Alex Lickerman – Nhìn lại nguyên nhân thực sự của độc ác

null

Nguyên nhân thực sự đằng sau việc con người đối xử tàn ác với nhau.
Xuất bản ngày 23/06/2013 của tác giả Alex Lickerman, M.D. trong Hạnh phúc trong thế giới này (Happiness in this World)

Hồi học lớp bảy, có một lần, khi đang ở trong phòng thay đồ trước giờ thể dục, tôi bắt gặp một nhóm bạn cùng lớp đang bắt nạt một cậu bạn tên Pino chỉ vì cậu ta có ngực (hội chứng có tên gynecomastia – đôi khi xuất hiện ở các cậu bé vào tuổi dậy thì, thông thường sẽ tự biến mất). Tôi đã không dám đứng ra bảo vệ cậu ấy, bởi tôi sợ rằng chúng sẽ chĩa mũi dùi sang mình, nhưng tôi vẫn nhớ cái cảm giác tội lỗi với Pino và luôn tự hỏi tại sao con người ta có thể đối xử tàn ác với người khác dễ dàng đến thế.

Một điều thường thấy là trẻ con có thể hành xử tệ hại với đứa này đứa kia trong những giai đoạn phát triển nhất định của chúng, có thể nhẫn tâm bắt nạt những đứa bé khác nhưng bằng cách nào đó mà khi trưởng thành đứa trẻ đó vẫn có thể trở thành một người biết cư xử, biết bỏ lại sau lưng quá khứ xấu xa của bản thân khi còn ở thủa thiếu thời (đương nhiên, đáng tiếc là không phải đứa trẻ nào cũng làm được điều đó, nhiều đứa đã không thể cứ như vậy mà bỏ lại mọi thứ sau lưng được, thường là do xung động tuổi trẻ, tính độc ác hay do chúng bị người lớn bỏ bê, thiếu quan tâm). Phần lớn chúng ta đều cho rằng trẻ nhỏ mà có hành vi tàn ác là không thể chấp nhận được vì khi đã trưởng thành, chúng ta thường có xu hướng trấn áp, chấm dứt hành vi đó ngay khi ta nhận biết được về chúng. Và ngay cả khi ta đã biết được nguồn cơn của những hành vi độc ác ấy, chúng ta vẫn cứ cố áp đặt rằng bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể trở thành nạn nhân của hành vi đó, và hơn thế nữa, cho rằng về cơ bản thì giết người hay chiến tranh đều gây ra phản ứng tương tự nhau. Continue reading

Advertisements

[Điểm phim] The Kingdom of Dreams and Madness (2013)

The Kingdom of Dreams and Madness (2013)

Bộ phim tài liệu này chủ yếu chú trọng vào Miyazaki Hayao và tác phẩm cuối cùng của ông, Kaze tachinu (The Wind Rises). Phim cho người xem cái nhìn tổng quan về quá trình làm việc của Studio Ghibli nói chung và Miyazaki nói riêng.

Cho đến giai đoạn cuối cùng của mình, thì Miyazaki (và cả Ghibli) đều trung thành với việc làm phim hoạt hình bằng phương thức vẽ tay. Cả hãng Ghibli 400 nhân viên thì hết 100 người được huy động để thực hiện Kaze tachinu, dưới sự giám sát và chỉ dẫn chặt chẽ của Miyazaki: từ động tác đi của nhân vật, đến cách phát ngôn, hành vi theo phong tục, nhất nhất đều chính xác từng li từng tí, nhằm phù hợp với thời đại bối cảnh trong phim. Continue reading

Loretta Graziano Breuning – Dừng so sánh bản thân với những người khác, và thế giới của bạn được cải thiện ngay

null

Chúng ta gây đau đớn cho bản thân khi chúng ta so sánh mình với những người khác, vậy tại sao chúng ta vẫn tiếp tục làm việc đó? Vì các loài động vật so sánh bản thân chúng với những con vật khác, và chúng ta được thừa hưởng bộ não tạo ra sự thôi thúc (so sánh) này.

Các loài động vật luôn luôn nhìn nhau, kiểm tra nhau. Sự sinh tồn của chúng phụ thuộc vào điều đó, và những hoá chất não bộ của chúng phản ứng với những cảm giác sinh tử. Chúng ta cũng có những hoá chất não bộ tương tự, và chúng đem đến cho bạn cảm giác rằng cuộc sống của bạn đang bị đe doạ khi bạn nhìn thấy một ai đó có những cặp sừng to hơn. Khi cặp sừng của bạn sắc, bạn có được cảm giác an toàn. Chọn lọc tự nhiên tạo nên một bộ não ban thưởng cho bạn một cảm giác tốt khi bạn nhìn thấy một cách để tăng sự tồn tại của bạn, và cảnh báo bạn bằng một cảm giác tiêu cực khi bạn nhìn thấy bất kỳ mối đe doạ nào đến sự tồn tại của gen của bạn.

Bạn có lẽ từng nghe nói rằng các con vật hợp tác, và cuộc sống đó là ấm áp trong điều kiện tự nhiên. Bạn nên biết phần còn lại của câu chuyện vì serotonin của bạn phụ thuộc vào nó. Bộ não động vật có vú phóng thích serotonin khi nó nhìn thấy nó vượt trội hơn con vật khác. Cảm giác tốt đẹp thúc đẩy một con vật có vú làm những việc để kích thích serotonin. Serotonin không phải là một cảm giác xung hấn mà là một cảm giác êm dịu rằng những nhu cầu của bạn sẽ được đáp ứng. Tôi đang nói rằng bạn phải quản lý được những cảm giác chiếm ưu thế của bạn thay vì đổ lỗi cho thế giới vì chúng. Continue reading

[The Atlantic] Bậc thầy trong tình yêu hay khoa học của hạnh phúc đến trọn đời

Tác giả: Emily Esfahani Smith

null

Mỗi ngày trong tháng sáu, mùa cưới trong năm ở nước Mỹ, khoảng 13.000 cặp vợ chồng sẽ nói lời cam kết cho một cuộc hôn nhân đến trọn đời, một mối quan hệ đầy tình bạn, niềm vui và tình yêu sẽ theo họ đến tận ngày cuối cùng trên trái đất này.

Dĩ nhiên, ngoại trừ việc là nó không diễn ra như vậy với hầu hết mọi người. Đa số các cuộc hôn nhân thất bại, hoặc kết thúc bằng ly dị hay ly thân, hay biến thành mối quan hệ đầy cay đắng và khủng hoảng. Trong số những người kết hôn, chỉ có 3 trong số 10 người giữ được cuộc hôn nhân lành mạnh, hạnh phúc, như nhà tâm lý học Ty Tashiro chỉ ra trong cuốn Khoa học của Hạnh phúc đến Trọn đời (The Science of Happily Ever After) xuất bản vào đầu năm nay.

Các nhà khoa học xã hội bắt đầu nghiên cứu hôn nhân bằng cách quan sát chúng lần đầu tiên trong những năm 70 để tìm giải pháp cho một cuộc khủng hoảng: Các cặp vợ chồng ly dị với tỷ lệ chưa từng có. Lo ngại về ảnh hưởng của những vụ ly hôn này lên con cái trong gia đình, các nhà tâm lý học quyết định tung lưới lên các đôi vợ chồng, lôi họ vào phòng thí nghiệm để quan sát và xác định xem thành phần của mối quan hệ lành mạnh, lâu bền là gì. Có phải mỗi gia đình bất hạnh đều bất hạnh theo cách riêng của họ như Tolstoy từng tuyên bố, hay những cuộc hôn nhân đau khổ đều có chung một yếu tố độc hại nào đó?

Nhà tâm lý học John Gottman là một trong những nhà nghiên cứu đó. Trong bốn thập kỷ qua, ông đã nghiên cứu hàng ngàn cặp vợ chồng trong công cuộc tìm kiếm cái gì khiến các mối quan hệ thành công. Gần đây tôi có cơ hội phỏng vấn Gottman và vợ ông Julie, cũng là một nhà tâm lý học, ở thành phố New York. Hai chuyên gia nổi tiếng về hôn nhân này cùng nhau quản lý Học viện Gottman, nơi họ giúp các đôi vợ chồng xây dựng và duy trì mối quan hệ lành mạnh và yêu thương dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học.

John Gottman bắt đầu thu thập những phát hiện quan trọng nhất của ông vào năm 1986 khi ông thành lập “Phòng Thí nghiệm Tình yêu” với đồng nghiệp Robert Levenson tại trường Đại học Washington. Gottman và Levenson đưa các cặp mới cưới vào phòng thí nghiệm và quan sát họ tương tác với nhau. Cùng một đội ngũ các nhà nghiên cứu, họ nối những người tình nguyện vào các cực điện và đề nghị họ nói về mối quan hệ của mình, như là họ đã gặp nhau thế nào, một xung đột lớn mà họ đối mặt cùng nhau, một kỷ niệm tốt lành mà họ có. Trong khi họ nói, các cực điện đo lưu lượng máu, nhịp tim và lượng mồ hôi tiết ra. Rồi những nhà nghiên cứu cho các đôi đi về và hẹn gặp họ lại sáu năm sau để xem họ còn sống với nhau không. Continue reading

[Scientific American] Huấn luyện bộ não không làm bạn thông minh hơn

Tác giả: David Z. Hambrick

null

Nếu bạn dành nhiều hơn 5 phút lướt web, nghe radio hoặc xem tv cách đây vài năm, thì bạn sẽ biết rằng việc huấn luyện nhận thức hay còn gọi là “huấn luyện bộ não” là một trong những xu hướng mới, hot nhất về cải thiện bản thân. Lumosity, cung cấp những nhiệm vụ dựa trên web được thiết kế để cải thiện những khả năng nhận thức như trí nhớ và chú ý, khoe khoang là có 50 triệu người đăng ký và quảng cáo trên đài quốc gia. Cogmed tuyên bố là “một giải pháp dựa trên máy tính cho những vấn đề về chú ý bị gây ra bởi trí nhớ ngắn hạn kém,” và BrainHQ sẽ giúp bạn “tận dụng tối đa bộ não duy nhất của bạn.” Lời hứa hẹn của tất cả những sản phẩm đó, ngầm hoặc công khai, đó là việc huấn luyện bộ não có thể làm bạn thông minh hơn – và làm cho cuộc sống của bạn tốt hơn.

Nhưng, theo một tuyên bố của Stanford University Center on Longevity và the Berlin Max Planck Institute for Human Development, không có bằng chứng khoa học vững chắc ủng hộ lời hứa hẹn này. Được ký tên bởi 70 nhà tâm lý học nhận thức và nhà khoa học thần kinh hàng đầu thế giới, tuyên bố này là rõ ràng và trực tiếp:

“Sự nhất trí mạnh mẽ của nhóm này đó là tài liệu khoa học không ủng hộ những tuyên bố cho rằng việc sử dụng “những trò chơi cho bộ não” dựa trên phần mềm làm thay đổi chức năng thần kinh theo những cách làm cải thiện năng lực nhận thức nói chung trong cuộc sống hằng ngày, hoặc ngăn ngừa sự trì độn nhận thức và bệnh về não.

Tuyên bố cũng lưu ý rằng dù một số công ty về huấn luyện bộ não “đưa ra những danh sách gồm những ý kiến khoa học được uỷ nhiệm và những đăng ký về các nghiên cứu khoa học thích hợp cho việc huấn luyện nhận thức…nghiên cứu được trích dẫn[thường] chỉ liên quan đến những tuyên bố mang tính khoa học của công ty, và những game họ bán.” Continue reading

Tầm quan trọng của những kinh nghiệm được chia sẻ cùng nhau

Hai nghiên cứu mới chỉ ra rằng những cuộc phiêu lưu lạ thường được đánh giá quá mức – trừ khi bạn trải nghiệm chúng cùng với người khác.

null
Những người tham gia lễ hội ném cà chua được tổ chức hàng năm ở Tây Ban Nha hôn nhau

Khi được trao cho sự lựa chọn giữa việc đi bar cùng với Jessica Alba và đi bar cùng với nhóm bạn của chúng ta, phần lớn chúng ta có lẽ sẽ chọn cuộc hẹn với “Người phụ nữ quyến rũ nhất thế giới”. Nhưng có lẽ chúng ta nên nghĩ lại về sự lựa chọn đó và chọn một đêm uống bia khác với nhóm bạn.

Một nghiên cứu gần đây trên tờ Psychological Science cho thấy những kinh nghiệm khác thường có một phí tổn xã hội, chúng làm chúng ta xa lánh những người bạn bè đồng trang lứa của chúng ta. “Những kinh nghiệm lạ thường vừa khác biệt và tốt hơn những kinh nghiệm mà đa số những người khác có”, các tác giả nhận thấy “và vừa xa lạ và gây ghen tỵ là một công thức không chắc chắn để được yêu thích.”

Để kiểm tra giả thiết này, các nhà nghiên cứu thết đãi một nhóm sinh viên đại học một buổi xem phim. Có 68 người tham gia và được chia thành các nhóm bốn người. Một người từ mỗi nhóm được vào một phòng nhỏ để xem một video thú vị về một nhà ảo thuật đường phố tài năng đang biểu diễn những trò ảo thuật trước một đám đông đang tán dương. Ba người khác được phân vào xem một clip bình thường về một hoạt hình có kinh phí thấp. Mọi người được cho biết liệu họ được phân xem video nhàm chán hay là video thú vị. Continue reading

Jim Stone – 7 nguyên lý của “thiếu kiên nhẫn”

null
Nghe quen thuộc?

Đã bao giờ bạn muốn từ bỏ một bài báo mà bạn đang viết? Hay bỏ học luôn? Bạn đã bao giờ có một dự án rất hào hứng lúc đầu rồi trở nên chán nản khi những rối rắm không lường trước xuất hiện? Bạn đã bao giờ phải ngồi suốt buổi diễn kịch hay chiếu phim của trường mà bạn đã không còn hứng thú ngay từ cảnh đầu tiên? Bạn đã bao giờ phải chờ đợi quá lâu để xếp hàng, hay để khởi động máy tính, hay cảm thấy quá lâu mà Giáng sinh chưa đến?

Ai mà lại không có lúc trong tình cảnh như vậy, phải không? Chúng ta đều từng thiếu kiên nhẫn ở một thời điểm nào đó.

Và chúng ta đều đưa ra những quyết định vội vàng trước sự thiếu kiên nhẫn của chúng ta. Chúng ta bỏ một hàng mà chúng ta đang xếp để rồi chỉ phải xếp vào một hàng còn dài hơn. Chúng ta lấy pizza ra khỏi lò sớm hơn 2 phút bởi vì chúng ta không thể chờ. Hay chúng ta làm tồi tệ đi một mối quan hệ tốt đẹp bởi vì chúng ta không chắc rằng chuyện sẽ tới đâu, và chúng ta không thể chịu đựng sự không chắc chắn.

Chúng ta nhiều khi cũng trở nên kiên nhẫn quá mức, và bị kẹt trong những dự án, công việc, hay những mối quan hệ sau khi chúng ta thấy có chút lý do để kiên nhẫn.

Cái nào khiến chúng ta phải trả giá nhiều hơn trong cuộc sống? Lòng kiên nhẫn? Hay sư thiếu kiên nhẫn? Những người khác nhau sẽ có những câu trả lời khác nhau. Lý tưởng mà nói, chúng ta sẽ có câu trả lời đúng trong từng trường hợp. Chúng ta sẽ để cho sự thiếu kiên nhẫn lấn át khi việc thay đổi là cần thiết, và chúng ta kiên nhẫn giữ nguyên tình trạng khi “nguyên trạng” là quan trọng. Thật không may, chúng ta không thể nào đúng trong mọi tình huống.

Nhưng cái cốt lõi là, nếu chúng ta hiểu hơn về sự thiếu kiên nhẫn, việc đó sẽ cho chúng ta sức mạnh nhiều hơn để có thể đúng trong nhiều trường hợp. Và vì vậy tôi sẽ trình bày sau đây 7 nguyên lý của sự thiếu kiên nhẫn. Continue reading

[Điểm phim] Boyhood (2014) – Từ cậu bé bầu bĩnh cho đến chàng trai râu ria: Trưởng thành theo thời gian thực

Tác giả: Manohla Dargis

Lời người dịch: Phim Boyhood (2014) của đạo diễn Richard Linklater là một phim hết sức đặc biệt, vì quá trình quay kéo dài 12 năm liên tục (thời gian quay mỗi năm chưa đến một tuần) với cùng một dàn diễn viên. Sau khi xem phim, tôi đã tìm đọc một số bài điểm phim của các nhà phê bình thuộc các tờ lớn như New York Times, New Statesman, New Republic, The Village Voice, Sight & Sound, Film Comment, Film Quarterly, v.v., và thấy bài này của bà Manohla Dargis thuộc tờ New York Times là bài viết tốt nhất và tuy chưa phải là đầy đủ hết nhưng cũng gần như bày tỏ được chính xác những điều cần nói về phim này.

Deana Newcomb - IFC Films

Deana Newcomb – IFC Films

Cảnh đầu tiên trong “Boyhood”, bộ phim dịu dàng, sâu sắc của Richard Linklater, là cảnh bầu trời nhiều mây. Cảnh thứ nhì là về một cậu bé đang nhìn chăm chăm vào bầu trời đó, với một cánh tay gập lại đặt dưới đầu, còn cánh tay kia vươn ra trên mặt đất. Cậu là một đứa trẻ xinh xẻo với đôi mắt điềm đạm, cái mũi hếch và cái miệng có hàm răng kín kẽ. Đây là gương mặt mà bạn sắp biết và sắp sửa yêu quý bởi vì, cũng như đứa trẻ này đang quan sát cõi sống, bạn đang quan sát cậu ta lớn lên. Từ cảnh này qua cảnh nọ, bạn sẽ thấy nét cong ở hàm của cậu thay đổi, sẽ để ý thấy đường chân mày đậm dần lên và chứng kiến đôi cánh tay thanh mảnh của cậu dang rộng ra ôm lấy cả cõi sống cùng bầu trời sáng tỏ lẫn bầu trời đang dần tối.

Được quay hơn 12 năm liên tục, “Boyhood” xoay quanh Mason (Ellar Coltrane), lên 6 lúc câu chuyện bắt đầu và được 18 khi câu chuyện kết thúc. Trong khoảng thời gian nằm giữa, cậu đi học; cãi nhau với cô chị, Samantha (Lorelei Linklater, con gái đạo diễn); và quan sát người mẹ của mình, Olivia (Patricia Arquette), tranh đấu với công việc và với đàn ông trong lúc xoay xở thanh toán các loại hoá đơn, chuyển từ nhà này sang nhà khác và đạt được một số bằng cấp. Đôi khi, chồng cũ của bà, Mason Sr. (Ethan Hawke), lao vào đời bọn trẻ, ban đầu bằng chiếc 1968 GTO. Đó không phải là chiếc xe hơi của người cha (mặc dù nó có thuộc về một người cha: ông Linklater). Mà thay vào đó, nó cùng mẫu với chiếc ngầu ngầu nam tính gầm gừ xuyên suốt “Two-Lane Blacktop”, một trong những phim ưa thích của ông Linklater, và là chiếc mà ông đã tuồn vào những bộ phim như “Slacker” và “Dazed and Confused”. Continue reading

Cảm xúc nào tồn tại lâu hơn 240 lần so với những cảm xúc khác

Cảm xúc nào mất trung bình 4 ngày để qua đi, và tại sao?

Buồn bã là cảm xúc tồn tại lâu nhất trong các cảm xúc, một trong các nghiên cứu đầu tiên xem xét tại sao một số cảm xúc kéo dài lâu hơn nhiều so với những cảm xúc khác.

Khi so sánh với việc bị chọc giận, xấu hổ, ngạc nhiên, và thậm chí buồn chán; thì sự buồn bã tồn tại lâu hơn những cảm xúc khác.

Nghiên cứu được đăng trên tạp chí Motivation and Emotion, phát hiện thấy sự buồn bã có xu hướng gắn với các sự kiện có một tác động lâu dài quan trọng lên cuộc sống của con người, như sự mất người thân (Verduyn & Lavrijsen, 2014).

Saskia Lavrijsen, đồng tác giả của nghiên cứu, giải thích:

“Suy nghĩ nghiền ngẫm là yếu tố quyết định chính của việc tại sao một số cảm xúc tồn tại lâu hơn những cảm xúc khác.

Những cảm xúc gắn với mức độ nghiền ngẫm cao thì sẽ tồn tại lâu nhất.

Những cảm xúc có khoảng thời gian tồn tại ngắn hơn thì thường – nhưng tất nhiên, không phải luôn luôn- bị gây ra bởi những sự kiện tương đối kém quan trọng.

Mặt khác, những cảm xúc tồn tại lâu có xu hướng chỉ về một điều gì đó rất quan trọng.”

Các kết quả đến từ một cuộc khảo sát với 233 sinh viên được yêu cầu nhớ lại những trải nghiệm cảm xúc và chúng kéo dài bao lâu.

Sau đây là khoảng thời gian mà mỗi cảm xúc tồn tại, về trung bình:

null

Ở mức cực đoan, trong khi sự ghê tởm và xấu hổ có xu hướng mất đi trong 30 phút, thì sự buồn bã tiếp tục tồn tại trung bình khoảng 120 giờ.

Trong khi ấy, sự buồn chán có xu hướng mất đi trong một vài giờ, dù tất nhiên bạn cảm giác nó tồn tại lâu hơn!

Cũng có những kiểu mẫu thú vị trong số những cảm xúc có liên quan với nhau.

Ví dụ, sự sợ hãi có xu hướng tồn tại trong một thời gian ngắn, trong khi người anh em gần gũi của nó là sự lo lắng tồn tại lâu hơn nhiều.

Tương tự như vậy, sự xấu hổ qua đi tương đối nhanh, nhưng cảm giác tội lỗi có xu hướng ở lại lâu hơn nhiều.

Thanh Hằng dịch
Nguồn
http://www.spring.org.uk/2014/11/the-emotion-which-lasts-240-times-longer-than-others.php

Suy nghĩ cấm đoán (Forbidden thinking)

Tại sao tất cả chúng ta đều có những ý nghĩ đen tối đó, và tại sao một số người dính chặt vào những ý nghĩ đó.

null

Tất cả chúng ta đều có những thôi thúc đen tối (động lực ngầm). Không ai trong chúng ta muốn chúng. Nhưng, những nỗ lực để kìm nén chúng lại có thể gây hại. Xin cảnh báo trước: lực lượng lao động trong hệ thống giá trị của nền văn hoá chúng ta có thể làm chúng ta dễ bị tổn thương hơn trước những ý nghĩ cấm đoán–và ít khả năng để đương đầu với chúng.

Bạn đã từng có ý nghĩ lừa dối bạn đời của bạn chưa? Còn ý nghĩ tát vào mặt một đồng nghiệp đáng ghét thì sao? Hoặc đâm vào một số tên ngốc trên đường cao tốc? Bạn đã từng có những ý nghĩ về điều cấm kỵ hoặc tình dục hoang dại chưa? Hoặc ly dị? Hoặc bỏ nhà? Còn ý nghĩ hãm hại một ai đó thân thiết thì sao? Hoặc thậm chí hãm hại bản thân bạn? Cũng có những thứ lành hơn: ví dụ, Bạn có tưởng tượng về thức ăn khi bạn đang ăn kiêng? Có ai chưa từng hả hê trước sự bất hạnh của người khác hoặc thèm muốn ngôi nhà, chiếc xe hơi hoặc lối sống hào nhoáng của một người hàng xóm khi chúng ta muốn tưởng tượng bản thân có cuộc sống như thế?

Vài người trong chúng ta sẽ bác bỏ quan điểm cho rằng con người dành nhiều thời gian để nghĩ về những ý nghĩ mà tốt hơn không nên nghĩ tới.

Đa số chúng ta sẽ không bao giờ thực hiện những thôi thúc bị cấm đoán của chúng ta. Nhưng sự thật là chúng ta có thể nghĩ về những ý nghĩ đó cũng có thể làm chúng ta quá lo lắng đến nỗi chúng ta tốn nhiều nỗ lực kìm nén và giữ chúng bí mật. “Tôi không thể kể với chồng tôi”, Beth nhớ lại, một người mẹ dịu dàng của ba đứa con, sau khi trải qua những suy nghĩ điên rồ về việc làm hại các con của cô. “Tôi dành nhiều thời gian tự hỏi bản thân, ‘Điều này có ý nghĩa gì? Tôi đang bị bệnh?”

Chừng nào loài người còn tán dương những sức mạnh sáng tạo của tâm trí, thì chúng ta bị buộc phải đối mặt với phần đen tối, xấu xa của trí tưởng tượng: những ý nghĩ quá xấu hổ, quá đáng sợ, quá trái ngược với tục lệ xã hội và những nguyên tắc của riêng chúng ta mà chúng ta giật mình vì ghê tởm hoặc sợ hãi. Năm 1852, gần ba thập kỷ trước sự trở lại của tâm lý học hiện đại, tác giả Herman Melville cung cấp một trong những quan sát sâu sắc về cuộc sống của tâm trí. “Một người rùng mình suy nghĩ,” ông viết, “điều bí ẩn trong tâm hồn,…mặc cho cái tôi vô tội của cá nhân đó, sẽ vẫn mơ về những giấc mơ kinh khủng, và thì thầm những ý nghĩ không nên nói đến.”

Trong quá khứ, chúng ta đổ lỗi cho Cái ác vì những thôi thúc xấu xa đó, hoặc đổ lỗi cho nhân cách đạo đức yếu kém của chính mình. Chúng ta không xem những suy nghĩ tương đương với hành vi, và quở trách bản thân-hoặc bị người khác quở trách-để mỗi lần đều chà đạp lên những thứ tạp nham không thích đáng. (Không phải ngẫu nhiên mà, năm trong số bảy tội lỗi chết người – tức giận, hám lợi, ghen tỵ, tham lam, và dục vọng–chỉ cụ thể về những trạng thái của tâm trí.) Continue reading