Louis Menand – Về dòng sách tự trợ (self-help)

Louis Menand

Về dòng sách tự trợ (self-help)

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Cách thành công trong công việc và trong gia đình.

Liệu việc trở thành một người làm việc năng suất cao hơn có khiến bạn trở thành một con người tốt hơn? (Hình: Richard Mcguire)

Liệu việc trở thành một người làm việc năng suất cao hơn có khiến bạn trở thành một con người tốt hơn?
(Hình: Richard Mcguire)

“Smarter Faster Better: The Secrets of Being Productive in Life and Business” (Random House) là cuốn sách tiếp theo một tác phẩm đắt hàng của ông, “The Power of Habit: Why We Do What We Do in Life and Business”, được xuất bản năm 2012. Cuốn sách mới này, giống cuốn trước, có một định dạng quen thuộc trong lĩnh vực phi hư cấu đương thời: nhiều câu chuyện tiêu biểu được sáp nhập với một chút kiến thức về khoa học xã hội và khoa học nhận thức (cognitive science). Mục đích của những câu chuyện này là để tạo ra những câu chuyện thú vị làm lay động người đọc; mục đích của phần khoa học là để trợ giúp tác giả chọn ra một đặc điểm tái dụng được của những câu chuyện đó để độc giả có thể phỏng theo.

Điều gì khiến cho viên phi công hạ cánh được chiếc phi cơ bị hư hại trầm trọng? Làm thế nào một kẻ bỏ học đại học với chứng rối loạn âu lo (anxiety disorder) lại trở thành quán quân bài poker? Điều gì khiến cho “West Wide Story” và “Frozen” của Disney trở thành thứ hút khách? Hoá ra, toàn bộ điều cần làm chính là thao tác tinh chỉnh then chốt đối với guồng vận hành trí óc thường tình hoặc đối với động lực quần thể (group dynamics). Các “mô hình tinh thần” giúp cho viên phi công hạ cánh chiếc phi cơ ấy. “Lối tư duy kiểu Bayes” làm cho một gã khốn cùng thoát thai thành người thắng cuộc trong môn đánh bài. Một “tay môi giới sáng ý (innovation broker)” đã chỉnh lí “West Side Story”, và “Frozen” trở thành bộ phim hoạt hình có tổng doanh thu cao nhất mọi thời nhờ vào một nguyên lí được biết với tên “can nhiễu trung độ (intermediate disturbance)”. Continue reading

Advertisements

Steven Strogatz – Lí do tại sao số pi quan trọng

Why Pi Matters - JEFFREY COOLIDGE - GETTY

Ảnh: JEFFREY COOLIDGE / GETTY

 

Steven Strogatz

Lí do tại sao số pi quan trọng

Duy Đoàn chuyển ngữ

Cứ tới ngày 14 tháng Ba, các nhà toán học như tôi lại bị thúc ra khỏi hang ổ của mình giống như Punxsutawney Phil trong Ngày Chuột chũi (Groundhog Day), mắt hấp háy và thấy bối rối bởi mọi sự ồn ào xung quanh. Vâng, lại là Ngày Pi. Và đây không chỉ là một Ngày Pi bất kì. Họ gọi đây là Ngày Pi của thế kỉ: 3.14.15. Pi đến 5 chữ số. Một thứ xảy ra một lần trong đời.

Tôi thấy khiếp sợ nó. Không hi vọng gì để giải bất kì phương trình nào vào ngày đó, nào là mấy cuộc thi ăn bánh nướng, nào là cãi lộn về những giá trị của pi so với tau (pi nhân hai), và mấy cuộc so tài giữa những người có thể nêu ra nhiều chữ số của pi hơn. Hãy tránh xa khỏi đường phố vào lúc 9:26:53, lúc ấy thời gian sẽ xấp xỉ pi cho đến vị trí thứ mười: 3.141592653.

Pi quả xứng đáng để tôn vinh, nhưng vì những lí do mà hiếm khi được đề cập. Ở trường phổ thông, tất cả chúng ta đều học được rằng Pi là về hình tròn. Pi là tỉ lệ giữa chu vi hình tròn (cự li vòng quanh hình tròn, kí hiệu bằng chữ C) với đường kính của hình tròn đó (cự li cắt ngang hình tròn tại vị trí có bề rộng lớn nhất, kí hiệu là chữ d). Tỉ lệ đó, khoảng 3.14, cũng xuất hiện trong công thức tính diện tích bên trong hình tròn, A = πr2, trong đó π là chữ cái Hi-lạp của “pi” và r là bán kính hình tròn (cự li từ tâm đến rìa hình tròn). Chúng tôi học thuộc mấy công thức này cùng những công thức quen thuộc khác để thi S.A.T và không bao giờ dùng lại chúng, trừ khi tình cờ đi vào một lĩnh vực kĩ thuật, hoặc cho đến khi con của chúng ta học môn hình học. Continue reading

Joshua Rothman – Ý tưởng về tính riêng tư của Virginia Woolf

Virginia Woolf's idea of privacy

Ảnh: E. O. Hoppe/Mansell/Time Life Pictures/Getty

Joshua Rothman

Ý tưởng về tính riêng tư của Virginia Woolf

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Những ngày này, khi ta dùng từ “tính riêng tư”, thì nó thường mang nghĩa chính trị. Chúng ta quan tâm đến người khác và cách họ có thể ảnh hưởng đến mình. Ta nghĩ về cách họ có thể dùng thông tin về chúng ta cho mục đích của riêng họ, hoặc can thiệp vào những quyết định mà đúng ra là của ta. Ta để tâm đến những dòng ngăn cách đời sống công cộng với đời sống riêng tư. Chúng ta có cái mà bạn có thể gọi là cảm thức về tính riêng tư của một công dân.

Đó là một cách nghĩ quan trọng về tính riêng tư, hiển nhiên rồi. Nhưng còn có những cách khác. Một trong số đó đã được bày tỏ vô cùng ấn tượng ở tác phẩm “Mrs. Dalloway”, trong một cảnh nổi tiếng ở đầu sách. Đó là một cảnh hồi tưởng, từ lúc mà Clarissa [Dalloway] còn là một thiếu nữ. Đêm nọ, cô nàng ra ngoài đi dạo với một số người bạn: hai cậu trai phiền hà, Peter Walsh và Joseph Breitkopf, và một cô gái, Sally Seton. Sally hấp dẫn, thông minh, có kiểu Bohemia – sở hữu “một dạng phóng túng, như thể cô nàng có thể nói bất kì điều gì, làm bất kì điều gì.” Hai cậu trai đi ở phía trước, lạc mình trong cuộc chuyện trò tẻ nhạt về Wagner, trong khi hai cô gái bị bỏ lại đằng sau. “Đoạn, xuất hiện cái thời khắc tuyệt diệu nhất trong cả đời nàng khi đi ngang qua một cái bình bằng đá với những bông hoa ở trong.” Sally cầm lên một đoá hoa từ cái bình và hôn lên môi Clarissa:

“Cả cõi sống này như thể lộn ngược xuống vậy! Những người kia biến mất, nơi đây nàng một mình cùng với Sally. Và nàng cảm thấy rằng mình đã được trao một món quà, được gói ghém lại, và được bảo là hãy giữ nó, chứ đừng nhìn vào nó – một viên kim cương, một thứ chi đó quý giá vô ngần, được gói ghém lại, cái mà, khi họ đi bộ (đi lên đi xuống, đi lên đi xuống), nàng khám phá ra, hoặc cái mà ánh hào quang toả khắp, sự mạc khải, cảm giác tín ngưỡng đó!”

Woolf thường hình dung cuộc sống theo cách này: như một món quà mà bạn được trao cho, cái mà bạn phải giữ cho mình và trân trọng nó nhưng không bao giờ mở ra. Việc mở nó ra sẽ xua đi cái không khí đó, sẽ làm tiêu tan ánh hào quang kia – và ánh hào quang của cuộc đời là thứ khiến đời này đáng sống. Thật khó để nói việc giữ lấy cuộc sống mà không nhìn vào nó có thể mang ý nghĩa chi; đó là một trong những câu đố của những tác phẩm của bà. Nhưng nó có liên quan chi đó tới bí ẩn của việc gìn giữ cuộc sống; tới việc để lại những thứ không được mô tả, không được chỉ rõ, và không được biết đến; tới những cảm xúc tận hưởng nhất định, chẳng hạn như tính tò mò, ngạc nhiên, ham muốn, và tính đề phòng. Nó phụ thuộc vào cảm thức càng lúc càng lớn về sự quý giá và mỏng manh của cuộc sống, và phụ thuộc vào quan niệm kiểu Heisenberg rằng, khi phải dùng tới những trực giác trừu tượng nhất và thuộc về tinh thần nhiều nhất của chúng ta, thì việc nhìn quá sát sao sẽ làm thay đổi những điều ta cảm nhận. Nói cách khác, nó liên quan đến một dạng riêng tư nội tại, mà nhờ đó bạn che chở bản thân mình không chỉ tránh khỏi những cặp mắt xoi mói của người khác, mà còn tránh khỏi chính mình nữa. Hãy gọi nó là cảm thức riêng tư của một nghệ sĩ. Continue reading

The New Yorker – Các nhà văn nói về Alice Munro

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Tờ New Yorker đã hỏi nhiều nhà văn về việc tác phẩm của Alice Munro có ý nghĩa gì đối với họ. Đây là những lời nhận định từ các nhà văn.

Margaret Atwood:

Khi tôi viết lời giới thiệu cho tập Collected Stories của bà:

Thông qua tác phẩm của Munro, hạt Huron ở vùng Sowesto đã gia nhập vào hạt Yoknaptawpha của Faulkner thành một dải đất hoá huyền thoại bởi sự xuất sắc của một nhà văn, người đã tôn vinh nó, mặc dù trong cả hai trường hợp thì “tôn vinh” hoàn toàn không phải từ thích hợp. “Mổ xẻ” (anatomised) hẳn gần hơn với cái diễn ra trong tác phẩm của Munro, mặc dù ngay cả từ đó cũng quá ư lãnh đạm. Việc soi xét đầy ám ảnh, việc khai quật mang tính khảo cổ học, mảng hồi ức chuẩn xác và chi tiết, việc đắm mình vào những kẻ đê tiện hơn và bần tiện hơn và những mặt đáy thù hận hơn của bản tính con người, việc kể lại những bí mật huê tình, sự hoài niệm những nỗi đớn đau đã tan biến, và hân hoan trước sự tròn đầy và đa dạng nơi cuộc sống, khi tất cả những điều đó được hoà trộn cùng với nhau thì ta nên gọi cái kết hợp như thế là gì?

Alice và tôi là bạn của nhau từ năm 1969, khi tập truyện “Dance of the Happy Shades” của bà và tập thơ “The Circle Game” của tôi cùng được xuất bản, và tôi ngủ lại nhà bà trong một chuyến ghé thăm ở Victoria. Lúc đó nhiều cây bút Canada bắt đầu bằng truyện ngắn, bởi vì thật khó để xuất bản tiểu thuyết ở Canada vào những năm sáu mươi. Cả hai chúng tôi có được khởi đầu của mình thông qua chương trình phát thanh CBC của Robert Weaver, “Anthology”. Người Canada sẽ hào hứng đây, Alice sẽ choáng, và tất cả chúng tôi sẽ có tiệc một khi bà ta tự mình chui ra khỏi cái tủ áo choàng, có thể bà đã chạy vào núp trong đó. Continue reading

Roland Kelts – Haruki Murakami và nghệ thuật của các bản dịch Nhật ngữ

Roland Kelts

Haruki Murakami và nghệ thuật của các bản dịch Nhật ngữ

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Tháng Tư vừa rồi, Haruki Murakami xuất bản cuốn tiểu thuyết mới ở Nhật. Trước khi cuốn sách tới công chúng, thì nó đã phá kỉ lục doanh số đặt hàng trước trên Internet ở đất nước này, nhà xuất bản thông báo số bản in trước vào khoảng nửa triệu bản, và các nhà sách ở Tokyo mở cửa tới nửa đêm để đón chào những hàng người đến mua sách, một số người còn ngồi đọc sách ở những góc quán cà-phê gần đó ngay sau khi mua. Nhưng lúc này, cơn cuồng đó đã được nhìn thấy trước tại Nhật – gần như là một bản sao của sự kiện chào mừng cuốn tiểu thuyết trước đó của Murakami, “1Q84”, cách đây ba năm. Sự phản hồi này gần như không mang tính thời sự gì đối với bất kì ai. Có lẽ ngoại trừ Haruki Murakami.

“Chuyện tôi có thể trở thành một tiểu thuyết gia chuyên nghiệp, thậm chí tới giờ, thực là ngạc nhiên lớn đối với tôi”, Murakami viết thế trong một email ba ngày trước khi công bố cuốn “Tsukuru Tazaki vô vị và những năm tháng hành hương”. Ông bổ sung: “Thực ra, mỗi thứ và mọi thứ vốn xảy ra suốt hơn 34 năm vừa qua là một chuỗi những kinh ngạc tột độ”. Niềm kinh ngạc thực sự có lẽ là việc các tiểu thuyết của Murakami giờ đây còn kích động được mức độ cuồng nhiệt và háo hức tương tự thế ở bên ngoài nước Nhật, cho dù chúng được viết bằng ngôn ngữ được nói và đọc chỉ bởi một lượng người tương đối ít ỏi ngụ tại quần đảo nhỏ hẹp ở phía bắc Thái Bình Dương.

Murakami là nhà văn không chỉ được tìm thấy nơi các bản dịch (của hơn bốn mươi ngôn ngữ trong thời điểm hiện nay) nhưng còn là nhà văn tự phát hiện bản thân trong bản dịch. Ông viết những trang mở đầu của cuốn tiểu thuyết đầu tay, “Lắng nghe gió hát”, bằng tiếng Anh, rồi dịch những trang đó sang tiếng Nhật, ông cho biết, “chỉ để nghe chúng có âm thanh ra làm sao”. Và ông còn dịch vài nhà văn Mĩ khác sang tiếng Nhật, đáng chú ý nhất là Raymond Carver, John Irving, J. D. Salinger, và F. Scott Fitzgerald, người có tác phẩm “Gatsby vĩ đại” mà Murakami tin rằng chính là nguồn cảm hứng đằng sau toàn bộ sự nghiệp của ông.  Continue reading

Roxana Robinson – Các nhà văn có nên đốt thư từ của mình không?

 

Roxana Robinson

Các nhà văn có nên đốt thư từ của mình không?

Duy Đoàn chuyển ngữ

 

Tại sao khi tác giả nói rõ ra là họ không muốn công bố tác phẩm của mìnnh, thì ta lại đem công bố chúng? Những bức thư của Willa Cather không được cho ai xem kể từ cái chết của bà năm 1947. Bà có thể đang lăn lộn trong mộ phần của mình khi mà giờ đây người ta đã xuất bản cả tập thư từ dày cộm của bà. Nhưng bà không phải người đầu tiên bị người ta lờ đi mong muốn của mình: nó xảy đến với nhiều nhà văn, sớm muộn gì cũng vậy.

Người thừa kế của Ernest Hemingway quyết định xuất bản tác phẩm cuối đời của ông sau khi ông qua đời, quyển “Vườn Địa đàng”, mà bản thân Hemingway đã (khôn ngoan) không bao giờ xuất bản. Thư của Georgia O’Keefe gửi chồng, Alfred Stieglitz, cũng không ai biết, thậm chí đối với giới học giả, trong suốt hai mươi lăm năm sau cái chết của bà. Giờ đây thì chúng có trên mạng, và ai cũng có thể tiếp cận được bằng một cái máy tính xách tay và mười lăm phút thời giờ.

Có lẽ cách duy nhất nhà văn có thể ngăn cản chuyện này là làm như Somerset Maugham đã làm: ông đốt những bức thư của mình trong lò sưởi, làm thành một giàn thiêu gầm gừ khi đó người thư kí của ông đứng bên với vẻ khiếp hãi. Thư kí của ông đã giấu đi một số bức thư, cố giữ gìn chúng, nhưng Maugham bắt gặp được. Ông nói những thứ đó cũng phải đốt luôn, và người thư kí phải bỏ chúng vào ngọn lửa cùng với số thư còn lại. Những bức thư đó của Maugham chưa bao giờ và sẽ không bao giờ được xuất bản.

Cuốn tiểu thuyết tao nhã của Martha Cooley, cuốn “The Archivist” (Người lưu trữ văn thư), đã thăm dò về những vấn đề này – về quyền sở hữu và quyền riêng tư, và nhu cầu của học thuật. Bà xem xét mức độ quyết tâm có được (bất kì giá nào) của giới học giả, và những luận cứu họ đưa ra (theo lối mở rộng nhiều tầng, mưu mẹo khéo léo, đầy thuyết phục) nhằm có thể truy cập được vào những tài liệu hạn chế người xem này. Trong tác phẩm này, một vị học giả kiên định cố hết sức để có được kho trữ những lá thư của T. S. Eliot. Người lưu trữ văn thư nhận ra tính kiên định nơi học giả kia, thế là anh quyết định dời tài liệu ấy ra khỏi tầm tấn công của vị học giả ấy. Anh ta làm theo cách của Maugham, và tự mình đốt những văn bản kia. Đây có thể là cách duy nhất để có thể bảo vệ tài liệu khỏi vòng vây không ngớt của giới học giả. Continue reading

Ian Crouch – Các nhà văn có thật sự nghỉ hưu không?

 

Ian Crouch

Các nhà văn có thật sự nghỉ hưu không?

 

Phim tài liệu gần đây của hãng PBS “Philip Roth: Unmasked” (“Philip Roth: Phơi bày chân tướng”) đã bỏ tôm bắt tép, như người đời hay nói – thật vậy, khi không đề cập chút nào đến mẩu thông tin thích hợp nhất cho chủ đề phim: Philip Roth đã nghỉ hưu không còn viết lách nữa. Một trong những nhà làm phim, Livia Manera, lúc trao đổi với trang blog Word and Film của nhà Random House đã giải thích quyết định loại bỏ lí do chính yếu kia ra:

Thật lòng mà nói… các vị có biết nhiều cựu văn sĩ không? Đó là một hạng mục có tồn tại chăng? Nếu các vị muốn tôi nói ý kiến mình, thì tôi cho là ông ấy đã từ bỏ điều gì đó. Ông ta từ bỏ bổn phận viết lách và điều này là một bổn phận, rất mãnh liệt, của tự bản thân ông, một bổn phận trước nhất. Và điều này đã làm thay đổi cuộc đời ông và làm ông trở nên thoải mái hơn cũng như làm ông thấy cuộc đời dễ chịu hơn… Nhưng để ngưng cái cảm giác về bổn phận viết lách là một chuyện và để không bao giờ viết lại thêm dòng nào nữa là một chuyện khác. Chỉ là tôi không tin chuyện ấy.

Manera đặt rất đúng câu hỏi: Liệu tiểu thuyết gia có thể nghỉ hưu không? Liệu có tồn tại những tiểu thuyết gia đã nghỉ hưu rồi không, giống như chuyện nghỉ hưu của mấy người kế toán vậy? Điều này có vẻ bất thường,  một nhà văn nghỉ hưu không đụng tới từ ngữ thì trông lạ lùng y như người ta, theo như William H. Gass đã từng viết, “nghỉ hưu không màng tới tình yêu nữa”. (Trong khi đó, Gass cho ra cuốn tiểu thuyết mới. Ông tám mươi tám rồi.) Và mối hoài nghi của Manera dường như được chứng thực, mặc dù lời tuyên bố của Roth không phải là không có tiền lệ. Anne Tyle đã nói rằng cuốn tiểu thuyết thứ hai mươi trong đời của bà sẽ không xuất hiện – như gần đây bà nói với BBC, “Tôi nói rằng tôi muốn mình không phải hoàn tất một cuốn sách thêm lần nào nữa. Tôi bảy mươi mốt tuổi rồi, và trên lí thuyết thì tôi có thể cứ tiếp tục viết và viết, rồi khi tôi chết đi, nếu cuốn sách ổn thì nó có thể được xuất bản, còn nếu nó không ổn thì tôi sẽ chẳng bao giờ biết được.” Nhưng khi đó, nhận ra được những giới hạn trong mối lưu tâm của bà về chuyện gia đình vốn được bà dùng làm chủ đề sáng tác, Tyler lúc này thừa nhận là cuốn sách có thể sẽ được xuất bản khá sớm, hi vọng là vào lúc bà vẫn còn sống. Chuyện nghỉ hưu theo ý định của Tyler không phải việc ngưng viết, chính xác thì đó là chuyện ngưng xuất bản sách. Ngay cả J. D. Salinger, vốn nổi danh vì nghỉ hưu sớm, cũng được thiên hạ bảo là vẫn còn viết lách. Nhưng cách Tyler nói đến cuốn sách kế tiếp của bà trông có vẻ buồn rầu, do đó có lẽ nó sẽ là cuốn cuối cùng của bà: “Tôi bắt đầu thấy rằng rốt cuộc mình cũng sẽ hoàn thành cuốn tiểu thuyết này. Tôi trù tính, khoảng vài ba năm nữa – tôi cứ cố kéo dài nó ra càng lâu càng tốt.”

Tyler mô tả chuyện viết, như một việc trì hoãn ngày quyết định xuất bản, có chút ám ảnh với cái ngày định đoạt kia, ngày chung quyết. Viết lách, nghỉ hưu, cái chết: chúng nối kết nhau, và gần như nhà văn chỉ thật sự nghỉ hưu vào cái ngày họ lâm chung. Trong bài thơ “Writers Writing Dying”, C. K. Williams, nay đã bảy mươi sáu, đã đưa ra điều có thể là tín ngưỡng mang tính châm biếm dành cho các tác giả đang về già: “Think, write, write, think: just keep running faster and you won’t even notice / you’re dead” (“Nghĩ, viết, viết, nghĩ: cứ hãy chạy nhanh hơn nữa và bạn thậm chí không chú ý đến / bạn đã chết”). Rồi sau đó, ông viết: “Such fun to wake up though! Such fun too if you don’t! Keep dying! Keep / writing it down!” (“Dù vậy đó là niềm vui khi thức giấc! Cũng là niềm vui nếu không thức! Hãy cứ chết! Hãy cứ / viết ra điều đó!”)  Continue reading