[Scientific American] Huấn luyện bộ não không làm bạn thông minh hơn

Tác giả: David Z. Hambrick

null

Nếu bạn dành nhiều hơn 5 phút lướt web, nghe radio hoặc xem tv cách đây vài năm, thì bạn sẽ biết rằng việc huấn luyện nhận thức hay còn gọi là “huấn luyện bộ não” là một trong những xu hướng mới, hot nhất về cải thiện bản thân. Lumosity, cung cấp những nhiệm vụ dựa trên web được thiết kế để cải thiện những khả năng nhận thức như trí nhớ và chú ý, khoe khoang là có 50 triệu người đăng ký và quảng cáo trên đài quốc gia. Cogmed tuyên bố là “một giải pháp dựa trên máy tính cho những vấn đề về chú ý bị gây ra bởi trí nhớ ngắn hạn kém,” và BrainHQ sẽ giúp bạn “tận dụng tối đa bộ não duy nhất của bạn.” Lời hứa hẹn của tất cả những sản phẩm đó, ngầm hoặc công khai, đó là việc huấn luyện bộ não có thể làm bạn thông minh hơn – và làm cho cuộc sống của bạn tốt hơn.

Nhưng, theo một tuyên bố của Stanford University Center on Longevity và the Berlin Max Planck Institute for Human Development, không có bằng chứng khoa học vững chắc ủng hộ lời hứa hẹn này. Được ký tên bởi 70 nhà tâm lý học nhận thức và nhà khoa học thần kinh hàng đầu thế giới, tuyên bố này là rõ ràng và trực tiếp:

“Sự nhất trí mạnh mẽ của nhóm này đó là tài liệu khoa học không ủng hộ những tuyên bố cho rằng việc sử dụng “những trò chơi cho bộ não” dựa trên phần mềm làm thay đổi chức năng thần kinh theo những cách làm cải thiện năng lực nhận thức nói chung trong cuộc sống hằng ngày, hoặc ngăn ngừa sự trì độn nhận thức và bệnh về não.

Tuyên bố cũng lưu ý rằng dù một số công ty về huấn luyện bộ não “đưa ra những danh sách gồm những ý kiến khoa học được uỷ nhiệm và những đăng ký về các nghiên cứu khoa học thích hợp cho việc huấn luyện nhận thức…nghiên cứu được trích dẫn[thường] chỉ liên quan đến những tuyên bố mang tính khoa học của công ty, và những game họ bán.” Continue reading

Tầm quan trọng của những kinh nghiệm được chia sẻ cùng nhau

Hai nghiên cứu mới chỉ ra rằng những cuộc phiêu lưu lạ thường được đánh giá quá mức – trừ khi bạn trải nghiệm chúng cùng với người khác.

null
Những người tham gia lễ hội ném cà chua được tổ chức hàng năm ở Tây Ban Nha hôn nhau

Khi được trao cho sự lựa chọn giữa việc đi bar cùng với Jessica Alba và đi bar cùng với nhóm bạn của chúng ta, phần lớn chúng ta có lẽ sẽ chọn cuộc hẹn với “Người phụ nữ quyến rũ nhất thế giới”. Nhưng có lẽ chúng ta nên nghĩ lại về sự lựa chọn đó và chọn một đêm uống bia khác với nhóm bạn.

Một nghiên cứu gần đây trên tờ Psychological Science cho thấy những kinh nghiệm khác thường có một phí tổn xã hội, chúng làm chúng ta xa lánh những người bạn bè đồng trang lứa của chúng ta. “Những kinh nghiệm lạ thường vừa khác biệt và tốt hơn những kinh nghiệm mà đa số những người khác có”, các tác giả nhận thấy “và vừa xa lạ và gây ghen tỵ là một công thức không chắc chắn để được yêu thích.”

Để kiểm tra giả thiết này, các nhà nghiên cứu thết đãi một nhóm sinh viên đại học một buổi xem phim. Có 68 người tham gia và được chia thành các nhóm bốn người. Một người từ mỗi nhóm được vào một phòng nhỏ để xem một video thú vị về một nhà ảo thuật đường phố tài năng đang biểu diễn những trò ảo thuật trước một đám đông đang tán dương. Ba người khác được phân vào xem một clip bình thường về một hoạt hình có kinh phí thấp. Mọi người được cho biết liệu họ được phân xem video nhàm chán hay là video thú vị. Continue reading

Jim Stone – 7 nguyên lý của “thiếu kiên nhẫn”

null
Nghe quen thuộc?

Đã bao giờ bạn muốn từ bỏ một bài báo mà bạn đang viết? Hay bỏ học luôn? Bạn đã bao giờ có một dự án rất hào hứng lúc đầu rồi trở nên chán nản khi những rối rắm không lường trước xuất hiện? Bạn đã bao giờ phải ngồi suốt buổi diễn kịch hay chiếu phim của trường mà bạn đã không còn hứng thú ngay từ cảnh đầu tiên? Bạn đã bao giờ phải chờ đợi quá lâu để xếp hàng, hay để khởi động máy tính, hay cảm thấy quá lâu mà Giáng sinh chưa đến?

Ai mà lại không có lúc trong tình cảnh như vậy, phải không? Chúng ta đều từng thiếu kiên nhẫn ở một thời điểm nào đó.

Và chúng ta đều đưa ra những quyết định vội vàng trước sự thiếu kiên nhẫn của chúng ta. Chúng ta bỏ một hàng mà chúng ta đang xếp để rồi chỉ phải xếp vào một hàng còn dài hơn. Chúng ta lấy pizza ra khỏi lò sớm hơn 2 phút bởi vì chúng ta không thể chờ. Hay chúng ta làm tồi tệ đi một mối quan hệ tốt đẹp bởi vì chúng ta không chắc rằng chuyện sẽ tới đâu, và chúng ta không thể chịu đựng sự không chắc chắn.

Chúng ta nhiều khi cũng trở nên kiên nhẫn quá mức, và bị kẹt trong những dự án, công việc, hay những mối quan hệ sau khi chúng ta thấy có chút lý do để kiên nhẫn.

Cái nào khiến chúng ta phải trả giá nhiều hơn trong cuộc sống? Lòng kiên nhẫn? Hay sư thiếu kiên nhẫn? Những người khác nhau sẽ có những câu trả lời khác nhau. Lý tưởng mà nói, chúng ta sẽ có câu trả lời đúng trong từng trường hợp. Chúng ta sẽ để cho sự thiếu kiên nhẫn lấn át khi việc thay đổi là cần thiết, và chúng ta kiên nhẫn giữ nguyên tình trạng khi “nguyên trạng” là quan trọng. Thật không may, chúng ta không thể nào đúng trong mọi tình huống.

Nhưng cái cốt lõi là, nếu chúng ta hiểu hơn về sự thiếu kiên nhẫn, việc đó sẽ cho chúng ta sức mạnh nhiều hơn để có thể đúng trong nhiều trường hợp. Và vì vậy tôi sẽ trình bày sau đây 7 nguyên lý của sự thiếu kiên nhẫn. Continue reading

[Điểm phim] Boyhood (2014) – Từ cậu bé bầu bĩnh cho đến chàng trai râu ria: Trưởng thành theo thời gian thực

Tác giả: Manohla Dargis

Lời người dịch: Phim Boyhood (2014) của đạo diễn Richard Linklater là một phim hết sức đặc biệt, vì quá trình quay kéo dài 12 năm liên tục (thời gian quay mỗi năm chưa đến một tuần) với cùng một dàn diễn viên. Sau khi xem phim, tôi đã tìm đọc một số bài điểm phim của các nhà phê bình thuộc các tờ lớn như New York Times, New Statesman, New Republic, The Village Voice, Sight & Sound, Film Comment, Film Quarterly, v.v., và thấy bài này của bà Manohla Dargis thuộc tờ New York Times là bài viết tốt nhất và tuy chưa phải là đầy đủ hết nhưng cũng gần như bày tỏ được chính xác những điều cần nói về phim này.

Deana Newcomb - IFC Films

Deana Newcomb – IFC Films

Cảnh đầu tiên trong “Boyhood”, bộ phim dịu dàng, sâu sắc của Richard Linklater, là cảnh bầu trời nhiều mây. Cảnh thứ nhì là về một cậu bé đang nhìn chăm chăm vào bầu trời đó, với một cánh tay gập lại đặt dưới đầu, còn cánh tay kia vươn ra trên mặt đất. Cậu là một đứa trẻ xinh xẻo với đôi mắt điềm đạm, cái mũi hếch và cái miệng có hàm răng kín kẽ. Đây là gương mặt mà bạn sắp biết và sắp sửa yêu quý bởi vì, cũng như đứa trẻ này đang quan sát cõi sống, bạn đang quan sát cậu ta lớn lên. Từ cảnh này qua cảnh nọ, bạn sẽ thấy nét cong ở hàm của cậu thay đổi, sẽ để ý thấy đường chân mày đậm dần lên và chứng kiến đôi cánh tay thanh mảnh của cậu dang rộng ra ôm lấy cả cõi sống cùng bầu trời sáng tỏ lẫn bầu trời đang dần tối.

Được quay hơn 12 năm liên tục, “Boyhood” xoay quanh Mason (Ellar Coltrane), lên 6 lúc câu chuyện bắt đầu và được 18 khi câu chuyện kết thúc. Trong khoảng thời gian nằm giữa, cậu đi học; cãi nhau với cô chị, Samantha (Lorelei Linklater, con gái đạo diễn); và quan sát người mẹ của mình, Olivia (Patricia Arquette), tranh đấu với công việc và với đàn ông trong lúc xoay xở thanh toán các loại hoá đơn, chuyển từ nhà này sang nhà khác và đạt được một số bằng cấp. Đôi khi, chồng cũ của bà, Mason Sr. (Ethan Hawke), lao vào đời bọn trẻ, ban đầu bằng chiếc 1968 GTO. Đó không phải là chiếc xe hơi của người cha (mặc dù nó có thuộc về một người cha: ông Linklater). Mà thay vào đó, nó cùng mẫu với chiếc ngầu ngầu nam tính gầm gừ xuyên suốt “Two-Lane Blacktop”, một trong những phim ưa thích của ông Linklater, và là chiếc mà ông đã tuồn vào những bộ phim như “Slacker” và “Dazed and Confused”. Continue reading

Cảm xúc nào tồn tại lâu hơn 240 lần so với những cảm xúc khác

Cảm xúc nào mất trung bình 4 ngày để qua đi, và tại sao?

Buồn bã là cảm xúc tồn tại lâu nhất trong các cảm xúc, một trong các nghiên cứu đầu tiên xem xét tại sao một số cảm xúc kéo dài lâu hơn nhiều so với những cảm xúc khác.

Khi so sánh với việc bị chọc giận, xấu hổ, ngạc nhiên, và thậm chí buồn chán; thì sự buồn bã tồn tại lâu hơn những cảm xúc khác.

Nghiên cứu được đăng trên tạp chí Motivation and Emotion, phát hiện thấy sự buồn bã có xu hướng gắn với các sự kiện có một tác động lâu dài quan trọng lên cuộc sống của con người, như sự mất người thân (Verduyn & Lavrijsen, 2014).

Saskia Lavrijsen, đồng tác giả của nghiên cứu, giải thích:

“Suy nghĩ nghiền ngẫm là yếu tố quyết định chính của việc tại sao một số cảm xúc tồn tại lâu hơn những cảm xúc khác.

Những cảm xúc gắn với mức độ nghiền ngẫm cao thì sẽ tồn tại lâu nhất.

Những cảm xúc có khoảng thời gian tồn tại ngắn hơn thì thường – nhưng tất nhiên, không phải luôn luôn- bị gây ra bởi những sự kiện tương đối kém quan trọng.

Mặt khác, những cảm xúc tồn tại lâu có xu hướng chỉ về một điều gì đó rất quan trọng.”

Các kết quả đến từ một cuộc khảo sát với 233 sinh viên được yêu cầu nhớ lại những trải nghiệm cảm xúc và chúng kéo dài bao lâu.

Sau đây là khoảng thời gian mà mỗi cảm xúc tồn tại, về trung bình:

null

Ở mức cực đoan, trong khi sự ghê tởm và xấu hổ có xu hướng mất đi trong 30 phút, thì sự buồn bã tiếp tục tồn tại trung bình khoảng 120 giờ.

Trong khi ấy, sự buồn chán có xu hướng mất đi trong một vài giờ, dù tất nhiên bạn cảm giác nó tồn tại lâu hơn!

Cũng có những kiểu mẫu thú vị trong số những cảm xúc có liên quan với nhau.

Ví dụ, sự sợ hãi có xu hướng tồn tại trong một thời gian ngắn, trong khi người anh em gần gũi của nó là sự lo lắng tồn tại lâu hơn nhiều.

Tương tự như vậy, sự xấu hổ qua đi tương đối nhanh, nhưng cảm giác tội lỗi có xu hướng ở lại lâu hơn nhiều.

Thanh Hằng dịch
Nguồn
http://www.spring.org.uk/2014/11/the-emotion-which-lasts-240-times-longer-than-others.php

Suy nghĩ cấm đoán (Forbidden thinking)

Tại sao tất cả chúng ta đều có những ý nghĩ đen tối đó, và tại sao một số người dính chặt vào những ý nghĩ đó.

null

Tất cả chúng ta đều có những thôi thúc đen tối (động lực ngầm). Không ai trong chúng ta muốn chúng. Nhưng, những nỗ lực để kìm nén chúng lại có thể gây hại. Xin cảnh báo trước: lực lượng lao động trong hệ thống giá trị của nền văn hoá chúng ta có thể làm chúng ta dễ bị tổn thương hơn trước những ý nghĩ cấm đoán–và ít khả năng để đương đầu với chúng.

Bạn đã từng có ý nghĩ lừa dối bạn đời của bạn chưa? Còn ý nghĩ tát vào mặt một đồng nghiệp đáng ghét thì sao? Hoặc đâm vào một số tên ngốc trên đường cao tốc? Bạn đã từng có những ý nghĩ về điều cấm kỵ hoặc tình dục hoang dại chưa? Hoặc ly dị? Hoặc bỏ nhà? Còn ý nghĩ hãm hại một ai đó thân thiết thì sao? Hoặc thậm chí hãm hại bản thân bạn? Cũng có những thứ lành hơn: ví dụ, Bạn có tưởng tượng về thức ăn khi bạn đang ăn kiêng? Có ai chưa từng hả hê trước sự bất hạnh của người khác hoặc thèm muốn ngôi nhà, chiếc xe hơi hoặc lối sống hào nhoáng của một người hàng xóm khi chúng ta muốn tưởng tượng bản thân có cuộc sống như thế?

Vài người trong chúng ta sẽ bác bỏ quan điểm cho rằng con người dành nhiều thời gian để nghĩ về những ý nghĩ mà tốt hơn không nên nghĩ tới.

Đa số chúng ta sẽ không bao giờ thực hiện những thôi thúc bị cấm đoán của chúng ta. Nhưng sự thật là chúng ta có thể nghĩ về những ý nghĩ đó cũng có thể làm chúng ta quá lo lắng đến nỗi chúng ta tốn nhiều nỗ lực kìm nén và giữ chúng bí mật. “Tôi không thể kể với chồng tôi”, Beth nhớ lại, một người mẹ dịu dàng của ba đứa con, sau khi trải qua những suy nghĩ điên rồ về việc làm hại các con của cô. “Tôi dành nhiều thời gian tự hỏi bản thân, ‘Điều này có ý nghĩa gì? Tôi đang bị bệnh?”

Chừng nào loài người còn tán dương những sức mạnh sáng tạo của tâm trí, thì chúng ta bị buộc phải đối mặt với phần đen tối, xấu xa của trí tưởng tượng: những ý nghĩ quá xấu hổ, quá đáng sợ, quá trái ngược với tục lệ xã hội và những nguyên tắc của riêng chúng ta mà chúng ta giật mình vì ghê tởm hoặc sợ hãi. Năm 1852, gần ba thập kỷ trước sự trở lại của tâm lý học hiện đại, tác giả Herman Melville cung cấp một trong những quan sát sâu sắc về cuộc sống của tâm trí. “Một người rùng mình suy nghĩ,” ông viết, “điều bí ẩn trong tâm hồn,…mặc cho cái tôi vô tội của cá nhân đó, sẽ vẫn mơ về những giấc mơ kinh khủng, và thì thầm những ý nghĩ không nên nói đến.”

Trong quá khứ, chúng ta đổ lỗi cho Cái ác vì những thôi thúc xấu xa đó, hoặc đổ lỗi cho nhân cách đạo đức yếu kém của chính mình. Chúng ta không xem những suy nghĩ tương đương với hành vi, và quở trách bản thân-hoặc bị người khác quở trách-để mỗi lần đều chà đạp lên những thứ tạp nham không thích đáng. (Không phải ngẫu nhiên mà, năm trong số bảy tội lỗi chết người – tức giận, hám lợi, ghen tỵ, tham lam, và dục vọng–chỉ cụ thể về những trạng thái của tâm trí.) Continue reading

Anne Applebaum – Hiểu về Stalin

 

Anne Applebaum

Hiểu về Stalin

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Làm thế nào Stalin lại trở thành Stalin? Hay nói đúng hơn: Làm thế nào mà Iosif Vissarionovič Džugašvili – cháu trai của những người nông nô, con trai của một nữ thợ giặt và một người thợ giày ít học – lại trở thành Tổng tư lệnh Stalin, một trong những kẻ sát nhân hàng loạt tàn bạo nhất mà thế giới từng biết? Làm thế nào mà một cậu bé sinh ra tại một thị trấn nơi vùng đồi hẻo lánh xứ Georgia lại trở thành một kẻ độc tài kiểm soát cả nửa châu Âu? Làm thế nào mà một chàng trai sùng đạo vốn chọn con đường theo học thành linh mục lại lớn lên trở thành một kẻ vô thần đầy nhiệt huyết cũng như một kẻ theo ý hệ Marx.

Chịu ảnh hưởng từ Freud, nhiều tiểu sử gia tham vọng – chưa nói đến các tâm lí gia, các triết gia và các sử gia – đều đi tìm câu trả lời ở thời thơ ấu của chủ thể mà họ đề cập. Cũng như sự cuồng tín của Hitler được “giải thích” bằng quá trình trưởng thành, bằng đời sống tình dục, hoặc bằng chuyện ông ta được cho là chỉ có một tinh hoàn, thì sự hung ác kiểu tâm lí biến thái của Stalin được quy cho người cha, mà theo chính lời Stalin, là người “đánh đập ông không thương tiếc”, hoặc quy cho người mẹ, một người có lẽ từng ngoại tình với một linh mục địa phương. Những lí giải khác đều đưa ra vụ tai nạn khiến Stalin có một cánh tay teo lại, vụ nhiễm trùng đậu mùa làm mặt ông ta đầy sẹo, hoặc vụ khiếm khuyết bẩm sinh làm dính hai ngón chân lại mang đến cho ông ta bàn chân trái có màng – một dấu hiệu của quỷ.

Chính trị cũng ảnh hưởng đến các tiểu sử gia về Stalin. Trong suốt thuở sinh thời, những kẻ đồng cảm biến ông ta thành một siêu anh hùng, nhưng những kẻ đối địch cũng áp đặt thiên kiến của mình. Vốn là kẻ thù ghê gớm nhất của Stalin, Leon Trotsky là người diễn giải Stalin có sức ảnh hưởng cực kì to lớn ở thế kỉ 20, định hình nên cách nhìn của một thế hệ sử gia, từ Issac Deutscher trở về sau. Stalin của Trotsky là một kẻ thiếu cơ trí và không có tính sảng khoái, một kẻ thất học và tỉnh lẻ đạt được quyền lực nhờ thao túng bộ máy quan liêu và nhờ bạo lực tàn khốc. Trên hết, Stalin của Trotsky là một kẻ xoay chiều ban đầu đã phản bội Lenin và sau đó phản bội sự nghiệp theo chủ nghĩa Marx. Bức chân dung như thế nhằm phục vụ một mục đích, chính là truyền cảm hứng để những kẻ theo Trotsky duy trì sự trung thành đối với cuộc cách mạng Xô-viết “đáng lẽ đã xảy ra” – nếu như trước đó người lên nắm quyền là Trotsky chứ không phải là một Stalin buồn thảm, dè dặt và yếm thế. Continue reading

Guy Winch – 10 sự thật bất ngờ về sự cô đơn

null
Những tổn thương cô đơn gây ra cho sức khỏe và hạnh phúc của bạn.

Ước tính hơn 40% dân số sẽ chịu nỗi đau thống khổ của sự cô đơn trong suốt cuộc đời của họ. Song, cho dù cô đơn có phổ biến như thế nào thì chỉ có một số người là nhận thức được đầy đủ những ảnh hưởng mạnh mẽ mà nó tác động lên chúng ta. Sau đây là 10 sự thật bất ngờ về cô đơn sẽ khiến bạn thay đổi cách nhìn về tình trạng tâm lý vừa rất phổ biến nhưng đồng thời cũng gây thiệt hại đáng kể

1. Cô đơn không phụ thuộc vào số lượng bạn bè hay mối quan hệ mà bạn có. Cô đơn phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng chủ quan của những mối quan hệ – liệu rằng bạn có cảm thấy cô lập với những người xung quanh về mặt tình cảm lẫn giao tiếp xã hội. Đó là lý do tại sao:

2. Hơn 60% số người cô đơn là những người đã kết hôn. Khi mà những cặp vợ chồng không còn chia sẻ những tình cảm thầm kín nhất, những suy nghĩ, và những trải nghiệm của họ với người còn lại có thể để lại trong họ cảm giác bị cô lập và đơn độc. Những người trong tình trạng này thật sự tin rằng người bạn đời không còn có thể cho họ sự đồng điệu mà họ muốn. Trong khi nỗi lo sợ của họ có thể đúng, chúng cũng có thể bắt nguồn từ thực tế đó là:

3. Sự cô đơn bóp méo nhận thức của chúng ta về những mối quan hệ. Nhiều nghiên cứu cho thấy chỉ yêu cầu mọi người nhớ lại những lần mà họ cảm thấy cô đơn là đủ để khiến họ làm giảm giá trị những mối quan hệ của chính mình. Những nhận thức sai lệch này thường khiến những người cô đơn thậm chí càng rời xa những người có thể làm giảm bớt sự cô đơn của chính họ. Làm cho vấn đề càng xấu đi, bạn bè của họ có thể sẽ do dự khi tiếp xúc cũng bởi vì:

4. Sự cô đơn có tính lây lan trong cộng đồng xã hội. Cô đơn có một sự phân biệt rõ ràng. Chúng ta có xu hướng phát hiện và xác định những người cô đơn xung quanh chúng ta. Một nghiên cứu cho thấy trong khoảng thời gian hơn sáu tháng, những người cô đơn bị đẩy ra rìa xã hội và đáng ngạc nhiên là bạn bè của họ cũng vậy. Bị đẩy vào “bên trong khoảng lạnh” bằng cách này để lại một sự thật ngạc nhiên trên cơ thể của chúng ta:

5. Cô đơn thật sự có thể khiến chúng ta cảm thấy lạnh hơn. Những nghiên cứu cho thấy nhớ lại khoảng thời gian mà chúng ta cảm thấy cô đơn đã làm cho những người tham gia thực nghiệm đánh giá nhiệt độ trong phòng lạnh hơn đáng kể. Nó thậm chí còn làm cho nhiệt độ thực tế của da họ giảm xuống. Quan niệm về cảm giác “bị đẩy vào bên trong khoảng lạnh” chịu sự ảnh hưởng từ quá trình tiến hóa trong quá khứ của chúng ta trong đó việc bị li khai khỏi bộ lạc của mình cũng đồng nghĩa với việc bị tách khỏi nguồn sưởi ấm và nhóm cộng đồng xung quanh đó. Trên thực tế, cơ thể của chúng ta phản ứng lại với sự cô đơn bằng những cách bi đát nhất:

6. Cô đơn khiến cơ thể của chúng ta cảm thấy như là đang bị tấn công. Cô đơn gây ra sự phản ứng cơ thể tức thời và nghiêm trọng. Nó làm gia tăng huyết áp và cholesterol, và nó kích thích những phản ứng căng thẳng về thể chất lẫn tinh thần của chúng ta. Đó là tại sao:

7. Cô đơn mãn tính làm cho nguy cơ về bệnh tim mạch ở chúng ta gia tăng đáng kể. Qua thời gian, những người cô đơn mãn tính có tỉ lệ về bệnh tim mạch cao hơn bởi vì cơ thể của họ chịu sự căng thẳng liên tục không ngừng. Nhưng đó không phải là tác hại duy nhất mà cô đơn gây ra cho cơ thể của chúng ta:

8. Cô đơn ngăn chặn hoạt động của hệ thống miễn dịch của chúng ta.Cô đơn làm cho hệ thống miễn dịch hoạt động ít hiệu quả hơn, mà qua thời gian, làm chúng ta gia tăng nguy cơ phát triển đủ thứ loại bệnh tật và đau ốm. Kể cả khi cô đơn trong thời gian ngắn cũng ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch của chúng ta, đó là lý do tại sao:

9. Những sinh viên năm nhất những người mà cảm thấy cô đơn sẽ có những phản ứng xấu hơn đối với tác động của cảm cúm. Chỉ với một vài tuần cô đơn là đủ để ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch của những tân sinh viên năm nhất đến nỗi mà những người được nhận định là cảm thấy cô đơn chịu sự ảnh hưởng xấu đối với cảm cúm theo mùa hơn những sinh viên không cảm thấy cô đơn. Gộp chung lại, cô đơn tác động đến cơ thể chúng ta một cách nghiêm trọng:

10. Cô đơn cũng nguy hiểm như hút thuốc lá. Các nhà khoa học đã kết luận rằng bằng việc đưa ra tất cả những hình thức khốc liệt mà cô đơn tác động đến cơ thể chúng ta, điều này cho ta thấy một nguy cơ lớn đối với sức khỏe lâu dài và tuổi thọ cũng giống như hút thuốc lá. Thật vậy, các nghiên cứu kết luận rằng cô đơn kinh niên làm tăng nguy cơ chết sớm đến 14%

Rõ ràng là cô đơn đại diện cho tổn thương vật lý to lớn và quan trọng và là một vấn đề mà chúng ta không nên làm lơ. Vì thế, hảy đảm bảo có đủ các bước khi bạn đang cô đơn và truyền bá đến những người cô đơn xung quanh các bạn về nguy hiểm khi vẫn tiếp tục cô dơn.

Rekita dịch
Nguồn

http://www.psychologytoday.com/blog/the-squeaky-wheel/201410/ten-surprising-facts-about-loneliness

David DiSalvo – Sức mạnh quyến rũ của sự tự tin quá mức

null

Quá tự tin. Bản thân từ đó đã gây khó chịu. Biết được những người quá tự tin thường thành công còn làm bạn điên tiết hơn. Chúng ta thích tin rằng người quá tự tin, giống như sự kiêu căng, sẽ mắc sai sót vấp phải một thất bại có thể dự đoán được và nhường đường cho những người tự tin điềm đạm, có vẻ khiêm tốn, leo lên bậc thang cao hơn. Nhưng điều đó không phải lúc nào cũng đúng hoặc thường xảy ra.

Nghiên cứu tâm lý học thường hỏi tại sao lại thế, và đưa ra một vài câu trả lời khả thi. Một nghiên cứu từ năm 2012 kết luận rằng ngay cả khi sự quá tự tin tạo ra những kết quả dưới trung bình, dưới mức chuẩn, thì sức quyến rũ của nó vẫn chiến thắng trong thời nay. Chúng ta có thể kỳ vọng rằng một ai đó quá tự tin sẽ bị thất bại khi bị thúc ép. Nghiên cứu kiểm tra kỳ vọng đó và phát hiện thấy nó là đúng, không ít thì nhiều – nhưng cũng phát hiện thấy nó thực sự không quan trọng. Người quá tự tin có thể không toả sáng khi được kiểm tra một cách khách quan, nhưng họ có một sở trường là quyến rũ mọi người đến mức làm họ phớt lờ các kết quả.

Nếu bạn phải xác định được tại sao, thì dường như đó là một vấn đề của địa vị (xã hội)—một loại hàng hoá mà người quá tự tin là chuyên gia trong việc tạo ra và nuôi dưỡng nó. Khi được kiểm soát tốt, địa vị xã hội được ban cho bởi sự quá tự tin phát tiết ra ma lực, có khả năng làm chệch sự chú ý của chúng ta ra khỏi những kết quả có thể đo lường.

Đó là một kết luận thật trớ trêu, gây khó chịu khi bạn xem xét phản ứng của người bình thường trước “tên ngốc quá tự tin.” Làm sao chúng ta có thể vừa từ chối, vừa bị quyến rũ bởi người đó? Nghiên cứu khác chỉ ra làm thế nào mà sự thô lỗ có thể thành công nếu sự quá tự tin của người truyền tải làm biến đổi được địa vị.

Trong một thực nghiệm của nghiên cứu, những người tham gia xem một video về một người đàn ông ở một quán cafe vỉa hè gác chân lên chiếc ghế khác, để tàn thuốc lá rơi xuống đất và thô lỗ gọi món ăn. Những người tham gia đã đánh giá người đàn ông này có nhiều khả năng “đưa ra các quyết định” và có khả năng “khiến người khác lắng nghe những gì anh ta nói” hơn những người tham gia được xem một video về người đàn ông tương tự nhưng hành xử một cách lịch sự. Thông qua một vài thực nghiệm khác, các kết quả tương tự vẫn chiếm ưu thế – mọi người có xu hướng đánh giá những người phá luật là mạnh mẽ và kiểm soát hơn so với những người tuân theo luật lệ.

Và yếu tố quan trọng gì nằm trong niềm tin rằng bản thân một người là cao hơn những luật lệ? Sự quá tự tin, tất nhiên. (Điều này cũng có thể giải thích tại sao những người bán hàng thô lỗ bán được nhiều hơn ở những cửa hàng sang trọng. Theo nghiên cứu mới từ đại học University of British Columbia’s Sauder School of Business, Ở các cửa hàng sang trọng, xa xỉ, nhân viên bán hàng càng thô lỗ thì việc bán hàng càng thuận lợi.)

Những nghiên cứu đó xoay quanh câu hỏi tại sao chúng ta có xu hướng bị thu hút trước sự trơ tráo của người quá tự tin, nhưng ít đề cập đến chuyện tại sao người quá tự tin là quá giỏi trong việc tạo ra sự thu hút đó. Nghiên cứu gần đây nhất về chủ đề đó đã đem đến một câu trả lời, có thể không làm giảm bớt sự khó chịu của chúng ta về điều này, nhưng làm cho điều đó có thể hiểu được.

Nó có thể được tóm tắt như thế này: Niềm tin đánh lừa chúng ta, dù nó đúng hay không. Trong trường hợp của sự quá tự tin, niềm tin vào khả năng của một người – tuy không hợp với thực tế —tạo ra nguồn năng lượng có tính lây lan của nó. Sự tự lừa dối bản thân là một phương tiện hùng mạnh để thuyết phục thế giới nhìn sự việc theo cách của bạn.

Những người tham gia trong nghiên cứu (một nhóm các sinh viên đại học) được yêu cầu đánh giá về những năng lực của riêng họ và của bạn bè họ lúc bắt đầu một khoá học dài 6 tuần. Khoảng một nửa số sinh viên là kém tự tin và một ít (ít hơn một nửa) là quá tự tin (với sự cân bằng nhỏ của những sinh viên đánh giá chính xác về những khả năng của họ). Sau đó họ được yêu cầu đấnh giá lại vào cuối khoá học, sau khi mọi người có cơ hội thể hiện và tất cả mọi người đều nhìn thấy những kết quả thực tế.

Nghiên cứu cho thấy lúc bắt đầu khoá học, những sinh viên quá tự tin nhận được những đánh giá cao hơn từ bạn bè – và đến cuối khoá học, bất kể họ học tốt hoặc kém ra sao, những sinh viên quá tự tin vẫn được đánh giá cao hơn những người khác. Thực vậy, các kết quả hầu như không quan trọng khi so với những dấu hiệu quyến rũ được gửi đi bởi những người tin rằng họ là nhất.

Nghiên cứu bổ sung cách đánh giá mức độ lừa dối bản thân của những người tham gia về những khả năng của họ, và phát hiện thấy một mối tương quan vững chắc giữa sự thống trị về mặt xã hội của sự quá tự tin và chiều sâu của sự tự lừa dối bản thân. Các nhà nghiên cứu kết luận như sau: “Các phát hiện của chúng tôi cho thấy mọi người có thể không phải lúc nào cũng tưởng thưởng cho cá nhân đạt được nhiều thành tựu hơn mà đúng hơn là thưởng cho cá nhân tự lừa dối bản thân nhiều hơn.”

Dù chúng ta có thể không thích kết luận đó, thì thật khó mà cãi rằng nó không nằm trong những bằng chứng xung quanh chúng ta hằng ngày. Những người không tin vào bản thân họ – cho dù niềm tin đó có cơ sở hay không – thì không thể thuyết phục những người khác tin theo. Đó là điều mà chức năng tâm lý học của sự tự tin nói đến: nếu bạn mong đợi người khác nghĩ rằng bạn có năng lực, thì bạn tốt hơn là tự tin vào điều đó.

Điều đó đúng đối với sự tự tin lành mạnh cũng như sự tự tin được thổi phồng.

Điều mà nghiên cứu mới nhất và những yếu tố của những người khác nói với chúng ta đó là sự tự lừa dối bản thân là một thứ nuôi dưỡng địa vị xã hội. Khi đi cùng với tính cách, nó làm người khác muốn tin vào ngay cả khi các kết quả chỉ về điều khác. Và dù điều đó không làm cho chủ đề này bớt gây khó chịu hơn, thì nó làm sáng tỏ điều gì khiến cho sự quá tự tin có hiệu quả mặc cho tiếng xấu của nó.

Nghiên cứu mới nhất được đăng trên tạp chí PLOS One.

Thanh Hằng dịch
Nguồn
http://www.psychologytoday.com/blog/neuronarrative/201410/the-surprising-infuriating-power-overconfidence

6 điều hoang đường về đàn ông, phụ nữ và mối quan hệ

null

Nghiên cứu cho thấy chúng ta giống nhau nhiều hơn chúng ta nghĩ
Khi nói đến hành vi của đàn ông và phụ nữ trong các mối quan hệ, đa số mọi người có một quan điểm – và thường là về hai giới khác biệt nhau như thế nào. Nhưng nghiên cứu nói gì với chúng ta về việc đàn ông và phụ nữ hành xử như thế nào trong các mối quan hệ tình cảm? Thường thì họ giống nhau nhiều hơn chúng ta nghĩ, và những giả định phổ biến của chúng ta là sai lầm.

Hãy xem xét 6 điều hoang đường phổ biến sau:

1. Phụ nữ lãng mạn hơn đàn ông.

Khi phần lớn tiểu thuyết lãng mạn và những bộ phim lãng mạn nhắm đến những độc giả nữ, thì khó mà tin rằng đàn ông trong thực tế có một quan điểm lãng mạn về tình yêu hơn phụ nữ. Thang đo về chủ nghĩa lãng mạn được dùng nhiều, Romantic Beliefs Scale, yêu cầu mọi người đánh giá họ đồng ý đến mức độ nào với những câu như “Sẽ chỉ có một tình yêu đích thực đối với tôi” và “Nếu tôi yêu một ai đó, thì tôi biết mình có thể làm mối quan hệ tiến triển, mặc cho bất kỳ chướng ngại nào.” Nhưng hoá ra đàn ông thường ghi nhiều điểm hơn phụ nữ trong thang đo này.(1) Đàn ông cũng có nhiều khả năng tin vào quan điểm lãng mạn của “yêu từ cái nhìn đầu tiên” hơn phụ nữ. 2,3

2. Sự quyến rũ về ngoại hình của một người bạn đời là quan trọng với đàn ông nhiều hơn với phụ nữ.

Điều hoang đường này dựa trên một hạt nhân chủ yếu của sự thật: Nhiều nghiên cứu chỉ ra, khi đàn ông và phụ nữ được hỏi những phẩm chất nào mà họ ưa thích hơn ở một người bạn tình, thì đàn ông đánh giá sự quyến rũ ngoại hình quan trọng hơn là phụ nữ. 4 Tuy nhiên, sự xem xét kỹ lưỡng dữ liệu này đã tiết lộ cả đàn ông và phụ nữ cho rằng vẻ ngoài là quan trọng, có điều đàn ông đánh giá nó cao hơn phụ nữ. Trong một nghiên cứu, đàn ông và phụ nữ đánh giá một loạt phẩm chất ở những bạn tình tiềm năng.5 Về trung bình, đàn ông đánh giá ngoại hình là phẩm chất quan trọng hàng thứ tư; còn phụ nữ đánh giá nó quan trọng hàng thứ sáu. Vì vậy, cả hai giới đèu đánh giá cao ngoại hình, nhưng không đánh giá nó quan trọng hàng đầu.

Nhưng dữ liệu này chỉ nói về việc đàn ông và phụ nữ tuyên bố họ đang tìm kiếm điều gì. Nghiên cứu nói gì về kiểu người mà đàn ông và phụ nữ trong thực tế chọn để hẹn hò? Trong một nghiên cứu cổ điển về sự quyến rũ liên nhân cách, các sinh viên đại học được ghép cặp ngẫu nhiên cho các cuộc hẹn hò, và đối với đàn ông và phụ nữ, sự quyến rũ ngoại hình là yếu tố chính dự đoán liệu họ có hứng thú hẹn hò với ai đó lần thứ hai hay không.6 Trong một nghiên cứu gần đây, các nhà nghiên cứu xem xét những sở thích của các sinh viên đại học tham gia trong một sự kiện hẹn hò-nhanh. Trước những cuộc hẹn hò nhanh của họ, các sinh viên đánh giá về những phẩm chất khác nhau sẽ có tầm quan trọng như thế nào trong việc đưa ra sự lựa chọn của họ, và những khác biệt về giới (được mong đợi) đã xuất hiện, khi phụ nữ đánh giá về sự quyến rũ ngoại hình ở bạn tình là kém quan trọng hơn ở đàn ông. Nhưng khi các nhà nghiên cứu xem xét những người tham gia trong thực tế đã chọn ai trong suốt sự kiện, thì sự khác biệt về giới biến mất: Cả đàn ông và phụ nữ ưa thích những đối tác quyến rũ về ngoại hình hơn, và không có sự khác biệt giới trong vấn đề vẻ ngoài ảnh hưởng đến những lựa chọn của họ nhiều như thế nào.7

Như vậy, cả đàn ông và phụ nữ đều đánh giá cao sự quyến rũ ngoại hình, và đàn ông đánh giá nó cao hơn – nhưng không cao hơn quá nhiều – và sự xem xét về những lựa chọn hẹn hò trong thực tế cho thấy cả hai giới đều bị say mê bởi vẻ ngoài ngang nhau. Continue reading