Nobel Văn chương 2014: Patrick Modiano (1945- )

AP—AP/Gallimard

AP—AP/Gallimard

Patrick Modiano sinh ngày 30 tháng 7 năm 1945 tại Boulogne-Billancourt, ngoại ô Paris. Cha ông là doanh nhân, mẹ ông là nữ diễn viên. Tuổi thơ của ông nát tan do nhiều cuộc đổi dời gây xáo động, do sự vắng mặt của người cha và do cái chết bi thảm của người em Rudy, người bị bệnh bạch cầu ở tuổi lên 10. Ông hồi tưởng lại quãng thời gian đau khổ mà đầy hoài niệm đó trong hồi kí Un pedigree hồi năm 2005: “Tôi không thể viết tự truyện được, đó là lí do tôi gọi nó là một ‘pedigree’ (phả hệ): Nó là cuốn sách không nói về những gì tôi làm cho bằng nói về những gì người khác làm, chủ yếu là những gì cha mẹ tôi đã làm cho tôi.”

Ông từng theo học phổ thông tại trường Lycée Henri-IV tại Paris. Ở đây ông được Raymond Queneau kèm học toán, và tài năng của ông được nhà văn nổi tiếng này phát hiện ra. Thế là chàng thanh niên Patrick bắt đầu viết. Năm 1968, Modiano trình làng với tư cách nhà văn bằng tác phẩm La place de l’étoile, một tiểu thuyết thu hút rất nhiều sự chú ý. Vài năm sau, ông đoạt giải Grand Prix du Roman của Académie Française cho cuốn tiểu thuyết Les boulevards de ceinture.

“Thực sự thì tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện làm thứ gì khác”, ông nói về văn nghiệp của mình. “Tôi không có bằng cấp, không mục tiêu chắc chắn nào để đạt tới. Nhưng thật gian nan đối với một cây bút trẻ khi bắt đầu viết quá sớm. Thực sự thì tôi không thích đọc mấy cuốn sách hồi ban đầu của mình. Không phải vì tôi không thích chúng, mà tôi không nhận ra bản thân mình nữa, giống như một diễn viên già xem chính mình hồi còn là một nam chính trẻ trung vậy.”

Tiểu thuyết của Modiano xoáy vào nan đề của căn cước: Làm thế nào tôi lần ra được chứng cứ về sự tồn tại của mình qua các dấu vết của quá khứ? Bị ám ảnh với khoảng thời gian Chiếm đóng gây muộn phiền và tủi nhục – mà lúc đó cha ông đã dính vào những vụ giao dịch mờ ám – Modiano cứ trở đi trở lại đề tài này trong tất cả tác phẩm của mình, hết cuốn này đến cuốn kia để rồi tạo thành một tác phẩm thuần nhất đáng kinh ngạc. “Sau mỗi tiểu thuyết, tôi có ấn tượng là mình đã xoá đi hết toàn bộ”, ông nói giữa hai khoảng lặng. “Nhưng tôi biết mình sẽ trở lại nhiều lần những chi tiết bé tí ấy, những điều nho nhỏ ấy vốn là một phần của con người tôi. Sau rốt, tất cả chúng ta đều được định đoạt bởi nơi chốn đó và thời gian đó khi ta sinh ra.” Đối với ông, nơi chốn đó chính là Paris, một thành phố mà ông viết về thường xuyên, mô tả sự tiến triển nơi những con phố, những thói quen và những con người chốn ấy. Thực tế thì Modiano rất thân thuộc với Paris giống như Woody Allen thân thuộc với New York vậy: nó là kí ức và là lương tâm của ông. Continue reading

Advertisements

Nobel Sinh lí học hay Y học 2014: John O’Keefe và May-Britt Moser & Edvard I. Moser

Cho khám phá về các tế bào tạo nên hệ thống định vị trong bộ não

Làm sao chúng ta biết được mình đang ở đâu? Làm sao chúng ta có thể tìm được lối đi từ nơi này đến nơi kia? Và làm sao chúng ta có thể lưu trữ thông tin này theo một cách thức mà từ đó mình có thể ngay lập tức tìm ra được lối đi vào lần tới khi ta dò theo cùng con dường đó? Các khôi nguyên Nobel năm nay đã khám phá ra được một hệ thống định vị, một “GPS nội tại” trong bộ não khiến ta có thể định hướng bản thân trong không gian, biểu thị một cơ sở tế bào cho chức năng tri nhận cao hơn.

Năm 1971, John O’Keefe khám phá thành tố đầu tiên của hệ thống địn vị này. Ông phát hiện một loại tế bào thần kinh trong một khu vực não bộ mang tên đồi hải mã (hippocampus) vốn luôn được kích hoạt khi con chuột ở một vị trí nhất định trong căn phòng. Những tế bào thần kinh khác được kích hoạt khi con chuột đó ở vị trí khác. O’Keefe kết luận những “tế bào vị trí” (place cell) đó hình thành nên tấm bản đồ cho căn phòng ấy.

Hơn ba thập niên sau, năm 2005, May-Britt và Edvard Moser khám phá một thành tố then chốt khác của hệ thống định vị não bộ này. Họ nhận dạng được một loại tế bào thần kinh khác, mà họ gọi là các “tế bào ô lưới” (grid cell), chúng tạo ra một hệ thống điều phối và cho phép việc định vị và tìm đường chuẩn xác. Nghiên cứu sau đó của họ chứng tỏ được cách mà những tế bào vị trí và ô lưới có thể xác định chỗ và điều hướng.

Những khám phá của John O’Keefe, May-Britt Moser và Edvard Moser đã giải quyết được một vấn đề vốn choán hết tâm trí các triết gia và khoa học gia suốt nhiều thế kỉ – làm thế nào mà bộ não tạo ra được tấm bản đồ về không gian xung quanh ta và làm thế nào ta điều hướng được lối đi của mình qua một môi trường phức tạp? Continue reading

J. E. Cirlot – Biểu tượng của sói

Biểu tượng của sói 

Biểu tượng cho lòng can trường của người La Mã và Ai Cập. Nó còn xuất hiện như kẻ  canh gác trong vô số các đền đài (8). Trong thần thoại Bắc Âu, chúng ta được kể về con sói quỷ Fenrir đã phá hủy những chiếc cùm và xích sắt  rồi cuối cùng bị giam cầm nơi tận cùng  lòng đất. Người ta còn nói rằng, cùng với thời kì thoái trào của các vị thần – kết thúc của thế giới – con quỷ cũng sẽ thoát khỏi nhà ngục và sau đó nhai ngấu ngiến vầng thái dương. Ở điểm này, vì thế, sói dường như là biểu tượng cho nguyên lý của cái ác, trong khuôn mẫu của những ý tưởng có liên quan một cách không thể hoài nghi được với thuyết sáng thế của phái Ngộ-đạo. Thần thoại Bắc Âu giả định rằng trật tự vũ trụ là khả thể chỉ nhờ việc  khống chế tạm thời sự hỗn độn và khả năng phá huỷ của vũ trụ – một khả năng mà (thông qua quá trình của Sự đảo ngược biểu tượng) cuối cùng phải giành đươc thắng lợi. Thần thoại đó cũng nối kết với tất cả những ý niệm khác về sự hủy diệt  cuối cùng của thế giới, dù bằng nước hay  bằng lửa.

Trịnh Thìn dịch

Chú thích của tác giả:

(8) B. G. P. Diccionario universal de la mitología. Barcelona, 1835

Nguồn:
Cirlot, J. E. “Wolf” A Dictionary of Symbols. Trans. Jack Sage. 2nd edition. London: Routledge, 1971

Umberto Eco – Sức tưởng tượng ảo

 

Umberto Eco

Sức tưởng tượng ảo

Duy Đoàn chuyển ngữ

Bằng sức mạnh của máy tính và internet, liệu sách có bị biến đổi thành “cấu trúc siêu văn bản” vô hạn mà tại đó độc giả cũng là tác giả?

Ngày nay, tồn tại hai dạng sách: những cuốn để đọc và những cuốn để tham khảo. Với sách-để-đọc, bạn bắt đầu ở trang 1, chẳng hạn tại đó tác giả bảo bạn biết về một hành vi phạm tội. Bạn theo dõi đến cuối sách, khi đó bạn phát hiện ra ai có tội. Kết thúc cuốn sách; kết thúc trải nghiệm đọc. Chuyện tương tự xảy ra cho dù bạn đọc triết, Husserl chẳng hạn. Tác giả mở màn ở trang đầu, và dõi theo một chuỗi các tra vấn nhằm cho bạn thấy được cách ông ta đi đến kết luận.

Dĩ nhiên bách khoa thư không bao giờ được làm để đọc từ bìa này đến bìa nọ. Nếu tôi muốn biết liệu Napoleon có thể gặp Kant hay không, tôi lấy quyển K và N và phát hiện rằng Napoleon sinh năm 1769 và chết năm 1821, và Kant sinh năm 1724 và chết năm 1804. Có thể hai người này đã gặp nhau. Để biết chính xác, tôi tham khảo tiểu sử của Kant. Tiểu sử của Napoleon, người đã gặp nhiều người, có thể bỏ qua cuộc gặp gỡ với Kant; tiểu sử của Kant hẳn sẽ không bỏ qua thế.

Máy tính đang bắt đầu thay đổi tiến trình đọc. Với một siêu văn bản, ví dụ vậy, tôi có thể yêu cầu tất cả mọi trường hợp trong đó tên của Napoleon có liên kết với Kant. Tôi có thể làm việc đó trong vài giây. Siêu văn bản sẽ khiến bách khoa thư giấy bị lỗi thời. Nhưng mặc dù máy tính đang lan ra một hình thức đọc viết mới, nhưng chúng không thể thoả mãn tất cả các nhu cầu trí tuệ mà chúng kích thích. Continue reading

Graham Allison – Làm thế nào một cuộc thế chiến nữa có thể xảy ra?

 

Graham Allison

Làm thế nào một cuộc thế chiến nữa có thể xảy ra?

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Đánh giá những tương đồng và những khác biệt giữa năm 1914 và 2014.

Tháng [Bảy] này vào một thế kỉ trước, châu Âu đứng trước nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tàn khốc khiến cho các sử gia phải tạo ra một hạng mục mới: “Thế chiến”. Không nhà lãnh đạo nào ở thời điểm đó có thể hình dung vùng đất hoang tàn mà họ sẽ sống tại đó bốn năm sau. Tới năm 1918, mỗi nhà lãnh đạo đều đã mất đi thứ họ yêu dấu nhất: kaiser (hoàng đế Đức) bị truất bỏ, Đế chế Áo-Hung bị giải thể, tsar (Nga hoàng) bị giới Bolshevik lật đổ, nước Pháp chịu khổ cả một thế hệ, và nước Anh bị tước đi thời thanh xuân và của cải của mình. Một thiên niên kỉ làm chủ địa cầu của các nhà lãnh đạo Âu châu đã khựng lại lúc đó.

Điều gì gây nên tai ương này? Tổng thống John F. Kennedy thích châm chọc các vị đồng sự của mình bằng câu hỏi ấy. Khi đó ông ta sẽ nhắc cho họ nhớ câu trả lời ưa thích của mình, trích lại lời Thủ tướng Đức Theobald von Bethmann Hollweg:  “À, giá như chúng ta biết được.” Lúc xảy ra Cuộc khủng hoảng Tên lửa Cuba năm 1962, Kennedy tự thấy mình “mặt đối mặt” với nhà lãnh đạo Soviet Nikita Khrushchev, và đưa ra những quyết định mà ông biết có thể làm cả trăm triệu người chết ngay, khi đó ông chiêm nghiệm về những bài học năm 1914. Ở vài thời điểm quyết định, ông điều chỉnh những điều ông có khuynh hướng sẽ thực hiện để nỗ lực tránh lặp lại những sai lầm đó của các nhà lãnh đạo.

Khi họ chọn cách đáp ứng những cam kết, hay không, điều động quân đội trong sớm muộn, những kẻ tham gia vào Thế chiến thứ nhất đồng loạt tìm cách định hình khung nhận thức của công chúng về cuộc khủng hoảng này. Mỗi bên tìm cách trách cứ kẻ thù của mình. Sau cuộc thảm hoạ đó, những kẻ chiến thắng tự cho mình cái quyền đáng kể với các dữ kiện nhằm biện minh cho việc trừng phạt kẻ chiến bại. Hiệp ước Versailles áp đặt những hình phạt hà khắc đến mức tạo điều kiện nổ ra Thế chiến thứ nhì chỉ hai thập niên sau đó. Cũng dễ hiểu khi màn kịch lớn này đã định hình những giải thích của sử gia về các nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến. Nhưng như kết luận thẳng thừng từ cuốn sách xuất sắc nhất trong những cuốn sách mới về cuộc xung đột này, cuốn The Sleepwalkers, thì ta có thể tập hợp những bằng chứng có được nhằm ủng hộ cho một loạt những khẳng định gây thách thức. “Việc bùng nổ cuộc chiến năm 1914 không phải là một kịch bản kiểu Agatha Christie mà kết cuộc ta sẽ khám phá ra kẻ phạm tội đứng trên một xác chết nào đó trong phòng bảo quản với khẩu súng lục bốc khói,” Clark viết như thế. “Trong câu chuyện này không có khẩu súng bốc khói nào cả; hoặc, thay vào đó, là có một khẩu nằm trong tay của mọi nhân vật chính.” Continue reading

Joshua Rothman – Ý tưởng về tính riêng tư của Virginia Woolf

Virginia Woolf's idea of privacy

Ảnh: E. O. Hoppe/Mansell/Time Life Pictures/Getty

Joshua Rothman

Ý tưởng về tính riêng tư của Virginia Woolf

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Những ngày này, khi ta dùng từ “tính riêng tư”, thì nó thường mang nghĩa chính trị. Chúng ta quan tâm đến người khác và cách họ có thể ảnh hưởng đến mình. Ta nghĩ về cách họ có thể dùng thông tin về chúng ta cho mục đích của riêng họ, hoặc can thiệp vào những quyết định mà đúng ra là của ta. Ta để tâm đến những dòng ngăn cách đời sống công cộng với đời sống riêng tư. Chúng ta có cái mà bạn có thể gọi là cảm thức về tính riêng tư của một công dân.

Đó là một cách nghĩ quan trọng về tính riêng tư, hiển nhiên rồi. Nhưng còn có những cách khác. Một trong số đó đã được bày tỏ vô cùng ấn tượng ở tác phẩm “Mrs. Dalloway”, trong một cảnh nổi tiếng ở đầu sách. Đó là một cảnh hồi tưởng, từ lúc mà Clarissa [Dalloway] còn là một thiếu nữ. Đêm nọ, cô nàng ra ngoài đi dạo với một số người bạn: hai cậu trai phiền hà, Peter Walsh và Joseph Breitkopf, và một cô gái, Sally Seton. Sally hấp dẫn, thông minh, có kiểu Bohemia – sở hữu “một dạng phóng túng, như thể cô nàng có thể nói bất kì điều gì, làm bất kì điều gì.” Hai cậu trai đi ở phía trước, lạc mình trong cuộc chuyện trò tẻ nhạt về Wagner, trong khi hai cô gái bị bỏ lại đằng sau. “Đoạn, xuất hiện cái thời khắc tuyệt diệu nhất trong cả đời nàng khi đi ngang qua một cái bình bằng đá với những bông hoa ở trong.” Sally cầm lên một đoá hoa từ cái bình và hôn lên môi Clarissa:

“Cả cõi sống này như thể lộn ngược xuống vậy! Những người kia biến mất, nơi đây nàng một mình cùng với Sally. Và nàng cảm thấy rằng mình đã được trao một món quà, được gói ghém lại, và được bảo là hãy giữ nó, chứ đừng nhìn vào nó – một viên kim cương, một thứ chi đó quý giá vô ngần, được gói ghém lại, cái mà, khi họ đi bộ (đi lên đi xuống, đi lên đi xuống), nàng khám phá ra, hoặc cái mà ánh hào quang toả khắp, sự mạc khải, cảm giác tín ngưỡng đó!”

Woolf thường hình dung cuộc sống theo cách này: như một món quà mà bạn được trao cho, cái mà bạn phải giữ cho mình và trân trọng nó nhưng không bao giờ mở ra. Việc mở nó ra sẽ xua đi cái không khí đó, sẽ làm tiêu tan ánh hào quang kia – và ánh hào quang của cuộc đời là thứ khiến đời này đáng sống. Thật khó để nói việc giữ lấy cuộc sống mà không nhìn vào nó có thể mang ý nghĩa chi; đó là một trong những câu đố của những tác phẩm của bà. Nhưng nó có liên quan chi đó tới bí ẩn của việc gìn giữ cuộc sống; tới việc để lại những thứ không được mô tả, không được chỉ rõ, và không được biết đến; tới những cảm xúc tận hưởng nhất định, chẳng hạn như tính tò mò, ngạc nhiên, ham muốn, và tính đề phòng. Nó phụ thuộc vào cảm thức càng lúc càng lớn về sự quý giá và mỏng manh của cuộc sống, và phụ thuộc vào quan niệm kiểu Heisenberg rằng, khi phải dùng tới những trực giác trừu tượng nhất và thuộc về tinh thần nhiều nhất của chúng ta, thì việc nhìn quá sát sao sẽ làm thay đổi những điều ta cảm nhận. Nói cách khác, nó liên quan đến một dạng riêng tư nội tại, mà nhờ đó bạn che chở bản thân mình không chỉ tránh khỏi những cặp mắt xoi mói của người khác, mà còn tránh khỏi chính mình nữa. Hãy gọi nó là cảm thức riêng tư của một nghệ sĩ. Continue reading

[Scientific American] Thế giới không có ý chí tự do

Tác giả: Azim F. Shariff & Kathleen D. Vohs

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Vào tháng 7 năm 2008, Brian Thomas, một công nhân ngành thép đã nghỉ hưu, cùng cô vợ Christine lái chiếc xe dã ngoại đến một ngôi làng nhỏ ven biển ở xứ Wales. Cảm thấy phiền nhiễu từ đám đàn ông đang phô diễn ầm ĩ trên mấy chiếc xe máy, hai vợ chồng này chuyển tới bãi đậu xe của một quán trọ gần đó. Sau đó vào buổi đêm, Thomas mơ thấy một trong những tay cưỡi xe máy kia đột nhập vào xe. Khi ngủ, anh nhầm vợ mình với tay cưỡi xe máy tưởng tượng kia và bóp cổ cô ấy đến chết. Anh ta đã kể câu chuyện này như thế.

Năm sau đó, bồi thẩm đoàn phải quyết định liệu Thomas có phạm tội sát nhân không. Bồi thẩm đoàn biết được rằng anh đã mắc phải chứng mộng du từ thuở nhỏ. Một bác sĩ tâm thần lão luyện giải thích rằng Thomas không nhận thức được mình đang làm gì khi bóp cổ vợ mình và anh ta không chọn cách tấn công cô ấy bằng ý thức của mình. Thomas sau đó được tự do.

Những vụ như thế buộc người ta phải xem xét việc có ý chí tự do có ý nghĩa gì. Trong lúc mộng du, bộ não rõ ràng có thể chỉ thị cho hành động của người ta mà không cần đến sự hợp tác hoàn toàn của ý thức. Gần đây, càng lúc càng nhiều triết gia và những nhà khoa học thần kinh lập luận – dựa trên sự hiểu biết hiện thời về bộ não con người – rằng ở chừng mực nào đó thì hết thảy chúng ta đều mộng du ở mọi thời điểm. Thay vì làm chủ cuộc sống theo ý hướng bản thân, chúng ta hoàn toàn bị đưa đẩy bởi những sự kiện quá khứ và những mưu đồ của tâm trí vô thức diễn ra bên dưới. Thậm chí khi chúng ta tỉnh thức hoàn toàn, thì ý chí tự do chỉ là một ảo tưởng.

Các triết gia với quan điểm này đã lập luận rằng toàn bộ các sinh vật đều bị ràng buộc bởi các quy luật vật lí của một vũ trụ mà trong đó mọi hành động đều là kết quả của những sự kiện trước. Con người là những sinh vật. Do đó, hành vi con người là kết quả từ một chuỗi nhân quả phức hợp vốn dĩ vượt khỏi tầm kiểm soát của ta hoàn toàn. Vũ trụ này đơn giản là không cho phép có ý chí tự do. Những nghiên cứu khoa học thần kinh gần đây đã tiếp thêm nhiên liệu cho quan niệm đó bằng cách đề xuất ý rằng cái trải nghiệm của sự chọn lựa có ý thức là kết quả của những tiến trình xử lí não bộ bên dưới vốn là thứ sinh ra hành động con người, chứ không phải là nguyên nhân của những tiến trình đó. Bộ não chúng ta quyết định mọi thứ mình làm mà không cần “ta” giúp – chỉ là cảm giác giống như ta làm được vậy mà thôi.

Tất nhiên không phải ai cũng đồng ý, và cuộc tranh luận về sự tồn tại của ý chí tự do sẽ tiếp tục trào lên. Tuy nhiên, chúng tôi cảm thấy hiếu kì về một vấn đề liên quan cũng có tầm quan trọng tương đương: Chuyện gì xảy đến khi niềm tin của con người vào ý chí tự do – cho dù có được biện minh hay không – lại bị lung lay? Liệu một xã hội thời hậu ý chí tự do (post-free will), hoặc nói đúng hơn là một xã hội sau cái thời người ta có niềm tin vào ý chí tự do, thì sẽ trông ra sao? Nghiên cứu của chúng tôi trong vấn đề này đã đưa ra những manh mối cho một câu trả lời, một số làm người ta thấy bất an. Cụ thể, chúng tôi thấy được những dấu hiệu cho biết nếu thiếu đi niềm tin vào ý chí tự do thì kết cuộc là cấu trúc xã hội sẽ bị phá huỷ tan tành. Continue reading

Margaret Atwood – Những đoạn kết có hậu

 

Margaret Atwood

Những đoạn kết có hậu

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

John và Mary gặp nhau.

Chuyện gì xảy đến tiếp theo?

Nếu bạn muốn một cái kết có hậu, hãy thử trường hợp A.

A. John và Mary yêu nhau và cưới nhau. Cả hai đều có việc làm xứng đáng và lương cao, và họ đều thấy công việc mình làm thật hào hứng và kích thích. Họ mua một căn nhà duyên dáng. Giá bất động sản tăng lên. Sau rốt, khi họ có thể thuê một người làm ở tại nhà mình, thì họ có được hai đứa con, và dành hết thời giờ cho chúng. Bọn trẻ lớn lên khoẻ mạnh. John và Mary có đời sống tình dục hào hứng và kích thích và có những người bạn xứng đáng. Họ đi nghỉ mát vui vẻ bên nhau. Họ nghỉ hưu. Cả hai đều có những thú vui mà họ thấy thật hào hứng và kích thích. Sau rốt họ chết. Đến đây câu chuyện kết thúc.

B. Mary phải lòng yêu John nhưng John thì không yêu Mary. Anh ta chỉ dùng thân xác cô nàng cho những lạc thú riêng mình và để làm vừa lòng đại khái cho cái tôi của mình. Anh đến căn hộ của cô hai lần mỗi tuần và cô nàng nấu bữa tối cho anh ta, bạn sẽ để ý thấy là anh ta thậm chí không nghĩ cô nàng đáng giá để dẫn ra ngoài ăn nữa, và sau khi ăn xong bữa tối anh ta giao cấu với cô nàng và sau đó đi ngủ, còn cô nàng thì rửa chén đĩa để anh ta không nghĩ là cô nàng bề bộn khi để chén đĩa dơ bẩn nằm khắp nơi, và thoa thêm lớp son môi để trông thật tươi tắn khi anh ta thức dậy, nhưng khi thức dậy thì anh ta thậm chí còn không để ý tới, anh ta mang vớ, mặc quần cụt, quần dài, áo, cà-vạt, và mang giày vào, một trình tự đảo ngược so với trình tự anh cởi chúng ra. Anh không cởi đồ Mary ra, cô nàng tự mình cởi ra, cô nàng làm như thể lần nào cô nàng muốn nó đến chết vậy, không hẳn là vì cô nàng thích chuyện tình dục, cô nàng không thích, nhưng cô nàng muốn John nghĩ là cô nàng có thích bởi vì nếu họ làm chuyện đó đều đặn thì chắc chắn anh ta sẽ quen mùi cô nàng, anh ta sẽ trở nên phụ thuộc vào cô nàng và họ sẽ cưới nhau, nhưng John đi ra cửa mà thậm chí không một lời chúc ngủ ngon và ba ngày sau anh trở lại vào sáu giờ và họ làm lại toàn bộ chuyện đó.

Mary thấy kiệt sức. Khóc sẽ làm gương mặt bạn tệ đi, ai cũng biết chuyện đó và Mary cũng thế nhưng cô nàng không ngừng lại được. Những người ở chỗ làm để ý tới. Bạn cô nàng bảo rằng John là một con chuột, một con lợn, một con chó, anh ta không xứng với cô nàng, nhưng cô nàng không tin điều đó. Bên trong John, cô nàng nghĩ, là một John khác, tốt hơn. John khác này sẽ xuất hiện như con bướm chui ra từ kén vậy, như thằng hề nhảy ra khỏi cái hộp, như cái hột từ quả mận khô vậy, nếu John đầu tiên ấy bị ép lại vừa đủ. Continue reading

Về bộ phim Kaze tachinu (The Wind Rises, 2013) của Miyazaki Hayao

The Wind Rises (2013)

Lời nói đầu: Tác phẩm mới nhất và có lẽ cũng là cuối cùng của bậc thầy hoạt hình Nhật Miyazaki Hayao. Cả bộ phim nói về một người sống hết lòng vì ước mơ, và làm hết mình để thực hiện hoài bão của mình, dẫu cho kết quả của hoài bão ấy thật là kinh khủng và gây ra thật nhiều tai ương. Tình tiết câu chuyện trong phim nhiều chỗ lãng đãng như mây trời, nhiều chỗ lấp lửng, thi vị tựa như một bài thơ. Những cơn gió dịu dàng thì thật dễ chịu, nhưng khi chúng nhân bội lên thì cũng thật đáng sợ. Chúng mang cô gái đến với anh, mà cũng mang cô gái đi khỏi anh; chúng đem đến cho anh niềm vui thích ở chuyện bay lượn, mà cũng cuốn phăng đi sức lực và tinh thần nơi anh, và cả đất nước anh nữa.

Thế đấy, được đó, mất đó, gió cứ nổi, dòng đời cứ trôi, và ta vẫn phải sống.

Bộ phim này còn dấy lên nhiều chuyện tranh cãi, chủ yếu xoay quanh việc Miyazaki làm một phim về việc sản xuất máy bay dùng cho chiến tranh. Sau đây là một bài viết trên trang NPR về vấn đề này.

Continue reading

[National Geographic] Việc trồng trọt tác động đến tư duy con người

Tác giả: Ed Yong

Duy Đoàn chuyển ngữ

What you farm affects your thinking

Ảnh: Jim Richardson, National Geographic Creative

 

Lúa gạo và lúa mì không chỉ làm lương thực cho nhân loại. Chúng còn tác động đến cách họ tư duy – theo rất nhiều cách khác nhau.

Đây là kết quả một nghiên cứu được công bố vào ngày 9/5/2014 trên tập sang Science, trong đó họ so sánh những người đến từ những vùng khác nhau của Trung-quốc. Các nhà nghiên cứu, dẫn đầu là Thomas Talhelm thuộc trường University of Virginia (Charlottesville, Mĩ), đã phát hiện rằng những người đến từ những vùng trồng lúa gạo có lối tư duy tương thuộc nhau nhiều hơn và hướng đến tổng thể hơn so với những người đến từ những khu vực trồng lúa mì.

Talhelm cho rằng những khác biệt này nảy sinh bởi vì người ta cần hợp tác nhiều hơn và nỗ lực chung nhiều hơn trong việc trồng lúa gạo so với việc trồng lúa mì. Để gieo trồng và gặt hái lúa được thành công, các nông dân phải làm việc cùng nhau nhằm tạo dựng nên những hệ thống tưới tiêu phức tạp và thiết lập những trao đổi lao động với nhau. Qua thời gian, nhu cầu làm việc nhóm này đã nuôi dưỡng tâm lí tương thuộc và hướng đến tập thể. Tuy nhiên, lúa mì lại có thể phát triển độc lập, thế nên những nông dân lúa mì trở thành những người cá nhân chủ nghĩa hơn. Continue reading