Science Daily – Giờ đi ngủ thất thường có thể hạn chế năng lực trí não ở trẻ nhỏ

Giờ đi ngủ hàng đêm thất thường khi còn nhỏ dường như sẽ làm hạn chế năng lực trí não ở trẻ. Đây là kết quả từ một nghiên cứu trên diện rộng suốt quãng thời gian dài, được công bố trên Journal of Epidemiology and Community Health (Tập san về Dịch tễ học và Sức khoẻ Cộng đồng).

 Xét theo tầm quan trọng của sự phát triển thuở nhỏ đối với sức khoẻ sau này của trẻ, các nhà nghiên cứu cho biết chuyện giờ giấc ngủ thất thường có thể dẫn tới những ảnh hưởng dây chuyền suốt cả quãng đời trẻ.

Các tác giả xem xét liệu giờ đi ngủ ở giai đoạn đầu tuổi thơ có liên hệ gì đến năng lực trí não không, và họ nghiên cứu trên 11,000 trẻ bảy tuổi, đây là một phần trong UK Millennium Cohort Study (Nghiên cứu Đoàn hệ Thiên niên kỉ Anh quốc – MCS).

MCS là nghiên cứu dài hạn tiêu biểu tầm quốc gia về trẻ con Anh quốc chào đời trong khoảng thời gian từ tháng Chín năm 2000 đến tháng Một năm 2002, và nghiên cứu này dựa trên những khảo sát và những chuyến ghé thăm định kì tới các gia đình lúc trẻ được 3, 5, và 7 tuổi, nhằm biết được lịch sinh hoạt gia đình, bao gồm cả giờ đi ngủ.

Các tác giả nghiên cứu muốn biết liệu giờ đi ngủ của trẻ, và tính nhất quán của giờ đi ngủ, liệu có tác động nào đến khả năng thể hiện trí tuệ, được đánh giá thông qua điểm số bài trắc nghiệm chuẩn dành cho việc đọc sách, môn toán, và khả năng nhận thức không gian.

Và họ muốn biết liệu những ảnh hưởng đó có tích tụ lại hay không và/hoặc liệu có bất kì giai đoạn đặc biệt nào trong suốt thời kì đầu tuổi thơ quan trọng hơn những giai đoạn khác. Continue reading

Advertisements

Một số cha mẹ muốn con bù đắp cho giấc mơ tan vỡ của họ

Một số bậc phụ huynh mong muốn con mình hoàn thành những tham vọng dở dang của bản thân, đúng như giả thuyết lâu nay được các nhà tâm lí học đặt ra. Đây là kết quả theo cuộc nghiên cứu mới, vốn là nghiên cứu đầu tiên ở lĩnh vực như thế này.

Các nhà nghiên cứu phát hiện các bậc cha mẹ càng xem đứa trẻ như một phần của bản thân họ, thì càng có nhiều khả năng họ muốn đứa trẻ sẽ đạt được giấc mơ thất bại hồi xưa của bản thân mình.

Kết quả có thể giúp cắt nghĩa cho những hành động của những người được gọi là “những bà mẹ sân khấu” hay “những ông cha thể thao”, vốn là những người thường muốn thúc đẩy con mình trở thành ngôi sao sân khấu hay ngôi sao sân cỏ, theo lời của Brad Bushman, đồng tác giả cuộc nghiên cứu và là giáo sư ngành truyền thông và tâm lí học tại trường The Ohio State University.

“Một số cha mẹ xem con cái mình như là phần mở rộng cho bản thân mình, thay vì là những cá nhân tách biệt với những hi vọng và giấc mơ riêng,” Bushman cho biết.  Continue reading

Science Daily – Lời nói của trẻ con phát triển nhiều hơn ta tưởng

Tiếng đứa bé nói tíu tít lúc đang học nói bao giờ cũng có nét dễ thương – nhưng người ta không coi những tiếng nói đó đặc biệt tinh vi. Tuy thế, nghiên cứu của một chuyên gia tại trường Newcastle University đã chứng tỏ lời nói của trẻ con phát triển hơn nhiều so với những gì ta nghĩ trước đây.

Tiến sĩ Cristina Dye, nhà nghiên cứu ở lĩnh vực phát triển ngôn ngữ ở trẻ em, đã phát hiện những đứa bé 2-3 tuổi sử dụng ngữ pháp sớm hơn so với người ta tưởng.

Cô đã nghiên cứu năm mươi đứa trẻ nói tiếng Pháp, khoảng từ 23 đến 37 tháng tuổi, và thu được vài chục ngàn câu phát ngôn của bọn trẻ.

Tiến sĩ Dye lúc trước đã thực hiện nghiên cứu này khi còn ở trường Cornell University tại Mĩ, giờ đây phát hiện rằng ngay từ rất sớm trẻ con đã dùng “những hư từ ” vốn hình thành nên khung sườn cho câu (chẳng hạn các từ “a, an, can, is”).

Tiến sĩ Dye và đội ngũ của cô dùng công nghệ ghi âm tiên tiến bao gồm những micrô có độ nhạy cao được giấu gần chỗ bọn trẻ, để thu được những âm thanh chuẩn xác do bọn trẻ phát ra. Họ bỏ ra nhiều năm gắng công phân tiến từng âm thanh nhỏ nhất do bọn trẻ tạo ra và phân tích cả bối cảnh nơi âm thanh đó hình thành.

Họ đã phát hiện một mẫu hình rõ ràng mà trước đây chưa ai nhận thấy của những âm thanh đó và những tiếng phù, tương thích với những từ ngữ mang chức năng ngữ pháp trong nhiều câu phát ngôn của bọn trẻ.

Tiến sĩ Dye cho biết: “Nhiều đứa trẻ mà chúng tôi nghiên cứu tạo ra một thứ âm thanh nho nhỏ, một hơi thở nhẹ, hay ngắt giọng, ở ngay chính xác chỗ mà bình thường người ta sẽ nói ra một từ mang chức năng ngữ pháp nào đó.”

“Âm thanh này luôn được phát ra ngay đúng chỗ trong câu, thực tế này làm chúng ta tin rằng trẻ con đã am hiểu về những từ mang chức năng ngữ pháp. Chúng có năng lực ngữ pháp tinh vi hơn nhiều so với những gì chúng ta từng hiểu.”

“Mặc dù bọn trẻ mà chúng tôi nghiên cứu toàn dùng tiếng Pháp, nhưng khám phá của chúng tôi có thể mở rộng sang các ngôn ngữ khác. Tôi tin là chúng ta nên công nhận bọn trẻ nhiều hơn – chúng tuyệt vời hơn ta nhận thấy.”

Trong nhiều thập niên thì nhiều chuyên gia về phát triển có quan niệm phổ biến rằng những kết hợp từ ngữ ở trẻ con lúc ban đầu thường thiếu đi những từ ngữ mang chức năng ngữ pháp. Theo quan điểm này thì trẻ con trải qua quá trình chuyển hoá từ ‘nòng nọc thành ếch’ mà tại đó chúng bắt đầu phát triển khả năng dùng ngữ pháp trong lời nói của mình, do một cơ chế bí ẩn nào đó. Giờ thì kết quả của Dye đã thách thức quan niệm cũ kĩ đó.  Continue reading

Khen ngợi những phẩm chất cá nhân của trẻ có thể phản tác dụng

Việc khen ngợi những phẩm chất cá nhân của trẻ con, đặc biệt với những đứa trẻ hay tự ti, thay vì khen nỗ lực cố gắng có thể khiến chúng càng thêm xấu hổ nếu gặp thất bại sau này, đây là kết quả rút ra từ nghiên cứu mới do Hiệp hội Tâm lí học Hoa-kì công bố.

“Kiểu khen ngợi nhân cách này có thể gây ra tác dụng ngược lại. Những điều trông có vẻ thường tình như vậy nhưng đôi khi lại có thể làm cho người lớn hành xử sai lạc đi khi cố gắng giúp đỡ trẻ tự ti cảm thấy tốt hơn về bản thân”, theo lời của nhà nghiên cứu Eddie Brummelman, thạc sĩ thuộc trường Utrecht University ở Hà-lan. Công trình nghiên cứu này được công bố trên mạng cho tờ Journal of Experimental Psychology: General.

Nghiên cứu phát hiện ra rằng trẻ tự ti thường nhận được lời khen về phẩm chất cá nhân của mình, và kiểu khen ngợi đó có thể tạo ra cảm giác xấu hổ tột độ khi chúng gặp thất bại và có thể dẫn đến mất dần khả năng tự tin.

Trong một thí nghiệm, người ta cho 357 phụ huynh ở Hà-lan, trong độ tuổi từ 29 đến 66, đọc sáu bản mô tả về những loại trẻ con theo lí thuyết – ba trong số đó thuộc về dạng tự tin (chẳng hạn như “Lisa thường thích những mẫu người như cô bé”) và ba mẫu còn lại thuộc dạng tự ti (chẳng hạn như “Sarah thường buồn bã về chính bản thân mình”). Những bậc phụ huynh này được yêu cầu viết ra những lời khen ngợi dành cho trẻ để giúp chúng hoàn thành công việc nào đó, chẳng hạn như vẽ một bức tranh. Trung bình thì phụ huynh khen ngợi trẻ tự ti nhắm vào phẩm chất cá nhân nhiều hơn gấp đôi so với trẻ tự tin (ví dụ “Con là hoạ sĩ tuyệt vời kia mà!”). Họ cũng thường khen ngợi trẻ tự tin ở nỗ lực của trẻ nhiều hơn (ví dụ “Con đã vẽ rất rốt rồi”!).

“Người lớn có thể cảm giác rằng khen ngợi phẩm chất của trẻ có thể giúp trẻ chống lại sự tự ti, nhưng nó có thể truyền tải thông điệp cho trẻ rằng chúng đạt được giá trị như lời khen đó chỉ khi đạt được thành công”, Brummelman cho biết. “Khi trẻ gặp thất bại sau đó, chúng sẽ suy diễn ra cho rằng bản thân vô dụng.”  Continue reading

Động vật giúp trẻ tự kỉ cải thiện hành vi giao lưu tích cực

Sự hiện diện của động vật có thể giúp trẻ tự kỉ gia tăng đáng kể những hành vi giao lưu tích cực, kết quả rút ra từ cuộc nghiên cứu công bố ngày 20/2/2013 trên tập san PLOS ONE, được tiến hành bởi Marguerite E. O’Haire và các đồng nghiệp ở trường University of Queensland, Úc.

Những nhà nghiên cứu đã đối chiếu cách thức những đứa trẻ tự kỉ từ 5-13 tuổi tương tác với người lớn với những đứa trẻ phát triển bình thường đồng trang lứa ở hai trường hợp: khi có mặt hai con chuột lang và trường hợp còn lại là chỉ có đồ chơi. Họ phát hiện rằng khi có mặt loài vật thì trẻ tự kỉ biểu hiện ra được nhiều hành vi giao lưu hơn, chẳng hạn như nói chuyện, nhìn vào mặt người khác, và giao tiếp đụng chạm với nhau. Trẻ tự kỉ còn cho thấy khi có mặt loài vật thì chúng dễ đón nhận những lời tiếp chuyện từ mấy đứa trẻ khác hơn so với trường hợp chỉ có đồ chơi. Sự hiện diện của loài vật còn giúp trẻ tự kỉ cười nhiều hơn và bớt nhăn nhó khó chịu, bớt rên rỉ và khóc lóc hơn so với trường hợp trẻ chơi với đồ chơi.  Continue reading

John W. Santrock – Trí nhớ của trẻ thời thơ ấu

Trí nhớ của trẻ được cải thiện đáng kể sau 2 tuổi. Đôi khi trí nhớ dài hạn của trẻ lứa tuổi mầm non có vẻ không ổn định, nhưng chúng có thể nhớ được rất nhiều thông tin nếu được gợi nhắc phù hợp.

Một trong những lí do khiến trẻ nhớ ít hơn người trưởng thành là vì chúng không thành thạo bằng người lớn trong nhiều lĩnh vực, nhưng lượng tri thức đang tăng trưởng của chúng là nguồn lực giúp cải thiện khả năng ghi nhớ. Ví dụ, khả năng nhớ lại những gì đã thấy trong chuyến thăm thư viện của một đứa bé phụ thuộc rất nhiều vào những gì chúng biết về thư viện, như vị trí của các loại sách được sắp xếp theo từng chủ đề, làm sao để kiểm tra sách, và nhiều điều khác. Nếu một đứa trẻ gần như không biết gì về thư viện, nó sẽ khó lòng nhớ được những gì đã nhìn thấy trong chuyến thăm đó.

Thuyết dò theo dấu mờ (fuzzy trace theory) gợi ra một hướng khác về cách thức phát triển của trí nhớ suốt thời thơ ấu. Ta biết trẻ nhỏ có khuynh hướng mã hoá, lưu trữ và khôi phục lại các dấu vết một cách nguyên vẹn, trong khi trẻ ở độ tuổi tiểu học bắt đầu dùng cách ghi nhớ đại ý. Việc ghi nhớ đại ý giúp tăng cường khả năng lần dò lại các kí ức. Các nguồn lực giúp cải thiện trí nhớ của trẻ bao gồm sự thay đổi biên độ nhớ và các chiến lược được chúng sử dụng.

Continue reading

John W. Santrock – Trí nhớ của em bé

Chuyên gia nổi tiếng về nuôi dạy trẻ Penelope Leach (1990) từng nói với các phụ huynh rằng các em bé từ 6 tới 8 tháng tuổi không thể ghi nhớ được hình ảnh của cha mẹ chúng. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu về sự phát triển của trẻ em lại phát hiện thấy các em bé khoảng 3 tháng tuổi đã có khả năng ghi nhớ trong một chừng mực nào đó (Courage, Howe, & Squires, 2004).

Những kí ức ban đầu    

Carolyn Rovee-Collier (1987, 2007; Rovee-Collier & Cuevas, 2009) đã tiến hành một nghiên cứu nhằm chứng tỏ trẻ sơ sinh có thể ghi nhớ thông tin vận động cảm giác (perceptual-motor). Trong một thí nghiệm tiêu biểu, cô đặt một em bé vào nôi, bên dưới một vòng quay có những chi tiết phức tạp, rồi buộc một dải băng vào cổ chân em bé, đầu còn lại của dải băng được buộc vào vòng quay. Em bé đá chân làm vòng quay chuyển động (xem hình 7.5). Mấy tuần sau, em bé được đặt trở lại vào nôi nhưng lần này chân bé không được buộc dải băng. Em bé đá chân như thể muốn làm cho vòng quay chuyển động. Tuy nhiên, nếu vòng quay chỉ hơi thay đổi một chút thì bé sẽ không đá chân. Nếu vòng quay được trả lại nguyên dạng ban đầu như lúc được buộc với cổ chân em bé thì bé sẽ đá chân trở lại. Theo Rovee-Collier, dù chỉ mới được 2 tháng rưỡi nhưng bộ não của trẻ đã phát triển chi tiết tới mức đáng kinh ngạc.  Continue reading

John W. Santrock – Giấc ngủ của trẻ trong thời thơ ấu & thời niên thiếu

Các chuyên gia khuyến cáo rằng trẻ nhỏ nên được ngủ từ 11 tới 13 tiếng mỗi đêm (National Sleep Foundation, 2010). Hầu hết trẻ nhỏ đều ngủ một giấc dài vào ban đêm và một giấc ngắn vào ban ngày.

Sau đây là thí nghiệm trong một nghiên cứu gần đây về những vấn đề liên quan tới giấc ngủ của trẻ. Một cuộc khảo sát trên toàn quốc đã chỉ ra rằng trẻ sẽ thiếu ngủ nếu chúng có các triệu chứng trầm cảm, những vấn đề trường lớp, hoặc sức khoẻ cha mẹ suy giảm, hoặc phải sống trong một gia đình luôn hục hặc với nhau, và phải sống bên cạnh những người hàng xóm không đem lại cảm giác an toàn (Smaldone, Honig, & Byrne, 2007).

Một đánh giá cho thấy hơn 40% trẻ nhỏ mắc phải các vấn đề về giấc ngủ vào một thời điểm nào đó trong đời (Boyle & Cropley, 2004). Những vấn đề về giấc ngủ mà trẻ có thể gặp là chứng ngủ rũ (vô cùng buồn ngủ vào ban ngày), chứng mất ngủ (rất khó ngủ hoặc cảm thấy buồn ngủ), và gặp phải ác mộng (Nevsimalova, 2009; Sadeh, 2008).

Một nghiên cứu gần đây cho thấy trẻ từ 3 tới 8 tuổi gặp vấn đề về giấc ngủ cũng sẽ dễ gặp phải các vấn đề về phát triển trong thời niên thiếu, như dễ sử dụng thuốc kích thích hoặc dễ bị trầm cảm.  Continue reading

John W. Santrock – Giấc ngủ của em bé

Em bé thường ngủ bao nhiêu? Có những vấn đề đặc biệt nào liên quan tới giấc ngủ của em bé không?

Chu kì ngủ/thức

Khi còn là em bé (0-2 tuổi), giấc ngủ tiêu hao thời gian của ta nhiều hơn lúc trưởng thành. Trẻ mới chào đời ngủ từ 16 tới 17 tiếng đồng hồ mỗi ngày, một số trẻ có thể ngủ nhiều hoặc ít hơn. Thời gian ngủ dao động trong khoảng ít nhất từ 10 tiếng tới nhiều nhất là 21 tiếng đồng hồ, dù thời gian dài nhất của giấc ngủ không phải lúc nào cũng ở khoảng từ 11 giờ sáng tới 7 giờ tối. Tuy giấc ngủ ở trẻ là như nhau, nhưng giấc ngủ trong ngày của chúng không phải lúc nào cũng tuân theo một nhịp độ nhất định. Trẻ có thể thay đổi giấc ngủ dài 7 tới 8 tiếng thành ba hoặc bốn giấc ngủ ngắn chừng vài tiếng đồng hồ. Trẻ khoảng 1 tháng tuổi thường ngủ giấc dài vào ban đêm. Khi được 6 tháng tuổi, trẻ thường có giấc ngủ gần giống với giấc ngủ của người trưởng thành, ngủ vào ban đêm và thức vào ban ngày.  Continue reading

Tiếp xúc ánh sáng trong quá trình mang thai

 

Nghiên cứu gần đây đăng trên tập san Nature kết luận rằng con mắt – vốn phụ thuộc vào ánh sáng để có thể nhìn thấy cảnh vật – cũng cần ánh sáng trong quá trình mang thai để phát triển bình thường.

Các nhà khoa học cho biết phát hiện bất ngờ này đã đưa ra hiểu biết nền tảng mới mẻ về sự phát triển của con mắt trong bào thai và những bệnh về mắt do rối loạn mạch máu gây nên – đặc biệt về loại bệnh màng lưới (retinopathy) ở tình trạng đẻ non có thể làm trẻ sinh non bị mù. Nghiên cứu này được thực hiện bởi các nhà khoa học thuộc Cincinnati Children’s Hospital Medical Center (Trung tâm y khoa của bệnh viện nhi Cincinnati) và thuộc trường University of California tại San Francisco, và được công bố trên mạng vào ngày 16/1/2013 trước khi công bố bản in.

“Kết quả này hoàn toàn thay đổi hiểu biết của ta về cách thức phát triển của võng mạc,” theo lời tiến sĩ Richard Lang, đồng tác giả nghiên cứu, thuộc bộ phận nhãn khoa trẻ em của Cincinnati Children’s Hospital Medical Center. “Chúng tôi đã nhận dạng được đường đi phản ứng ánh sáng có vai trò kiểm soát lượng neuron võng mạc. Điều này tạo ra ảnh hưởng liên đới đến việc phát triển hệ mạch máu trong con mắt và có tầm quan trọng đáng kể bởi một vài bệnh nghiêm trọng thuộc về mắt đều là những bệnh thuộc về mạch máu.”  Continue reading