Koenraad Elst – Tại sao 12?

 

Koenraad Elst

Tại sao 12?

Duy Đoàn chuyển ngữ
Nguyễn Tiến Văn hiệu đính

Bài này xử lí một vấn đề của biểu tượng học: có gì đặc biệt về số 12? Theo lịch sử, sự ưu ái dành cho số 12 phải quay về lại Hoàng đạo. Do vậy, lá cờ mười hai ngôi sao của Liên minh châu Âu được thiết kế, trong một cuộc thi công khai, bởi một người sùng mến Miriam Đồng trinh, người đã nghĩ đến đoạn Khải huyền trong đó vị trinh nữ thiên giới xuất hiện trong một hình tròn mười hai ngôi sao; và “mười hai ngôi sao” này, tiếng Hebrew là mazzalot (từ đó ra từ mazzel!, “điềm lành”, gốc là “ngôi sao may mắn”, “cấu hình sao có lợi – beneficial stellar configuration”), là một biểu đạt chuẩn mực chỉ đến Hoàng đạo, phép chia mặt phẳng Hoàng đạo (Ecliptic) [1] thành mười hai phần bằng nhau, mỗi phần đại diện là một biểu tượng: Bạch-dương, Kim-ngưu, Song-tử, Cự-giải, Sư-tử, Xử-nữ, Thiên-bình, Hổ-cáp, Nhân-mã, Ma-kết, Bảo-bình, Song-ngư.

Mặc dù chúng ta công nhận mối nối kết mật thiết giữa chiêm tinh học và cấu trúc biểu tượng của Hoàng đạo, nhưng điều đó nằm ngoài phạm vi của bài viết để bàn về những thành tích mà chiêm tinh học tự nhận. Thực vậy, chúng ta cho rằng cả kho truyện về các ngôi sao bao gồm Hoàng đạo đã có trước cách người ta dùng nó làm công cụ dành cho bói toán, và điều đó đáng phân tích thuần tuý như một lối tạo dựng biểu tượng, bất kể giới bói toán dùng nó ra sao. Ngược lại với những gì một số chiêm tinh gia khẳng định, thiên văn học xa xưa hơn chiêm tinh học rất nhiều. Nhưng khác với chiêm tinh học, xu hướng tự nhiên trong việc đọc ra “những khuôn mặt trên trời”, hay trong trường hợp này là những hình ảnh trong các nhóm sao, cũng xưa cũ tương đương với chính hành vi ngắm sao trời vậy.

Continue reading

Advertisements

Sự khác nhau giữa Tình yêu đích thực và “Tình yêu thông thường”

TÌNH YÊU THÔNG THƯỜNG” (COMMON LOVE)

CẢM GIÁC TÌNH ÁI

Tình ái là những cảm giác của sự khao khát, ham muốn chứ không phải tình yêu. “Tôi muốn biết nhiều hơn về đời tư của anh ấy. Tôi muốn biết anh ấy thích gì. Tôi muốn tin rằng anh ấy bị thu hút bởi tôi. Đó chính là sự khát khao. Nó là khát khao vì nó dựa vào những gì “Tôi muốn” chứ không dựa vào những gì bạn hoặc người khác cần.

Hãy nghĩ về toàn bộ mục đích của cuộc sống gia đình và tự hỏi trẻ sơ sinh cần gì. Một trẻ sơ sinh bước vào thế giới này hoàn toàn không tự lo liệu được cho bản thân, bé cần sự bảo vệ và chỉ dẫn để trưởng thành và phát triển những năng lực của bé, để khi trưởng thành bé có thể bước vào đời và làm những điều tốt đẹp cho người khác. Sự bảo vệ và chỉ dẫn đó là một khía cạnh của tình yêu đích thực. Tình yêu đích thực không có nghĩa là phải làm bạn cảm thấy “hạnh phúc”.

Tình ái dựa vào những nhu cầu sơ sinh là muốn được nhận, được chấp nhận và được thoả mãn. Khi một ai đó cảm thấy được nhận, được chấp nhận và được thoả mãn một cách mãnh liệt thì khi đó anh/cô ấy “đang yêu”. Nhưng sớm hay muộn, sự mãnh liệt đó sẽ bị phá huỷ. Nguyên nhân có thể là do người yêu của họ phải thực hiện những bổn phận khác trong cuộc sống, và khiến người đó cảm thấy bị phớt lờ, cơn ghen tuông dữ dội có thể bùng lên.

Bất kì đứa trẻ nào nhận được món quà từ những người khác phải đầu tiên trải qua một giai đoạn phát triển được đặc trưng bởi thái độ “sở hữu, tích trữ, bám chặt”- của tôi, của tôi – trước khi học cách chia sẻ với người khác. Khi cảm thấy được chấp nhận bởi người khác, đầu tiên bạn muốn tích trữ cảm giác đó và cho rằng nó là vật sở hữu của bạn. Cái phần trẻ con của bạn khát khao tình yêu, chứ không khát khao người trao đi tình yêu. Điều này cũng giải thích cốt lõi của sự ghen tuông: vì sợ mất thứ bạn vô cùng khao khát nên bạn ghét bất kì ai có thể xuất hiện giữa bạn và thứ bạn muốn. Continue reading

Jerome Delamater – Về Hara Setsuko

Hara Setsuko

Jerome Delamater

Về Hara Setsuko

Duy Đoàn chuyển ngữ

Mặc dù sự nghiệp của cô rất dồi dào và vai của cô đa dạng, nhưng Hara Setsuko được phương Tây biết đến chính yếu ở vai trò một nhân vật khiêm nhường trong sáu phim của Ozu Yasujirô. Phạm vi của cô rộng hơn nhiều so với hàm ý trong những bộ phim được làm với Ozu; những thay đổi của cô ở hành vi và bề ngoài chỉ trong phim No Regrets for Our Youth của Kurosawa, ví dụ vậy, là điều gây sửng sốt. Tuy thế, Ozu đã nắm bắt được cái tinh tuý trong vai diễn của cô; nữ tính mà mạnh mẽ, thường theo truyền thống ở cách ăn vận nhưng lại chịu sự thu hút từ những cung cách hiện đại; là một phần của một đơn vị gia đình nhưng lại độc lập về tinh thần. Đối với Ozu, Hara đã biểu hiện một cách hiệu quả cái vị thế phức tạp của Nhật-bản hiện đại nằm giữa di sản văn hóa với vai trò trung tâm của mình trong nền kinh tế toàn cầu hậu thế chiến II.

Trong Currents in Japanese Cinema (Những dòng chảy trong nền điện ảnh Nhật), Sato Tadao viết rằng, “Hara Setsuko có được hình ảnh của một người đàn bà hiện đại và thông minh, những phẩm chất làm cho khán giả Nhật yêu mến cô ta.” (So sánh với những ngôi sao Mĩ như Katharine Hepburn và Joan Crawford là những so sánh thường gặp.) Có lẽ vai tiêu biểu nhất của cô ngoại trừ trong những phim cộng tác với Ozu là vai một quả phụ bị ngược đãi trong No Regrets for Our Youth, mà trong đó, thông qua sự kiên trì của mình, cô chứng tỏ bản thân là người kiên định và bất khuất. Trong nhiều phim cô thủ vai những nhân vật có sự nghiệp hoặc những người có thể giữ lại được căn cước của chính mình – và thường là để khẳng định bản thân – bên trong xã hội do nam giới thống trị. Continue reading

Nicole Aschoff – Xã hội điện thoại thông minh

(Ảnh: Jacobin magazine)

(Ảnh: Jacobin magazine)

Nicole Aschoff

Xã hội điện thoại thông minh

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Giống như xe hơi đã định ra thế kỉ hai mươi, điện thoại thông minh đang tái định hình cách chúng ta sống và làm việc ngày nay.

Trong nhiều phương diện thì xe hơi là một món hàng quyết định của thế kỉ hai mươi. Tầm quan trọng của nó không bắt nguồn từ tính thục luyện kĩ nghệ hoặc độ phức tạp của dây chuyền sản xuất, mà thay vào đó bắt nguồn từ khả năng phản ánh và định hình xã hội. Những phương thức mà chúng ta sản xuất, tiêu dùng, sử dụng và điều tiết xe hơi chính là cửa sổ nhìn vào chính chủ nghĩa tư bản của thế kỉ hai mươi – một cái thoáng nhìn vào cách mà phần xã hội, chính trị và kinh tế giao cắt nhau và đụng độ nhau.

Ngày nay, trong một giai đoạn mà đặc trưng là sự tài chính hóa và toàn cầu hóa, trong đó “thông tin” nằm ở ngôi vua, thì cái ý tưởng về bất kì món hàng nào định nên thời đại này trông có vẻ lạ kì. Nhưng hàng hóa ngày nay không kém phần quan trọng, và mối quan hệ của con người với chúng vẫn còn là điều trọng tâm để thông hiểu xã hội. Nếu xe hơi là nền tảng để nắm bắt thế kỉ trước, thì điện thoại thông minh chính là món hàng quyết định nên thời đại chúng ta.

Ngày nay người ta đang dành nhiều thời giờ cho điện thoại của họ. Họ kiểm tra điện thoại liên tục suốt cả ngày và giữ điện thoại luôn ở gần bên mình. Họ ngủ kế bên điện thoại, mang chúng vào phòng tắm, và chăm chú vào chúng khi đang đi bộ, đang ăn, học, làm việc, chờ đợi và đang lái xe. 20% số thanh niên thậm chí còn thừa nhận có kiểm tra điện thoại trong lúc quan hệ tình dục.

Khi người ta dường như luôn mang chúng trên tay hoặc bỏ chúng trong túi ở bất cứ chỗ nào họ đến, suốt cả ngày dài, thì điều đó nghĩa là gì? Để cắt nghĩa cho cái mà chúng tôi cho là chứng nghiện điện thoại tập thể, chúng ta nên làm theo lời khuyên của Harry Braverman, và khảo xét “một mặt là chiếc máy và mặt kia là những mối liên hệ xã hội, và thể cách mà hai điều đó hợp cùng nhau trong xã hội.” Continue reading

J. E. Cirlot – Thú một sừng

Tượng trưng cho sự trong trắng và cũng là một biểu hiệu của thanh kiếm hay lời Chúa (20, 4). Truyền thống thông thường biểu thị nó như một con ngựa trắng với một chiếc sừng mọc từ trán, nhưng theo niềm tin bí truyền nó có một thân hình trắng, một cái đầu đỏ và mắt xanh dương. Truyền thuyết kể rằng nó không biết mệt mỏi lúc bị đuổi bắt song lại trở nên hiền lành khi một trinh nữ đến gần (59). Điều này dường như gợi ý rằng nó là biểu tượng của tính dục thăng hoa. Ở Trung-hoa, loài thú này gọi là Kì lân vốn được một số tác giả đồng nhất với thú một sừng, trong khi một số khác lại bất đồng với điều này vì Kì lân có hai sừng. Nó là một tượng vật của những sĩ quan quân đội cấp cao và là một biểu hiệu của sự chính trực và dòng dõi cao quý. Da nó gồm năm màu – đỏ, vàng, xanh dương, trắng và đen; tiếng kêu của nó giống tiếng chuông ngân. Truyền thuyết cho rằng nó sống được một ngàn năm và là loài cao quý nhất trong các loài vật (5). Continue reading

Jorge Luis Borges – Thú một sừng của Trung-hoa

Thú một sừng Trung-hoa, kì lân, là một trong bốn sinh vật của điềm lành; những loài kia là rồng, phượng hoàng, và rùa cạn. Thú một sừng đứng đầu tất cả 360 loài sinh vật sống trên cạn. Nó có phần thân của một con nai, đuôi của một con bò, các móng guốc của một con ngựa. Chiếc sừng ngắn của nó, mọc từ trán, bằng da thịt; lớp giáp của nó, trên lưng, gồm năm màu pha trộn, còn bụng thì màu nâu hay vàng. Nó hiền hoà đến nỗi khi bước đi nó cẩn thận không giẫm lên những sinh vật nhỏ bé nhất và thậm chí không ăn cỏ sống mà chỉ ăn cỏ khô. Sự xuất hiện của nó báo trước sự ra đời của một vị thủ lĩnh chính trực. Làm tổn thương Thú một sừng Trung-hoa hay tình cờ nhìn thấy xác của nó là điều không may. Tuổi thọ tự nhiên của loài vật này là một ngàn năm.

Continue reading

Jorge Luis Borges – Thú một sừng

Lời kể đầu tiên về Thú một sừng cũng gần tương đồng với lời kể mới đây nhất. Bốn trăm năm trước Công nguyên, nhà sử học và thầy thuốc người Hi-lạp Ctesias kể rằng giữa các vương quốc ở Ấn-độ có những con lừa hoang rất nhanh nhẹn với lớp giáp trắng, đầu tím, mắt xanh dương, và giữa trán chúng là một chiếc sừng nhọn có gốc màu trắng, chóp màu đỏ, và phần giữa màu đen. Pliny đã viết tỉ mỉ hơn (VIII, 31):

loài thú dữ tợn nhất là thú một sừng, toàn thân giống như một con ngựa, nhưng đầu thì giống một con nai đực, chân giống một con voi, và đuôi giống một con lợn lòi, và có tiếng rống trầm, và một chiếc sừng đen dài 3 feet (0,9144 mét) nhô ra giữa trán. Người ta nói không thể bắt sống được loài thú này.

Continue reading

John Lukacs – Những con quái vật hợp cùng nhau

John Lukacs

Những con quái vật hợp cùng nhau

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Đây là bài điểm sách cho cuốn The Devils’ Alliance: Hitler’s Pact with Stalin, 1939–1941 của Roger Moorhouse, Basic Books, 382 trang, $29.99

 

Trong kho văn liệu khổng lồ về Stalin và Hitler trong suốt thời Thế chiến II, rất ít điều được nói về mối quan hệ đồng minh của họ trong 22 tháng. Đó không chỉ là một chương lạ thường trong lịch sử cuộc chiến, và ý nghĩa của điều này xứng đáng có được nhiều sự chú ý hơn những gì được tiếp nhận lâu nay.

Có hai yếu tố liên quan đến sự thờ ơ này. Một là sau khi Hitler quyết định xâm chiếm Nga mà thực hiện không thành; Stalin trỗi lên như một trong những kẻ chiến thắng uy quyền của Thế chiến II. Yếu tố còn lại là việc các Thế lực Tây phương không mấy lưu tâm đến Đông Âu. Tuy vậy cuộc chiến nổ ra vào năm 1939 lại là do Đông Âu, là kết quả từ quyết định của người Anh (và Pháp) nhằm chống lại việc Đức chinh phục Ba-lan. Cơn địa chấn chính trị của Hiệp ước Nazi-Soviet vào ngày 23 tháng Tám năm 1939 chín ngày trước khi nổ ra cuộc chiến vào ngày 1 tháng Chín đã không ngăn được Anh quốc và Pháp tuyên bố chiến tranh với Đức trước cuộc xâm lăng của Đức vào Ba-lan. Đây là một trong số ít – rất ít – những quyết định có ích cho họ vào thời điểm đó. Việc họ miễn cưỡng trong nhiều tháng tiếp theo để tiến hành nghiêm túc cuộc chiến chống Đức lại là câu chuyện khác.

Giờ đây ba phần tư thế kỉ đã trôi qua kể từ năm 1939. Khá nhiều điều được viết về Hiệp ước Nazi-Soviet kể từ lúc ấy, phần lớn của các cây bút và sử gia Đông Âu. The Devil’s Alliance là bản tường trình tốt của sử gia Anh Roger Moorhouse về việc hiệp ước có ý nghĩa gì đối với Hitler và Stalin – và tệ hơn là đối với nạn nhân của hiệp ước đó. Có lẽ phần giá trị nhất của cuốn sách đã xử lí được những hậu quả tức thời của hiệp ước năm 1939. Trước đó, một cách hiển nhiên và dữ dội, chủ nghĩa Nazi và chủ nghĩa cộng sản là kẻ thù công khai của nhau. Từ những ngày đầu tiên thăng tiến chính trị của mình, Hitler đã mô tả Do-thái giáo và chủ nghĩa cộng sản là hai kẻ thủ chính yếu của mình. Vào thời điểm đó, Stalin không hẳn là một kẻ theo ý hệ. Cũng như Hitler, y là một người theo chủ nghĩa dân tộc; y gần như không lưu tâm đến chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Continue reading

10 điều mà các giảng viên tâm lý học muốn bạn biết

image

Hằng năm, là một giảng viên tâm lý học, tôi giúp hàng trăm bạn trẻ vượt qua một chương trình học khắt khe và chuẩn bị cho tương lai của họ. Theo một ý nghĩa, tương lai đó sẽ bao gồm sự huấn luyện đại học tiên tiến hoặc một nghề nghiệp có liên quan đến khoa học hành vi – hoặc cả hai. Nhưng chúng không phải là mục tiêu duy nhất chúng tôi muốn các sinh viên của chúng tôi đạt được trong 4 năm học của họ dưới sự dẫn dắt của chúng tôi. Dưới đây là mười sản phẩm của một nền giáo dục tâm lý học mà các giảng viên tâm lý học cố gắng trau dồi ở các sinh viên của họ trong nhiều năm.

10. Hiểu rõ sự rộng lớn của nội dung các lĩnh vực trong tâm lý học. Tâm lý học rất rộng lớn! Nó bao gồm bất kỳ lĩnh vực nghiên cứu nào có liên quan đến những quá trình tâm lý hoặc hành vi – ở các loài! Những chủ đề được các nhà tâm lý nghiên cứu gồm nhiều loại khác nhau – ví dụ, trẻ sơ sinh nhận diện các khuôn mặt như thế nào, chó học cách tránh né những hậu quả đáng ghét ra sao, làm sao những tình huống tưởng chừng nhỏ bé lại có thể gây ra những hậu quả to lớn về hành vi ở người trưởng thành, con người ghi nhớ các danh sách như thế nào, và còn nhiều nữa. Khi một ai đó nói anh ấy đang học “tâm lý học” thì bạn cần hỏi “Học lĩnh vực gì? Chủ đề gì?”

9. Hiểu rõ giá trị của sự rộng lớn của các lĩnh vực ứng dụng trong tâm lý học. Các sinh viên năm nhất học tâm lý học thường nghĩ rằng tất cả các nhà tâm lý đều là những nhà tâm lý học ứng dụng (rằng tất cả các nhà tâm lý có nhiệm vụ giúp đỡ ai đó xử lý vấn đề) và tất cả các nhà tâm lý học ứng dụng đều là những nhà trị liệu. Không đúng! Các nhà tâm lý học ứng dụng có nhiều kiểu khác nhau. Một số nhà tâm lý học ứng dụng là các nhà trị liệu (như nhà tâm lý học lâm sàng, tham vấn sức khoẻ tinh thần, nhà tham vấn học đường) trong khi một số khác thì giúp các tổ chức tối ưu hoá các điều kiện làm việc (nhà tâm lý học công nghiệp/tổ chức) và những người khác làm việc trong ngành công nghiệp chăm sóc sức khoẻ để giúp đạt được những kết quả khoẻ mạnh có liên quan đến những cái chung của sức khoẻ thể chất và tinh thần (các nhà tâm lý học sức khoẻ) và nhiều nữa! Khi ai đó nói rằng anh ấy muốn “làm việc trong lĩnh vực tâm lý học”, thì anh ta cần nhận ra có rất nhiều con đường nghề nghiệp khác nhau! Continue reading

David McRaney – Sự thừa nhận chủ quan (subjective validation)

Quan điểm sai: Bạn hoài nghi những thứ chung chung.

Sự thật: Bạn có xu hướng tin những câu nói và những dự đoán mơ hồ là sự thật, đặc biệt nếu chúng tích cực và nói về cá nhân bạn.

Dựa trên dữ liệu tôi thu thập được từ những bình luận, email, thông tin từ blog You are not so smart…Tôi đã hiểu rõ bạn là ai. Đây là những phát hiện của tôi:

Bạn có một nhu cầu cần người khác thích bạn và ngưỡng mộ bạn, nhưng bạn lại có xu hướng chỉ trích bản thân. Dù bạn có một số khuyết điểm trong tính cách, bạn nhìn chung có thể bù đắp cho chúng. Bạn có năng lực chưa được sử dụng đáng kể mà bạn chưa biến nó thành lợi thế cho bạn. Bên ngoài bạn trông có vẻ kỷ luật và tự kiểm soát bản thân, nhưng bên trong bạn có xu hướng cảm thấy lo lắng và bất an. Thỉnh thoảng bạn có những hoài nghi về việc liệu bạn đã đưa ra quyết định đúng hay làm điều đúng chưa. Bạn thích một số thay đổi và khác biệt và trở nên bất mãn khi bị bao vây bởi những hạn chế và giới hạn. Bạn cũng tự hào về bản thân vì là một người tư duy độc lập và không chấp nhận những tuyên bố của người khác khi không có bằng chứng đầy đủ. Nhưng bạn thấy thật dại dột khi quá bộc trực trong việc tiết lộ về bản thân với những người khác. Đôi lúc bạn quá hướng ngoại, hoà nhã, thích giao du, nhưng lúc khác thì bạn lại hướng nội, thận trọng và dè dặt. Một số khao khát của bạn có xu hướng không thực tế.

Điều này nghe có vẻ đúng? Nó miêu tả về bạn?
Nó miêu tả về tất cả mọi người. Continue reading