hai điểm nóng toàn cầu trong hệ thống qu6óc tế, đều nằm ở châu Á—Triều-tiên và Đông-dương. Continue reading

Olga Dror – Cách Trung-quốc dùng trường học để thu phục Hà-nội

Olga Dror

Cách Trung-quốc dùng trường học để thu phục Hà-nội

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Vào tháng Mười hai 1966, Việt-nam Dân chủ Cộng hoà, hay Bắc Việt-nam, và Cộng hoà Nhân dân Trung-hoa đã kí một thoả thuận về việc thành lập các trường học ở Trung-quốc dành cho trẻ em Bắc Việt [ở Quế-lâm], với việc Trung-quốc cung ứng cơ sở vật chất, tiền bạc và thiết bị. Chiến dịch ném bom của Mĩ vào Bắc Việt đang ở mức cao trào, và Hà-nội muốn di tản những học sinh của mình tới một chỗ an toàn hơn.

Điều thật sự phi phàm về nỗ lực giáo dục thông biên giới này là nó khởi sự ngay giữa cuộc Cách mạng Văn hoá Trung-quốc, vốn bắt đầu từ tháng Năm 1966 và huỷ hoại hệ thống giáo dục Trung-quốc (và khiến nền kinh tế Trung-quốc lụn bại). Nhưng người Trung-quốc sẵn sàng khoét một khoảng trống dành cho dân Bắc Việt vì việc làm như thế chính là để phục vụ cho mục đích cao hơn về mặt địa chính trị: đua tranh với Liên Xô hòng giành thế lãnh đạo phong trào cộng sản hoàn cầu. Continue reading

Ursula K. Le Guin – Những thư viện của tôi

Ursula K. Le Guin

Những thư viện của tôi

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Bài nói chuyện vào năm 1997 ở buổi ăn mừng việc trùng tu Thư viện Hạt Multnomah của Portland

Một thư viện là một tâm điểm, một nơi thiêng liêng đối với một cộng đồng; và tính thiêng của nó nằm ở chỗ ai cũng vào được, ở chỗ nó công khai. Đó là nơi của mọi người. Tôi nhớ một số thư viện, một cách sống động và đầy hân hoan, như là thư viện của tôi vậy—những thành tố làm nên những gì đẹp nhất đời tôi.

Thư viện đầu tiên tôi biết rõ nằm ở Saint Helena, California, khi ấy là một thị trấn nhỏ, an bình và đậm chất Ý. Thư viện đó là một thư viện Carnegie bé nhỏ, vữa trắng, lạnh mát và im ru vào những buổi chiều tháng Tám đổ lửa khi mẹ tôi để anh trai tôi và tôi ở đó trong lúc bà ghé qua tiệm Guigni và Tosetti. Karl và tôi đi khắp căn phòng cho trẻ em, tựa như những quả phi đạn tầm chữ vậy. Sau khi anh em chúng tôi đọc hết mọi thứ, bao gồm cả mười ba quyển truyện phiêu lưu của một cậu bé thám tử mập mạp, thì chúng tôi phải được phép đi vào Phía Người lớn. Vụ đó thật gay go đối với những thủ thư. Họ cảm thấy như họ đang lôi bọn nhóc tì chúng tôi vào một căn phòng đầy dục tình, chết chóc và đám người lớn quái lạ như Heathcliff và gia đình Joad; và thực tế là họ đúng quái lạ. Bọn tôi hàm ơn rất mực. Continue reading

Tiểu thuyết gia Abe Kōbō – Donald Keene

Tôi gặp Abe Kōbō  vào mùa thu năm 1964. Ông đến New York để bàn về việc nhà xuất bản Knopf cho  ra mắt  bản dịch Anh ngữ  tiểu thuyết Người đàn bà trong cồn cát (Suna no onna). Tôi quên lí do vì sao ông lại quyết định đến thăm đại học Columbia nhưng tôi nhớ như in chuyến đến thăm của ông ở số 47 Kent Hall. Đi cùng ông có Teshigahara Hiroshi , đạo diễn bộ phim nổi tiếng chuyển thể từ tiểu thuyết này, bộ phim đã giành Giải  thưởng Lớn tại liên hoan phim Cannes cùng năm. Có một phụ nữ trẻ đi cùng họ. Tôi  thú nhận là có hơi bực mình khi được thông báo rằng người phụ nữ trẻ đó sẽ là phiên dịch viên của chúng tôi và để chứng minh mình không cần người phiên dịch, tôi cố tính lảng tránh thậm chí cả việc nhìn cô nàng. Chỉ những năm sau đó tôi mới biết rằng cô ta là Ono Yōko. Continue reading

John Berger – Chiếc giường (Dành cho Christoph Hänsli)

 

John Berger
Chiếc giường (Dành cho Christoph Hänsli)
Duy Đoàn chuyển ngữ

Trên chiếc giường khách sạn ấy, không có một ai, trên chiếc giường kế cạnh cũng không. Trong Anh ngữ, tình huống này có thể được xét thành một từ: “no body (không có một ai)” trở thành “nobody (không-ai-cả)”. Ta không thể hỏi. Không-ai-cả là ai? Hoặc có lẽ ta có thể hỏi (như những ống nước chảy ồng ộc phòng bên) nhưng không câu đáp nào sẽ đến.

Không-ai-cả là không ai cả và cả hai giường đều trống trải. Thậm chí còn không có một nếp nhăn, một dấu vết. Có không-ai-cả.

Không-ai-cả là người yêu dấu của anh hay của tôi, và không-ai-cả là mọi cặp đôi từng chiếm lĩnh căn phòng này. Suốt nhiều năm họ lên tới hàng ngàn người. Họ nằm không ngủ. Họ làm tình. Họ vươn người khắp cả hai giường vốn được kéo lại cạnh nhau. Họ ép vào nhau trên một chiếc giường đôi. Họ về nhà vào hôm sau hoặc họ không bao giờ gặp nữa. Họ kiếm ra tiền hoặc đánh mất nó. Họ bội phản nhau. Họ cứu vớt nhau. Continue reading

Các xu hướng trong văn chương hậu chiến [Nhật Bản] từ 1945 đến những năm 1970 – Kensuke Kōno và Ann Sherif

Suốt các cuộc chiến tranh dài của đế quốc Nhật với Trung Quốc và phe Đồng minh trong những năm 1930 và 1940, người dân ở hậu phương tin vào phương tiện truyền thông in ấn và radio vốn đã bị kiểm soát bởi nhà nước. Vào ngày 15 tháng 8 năm 1945, radio truyền đi tin tức về việc tuyên bố đầu hàng của Nhật hoàng. Chỉ hai ngày sau , độc giả thấy trên tờ Asahi một bài thơ có tựa đề “Ichioku  gōkyū” (Những lời than khóc của một trăm triệu người ) do thi sĩ hàng đầu là Takamura Kōtarō  (1883–1956) soạn ra để nói về sự chuyển biến  sững sờ đó. Takamura, tự coi mình là nhà thơ tự do tiên phong và nhà điêu khắc được đào tạo ở Paris, viết một số  tập thơ sau trận Trân Châu Cảng ủng hộ sự bành trướng đế quốc của Nhật Bản đã sử dụng lối nói khoa trương tuyên truyền của thời kì đó.  “Những lời than khóc của một trăm triệu người” không chỉ biểu lộ cú sốc vì thất bại của quốc gia trong một cuộc chiến dài đau đớn mà còn diễn tả cảm giác hoài nghi khi nghe giọng nói của một con người  từ Thiên Hoàng, người được xem như thần.  Takamura  biểu thị lòng tôn kính cố hữu của thần  dân trong đế quốc, xấu hổ khi mà quốc gia đã đẩy nhà vua đến tình trạng cực hạn đó – một quan điểm sớm bị  làm cho phức tạp bởi các vấn đề về trách nhiệm đối với chiến cuộc.  Continue reading

Tiểu thuyết đương đại Nhật Bản – Stephen Snyder

Cuối những năm 1970s, sau thời kì kinh tế tương đối hỗn loạn bởi Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, nước Nhật quay lại với sự phát triển nhanh, hướng đến xuất khẩu. Điều này tiêu biểu cho phần  lớn kinh nghiệm thời hậu chiến của  Nhật Bản. Giai đoạn đầu của thời kì này được biết đến trong hồi tưởng như là Nền kinh tế bong bóng, được đánh dấu bởi thị trường chứng khoán và bất động sạn sôi động, vốn đầu tư lớn từ nước ngoài và sự tiêu dùng nội địa tăng mạnh. Sự sung túc vừa phải nhưng đang  gia tăng trong những năm 1960s, vì sự phục hồi thời hậu chiến vẫn được giữ vững,  được thay thế bằng cảm giác  về sức mạnh của nền kinh tế đang tăng trưởng, được phản chiếu trong lòng ngưỡng mộ của nước ngoài dành cho các sản phẩm và thực tiễn quản lí của  Nhật Bản cùng nỗi sợ đối với sức mạnh cuả nền kinh tế Nhật Bản. Sự đối khang chính trị cuối những năm 1960s là một kỉ niệm nhạt nhòa hoặc chỉ là đối tượng của lòng hoài cổ, những hạt giống  dẫn đến những điều đó rút cục  được  gán với “Nước Nhật Tươi Mát” đã được gieo trên mảnh đất nội địa và sẵn sàng để xuất khẩu. Kết thúc những năm 1970s, Nhật Bản trong lối nhìn của chính mình cũng như của thế giới vẫn đang trong quá trình tự tái sinh , văn chương thời kì này phản ánh cảm giác đổ vỡ, thứ định hình lại bối cảnh văn hóa. Continue reading

Perry Link – Khúc thọ nạn của Lưu Hiểu Ba

Ảnh: Liu Xa/New York Review of Books

Perry Link

Khúc thọ nạn của Lưu Hiểu Ba

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Vào cuối thập niên 1960, Mao Trạch Đông 毛泽东, Đại Đà thủ (大舵手/Great Helmsman) của Trung-quốc, khuyến khích trẻ em và thiếu niên nên đối đầu với giáo viên và bố mẹ chúng, tiệt trừ “ngưu quỷ xà thần”, và nói cách khác là “làm cách mạng”. Thực tế điều này nghĩa là đóng cửa các trường học ở Trung-quốc. Trong những thập niên sau đó, nhiều người đã chỉ trích sự thiếu giáo dục của một thế hệ.

Lưu Hiểu Ba 刘晓波, khôi nguyên Nobel Hoà bình, người bị kết án 11 năm vì tội “khích động lật đổ” chính quyền Trung-quốc, và người đã chết vì ung thư gan hồi thứ Năm (13/7/2017), chính là người minh hoạ cho một hình mẫu khác. Lúc trường học đóng cửa, Lưu, sinh năm 1955, được 11 tuổi, nhưng dẫu sao ông cũng đọc sách, ở bất cứ chỗ nào ông có thể tìm thấy sách. Với việc không giáo viên nào bảo ông biết chính phủ muốn ông nghĩ gì ở những cuốn sách ông đọc, ông bắt đầu tự mình suy tư lấy—và ông yêu thích việc này. Mao tình cờ đã dạy ông một bài học vốn đối nghịch trực tiếp với mục tiêu của chính Mao trong việc cải đổi trẻ em thành những “hồng tiểu binh”.

Nhưng trải nghiệm này chỉ giải thích được một phần cho tính độc lập ngoan cường của Lưu. Tính này có vẻ còn là một đặc điểm bẩm sinh. Nếu có một loại gien dành cho sự thẳng thừng, Lưu có thể có nó. Vào thập niên 1980, trong khi hãy còn là sinh viên cao học ngành văn chương Trung-quốc, ông đã nổi danh như là một “hắc mã” vì ông lên án gần như mọi nhà văn Trung-quốc đương thời: ngôi sao văn chương Vương Mông 王蒙 là tay giảo hoạt chính trị; những cây bút “tầm căn 寻根 (tìm về nguồn cội)” như Hàn Thiểu Công 韓少功 lại quá sức lãng mạn khi nói về giá trị của những truyền thống Trung-quốc; thậm chí những vị anh hùng lên tiếng vì người dân như Lưu Tân Nhạn 刘宾雁 lại quá sẵn sàng phó thác hi vọng vào những lãnh đạo Cộng sản theo “tự do chủ nghĩa” như Hồ Diệu Bang 胡耀邦. Không ai có đủ tinh thần độc lập. Ông viết vào năm 1986, “Tôi có thể tóm gọn trong một câu cho thấy chuyện gì bất ổn đối với các nhà văn Trung-quốc. Họ không tự mình viết sáng tạo được—họ chỉ đơn giản là không có năng lực đó—vì chính cuộc đời của họ không thuộc về họ.” Continue reading

Viet Thanh Nguyen – Tiểu thuyết lớn về Chiến tranh Việt-nam đã không được viết bởi người Mĩ

 

Viet Thanh Nguyen

Tiểu thuyết lớn về Chiến tranh Việt-nam đã không được viết bởi người Mĩ

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Năm 1967, Le Ly Hayslip, khi ấy được biết với tên Phùng Thị Lệ Lý, còn là một thiếu nữ sinh sống và làm việc ở Đà-nẵng. Một cô gái nông thôn vốn đã sống sót qua được cuộc chiến tranh và nạn cưỡng hiếp ở ngôi làng miền quê của mình, cô chuyển tới Đà-nẵng cư trú để thoát khỏi tệ ngược đãi từ phe Cộng sản lẫn phe chống Cộng người Việt. Năm 1972, cô lấy một người Mĩ và chuyển tới Hoa-kì, và vào năm 1989 cô xuất bản một bản văn mãnh liệt kết thuật đời mình về việc bị mắc kẹt giữa hai phe, cuốn “When Heaven and Earth Changed Places (Khi trời và đất hoán chỗ dời nơi)”. Năm 2017, đây có lẽ là cuốn sách duy nhất bằng tiếng Anh có góc nhìn ngôi thứ nhất viết về những trải nghiệm của người dân quê Việt-nam bị kẹt giữa làn đạn hai bên trong thời Chiến tranh Việt-nam. Trong cuộc đời và tác phẩm của mình, cô Hayslip đã thể hiện được định nghĩa rộng của tôi về ý nghĩa của việc là người Việt-nam, một căn cước vốn bao gồm những người ở Việt-nam hoặc những người đang lưu tán, cũng như bao gồm những người viết bằng tiếng Việt hoặc bằng những thứ tiếng khác, trong trường hợp này là bằng tiếng Anh. Continue reading